Khảo cứu về Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh (1113) (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (119) 2013; tr. 23-39)
(Tạp chí Hán Nôm, số 4 (119) 2013; tr. 23-39)
KHẢO CỨU VỀ
TƯ LANG CHÂU SÙNG KHÁNH TỰ CHUNG MINH (1113)
ThS.PHẠM LÊ HUY
Đại học KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội.
TS. TRẦN QUANG ĐỨC
ViệnVăn học.
MỞ ĐẦU
Theo thống kê mới nhất của sách Văn bia thời Lý xuất bản năm 2010(1), hiện nay chúng ta còn lưu giữ được 18 văn bản tư liệu kim thạch văn thời Lý (bao gồm 13 văn bia, 3 mộ chí, 1 minh văn chuông, 1 minh văn bệ tượng Phật). Gần đây, tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm học 2012, chúng tôi đã giới thiệu thêm một tư liệu kim thạch văn có niên đại vào thời Lý chưa được đưa vào thống kê nêu trên. Đó là Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh - Bài minh trên quả chuông chùa Sùng Khánh 崇慶寺 thuộc châu Tư Lang 思琅州 (dưới đây viết tắt là SKTCM), có ghi niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 4 (1113) thời Lý Nhân Tông, được chép trong quyển 3 của sách Việt Tây kim thạch lược.
Trong quá trình khảo sát tư liệu sau đó, chúng tôi được biết năm 2007, một học giả Trung Quốc là Hoàng Quyền Tài 黄權才đã nhắc đến sự tồn tại của SKTCM trong bài viết Văn hóa Phật giáo Quảng Tây thời Đường Tống nhìn từ Việt Tây kim thạch lược 從《粤西金石略》看唐宋廣西佛教文化 trên Tạp chí Quảng Tây văn sử 廣西文史. Năm 2010, tại Hội thảo "Quá trình xây dựng đế quốc Minh - Thanh và những diễn biến xã hội bản địa của vùng Tây Nam Trung Quốc" 明清帝國的建構與中國西南土著社會的演變 tổ chức tại Đại học Trung Sơn (Quảng Tây), một học giả Trung Quốc khác là Đỗ Thụ Hải 杜樹海cũng đã đề cập đến SKTCM trong bài phát biểu Khởi nghĩa Nùng Trí Cao và những chuyển biến lịch sử của khu vực thượng du Tả Giang vùng biên cương Trung - Việt thời Bắc Tống北宋儂智高起事與中越邊境左江上游區域歴史的轉變. Ngoài Việt Tây kim thạch lược, Đỗ Thụ Hải còngiới thiệu thêm một tài liệu nữa cũng chép lại văn bản SKTCM là sách Lôi Bình huyện chí雷平縣志. Cũng theo Đỗ Thụ Hải, chuông vốn nằm tại một ngôi miếu ở trấn Lôi Bình, huyện Đại Tân大新縣(Sùng Tả, Quảng Tây), nhưng theo người dân sở tại, cả chuông và miếu đều đã bị phá hủy dưới thời Cách mạng Văn hóa.
Như vậy, Hoàng Quyền Tài và Đỗ Thụ Hải là những nhà nghiên cứu đầu tiên chú ý đến sự tồn tại của SKTCM. Tuy nhiên, do tập trung vào đối tượng nghiên cứu khác, bài viết của hai tác giả này chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu tư liệu một cách giản lược. Trong bài viết của mình, Đỗ Thụ Hải cũng đã đăng tải nội dung minh văn trên cơ sở đối chiếu sơ bộ giữa hai bản Việt Tây kim thạch lược và Lôi Bình huyện chí. Tuy nhiên, bản của Đỗ Thụ Hải có rất nhiều điểm chưa chính xác, cả về phần văn tự cũng như cách thức ngắt, chấm câu và vì vậy, cần được khảo hiệu kỹ lưỡng hơn. Do chưa tiếp cận được với các nguồn tư liệu của Việt Nam, bài viết của Đỗ Thụ Hải cũng hoàn toàn chưa đề cập, giải quyết được vấn đề vị trí gốc và quá trình lưu lạc của chuông.
Chính vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi sẽ tiến hành hiệu chú lại nội dung SKTCM dựa trên hai bản Việt Tây kim thạch lược và Lôi Bình huyện chí, đề xuất lại cách đọc cũng như cố gắng đưa ra một bản dịch tiếng Việt chuẩn xác. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng giới thiệu một số tư liệu Việt Nam về lai lịch của chuông, làm rõ vị trí của chùa Sùng Khánh thời Lý cũng như quá trình lưu lạc của chuông từ Việt Nam sang Trung Quốc.
1. KHẢO TẢ VÀ HIỆU CHÚ VĂN BẢN TƯ LANG CHÂU SÙNG KHÁNH TỰ CHUNG MINH
Do chuông đã bị phá hủy nên hiện nay, chúng ta chỉ có thể khảo tả và hiệu chú lại văn bản SKTCM qua ghi chép của hai cuốn sách Việt Tây kim thạch lược và Lôi Bình huyện chí. Việt Tây kim thạch lược 粤西金石略(15 quyển) nguyên là phần Kim thạch văn của bộ sách Quảng Tây thông chí (128 quyển) do học giả - nhà phương chí học nổi tiếng Trung Quốc đời Thanh là Tạ Khải Côn 謝啟昆 (1737-1802) chủ trì biên soạn. Trước khi hoàn thành Quảng Tây thông chí vào tháng 4 năm 1801, Tạ Khải Côn đã lấy riêng phần Kim thạch văn in trước thành sách và lấy tên là Việt Tây kim thạch lược. Lôi Bình huyện chí là bộ địa phương chí về huyện Lôi Bình do Lương Minh Lâm 梁明倫 biên soạn và được phát hành dưới dạng bản chép tay năm 1946 (Dân Quốc 35). Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng bản Việt Tây kim thạch lược in trong bộ Trung Quốc Tây Nam văn hiến tùng thư của Nxb. Đại học Lan Châu (dưới đây gọi tắt là Việt bản 越本)(2) và bản Lôi Bình huyện chí được in lại trong bộ Trung Quốc phương chí tùng thư do Nxb. Thành Văn (Đài Loan) ấn hành (dưới đây gọi tắt là Lôi bản 雷本)(3).
Trong quá trình khảo sát văn bản, chúng tôi nhận thấy giữa Việt bản và Lôi bản có nhiều điểm xuất nhập, dị biệt với nhau. Do tính chất của một bản chép tay, Lôi bản có nhiều chữ hoặc bị mờ, hoặc rất khó đọc. Trong khi đó, nếu Việt bản là một bản khắc in, không còn để lại bất cứ dấu vết gì về hình thức của văn bản gốc, Lôi bản lại có một ưu điểm là lưu lại khá nhiều đặc điểm về mặt hình thức của bài minh gốc. Đó là các đoạn khuyết tự 闕字 (bỏ trống một chữ để tỏ ý tôn kính, ví dụ trước các chữ "tiên hậu", "kim thượng", "đương kim hoàng đế"...) và một số chữ dị thể. Đây sẽ là những yếu tố quan trọng làm căn cứ để chúng ta khảo tả, hiệu chú lại văn bản một cách chính xác hơn. Trong bài viết này, chúng tôi chọn Việt bản là bản nền 底本 để tiến hành hiệu chú.
Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng tác giả bài minh đã trích dẫn khá nhiều nội dung của Tục Cao tăng truyện 續高僧傳, do sư Đạo Tuyên 道宣(596-667) soạn năm 645, và đặc biệt là Biện chính luận辯正論, do sư Pháp Lâm 法琳(572-640) soạn vào thời Đường. Đây là những tư liệu rất quan trọng giúp chúng ta có thể hiệu chính văn bản một cách chính xác. Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thêm về mặt tự dạng và cách viết của một số văn bia đương thời, tiêu biểu như Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh (1157).
a. Khảo tả chuông chùa Sùng Khánh
Theo Việt Tây kim thạch lược, chuông cao 4 thước 2 tấc (khoảng 134,4cm(4)), miệng rộng 3 thước 1 tấc (99,2cm). Bài minh trên chuông có thể tạm chia làm 4 phần. Phần tiêu đề có 8 chữ Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh tịnh tự思琅州崇慶寺鐘銘并序(viết theo thể chữ khải - chân, rộng 6 phân = 19,6mm). Trước đây, chúng tôi cho rằng "tịnh tự" là hai chữ mới thêm vào đời sau, tuy nhiên khi so sánh với bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (1118), Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh (1157) cũng có chữ "tịnh tự" trong phần tiêu đề, chúng tôi nhận định rằng "tịnh tự" vốn là hai chữ có trong minh văn gốc.
Phần mở đầu, có 87 chữ (chữ khải, 4 phân = 12,8mm), giới thiệu về việc Thứ sử châu Phú Lương, kiêm Tiết độ Quán sát sứ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang là Dương Cảnh Thông 楊景通cúng 7 nghìn cân đồng để đúc hồng chung.
Phần chính văn, có hơn 750 chữ (chữ khải, 6 phân), giới thiệu về dòng họ, lai lịch của Dương Cảnh Thông, việc Dương Cảnh Thông được lấy công chúa Thọ Dương cũng như mục đích của việc đúc chuông là cầu phúc cho "kim thượng" - "đương kim hoàng đế" (tức Lý Nhân Tông) và "Thánh Thiện Hoàng thái hậu" (Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan).
Tại phần chính văn, điểm đáng chú ý là trong Lôi bản có một đoạn ngắn với rất nhiều chỗ xuống dòng. Cụ thể, từ chữ "chú chung chủ" 鑄鐘主ở đầu đoạn thứ hai, sau 129 chữ thì xuống dòng đột ngột trước chữ "Tiên hậu" 先后, sau đó 39 chữ đến chữ "thượng" 尚 lại xuống dòng đột ngột, đầu dòng sau là chữ "Thọ Dương công chúa" 壽陽公主, sau 18 chữ lại xuống dòng đột ngột, đầu dòng sau là chữ "Kim thượng" 今上. Đối với những chỗ xuống dòng như vậy, chúng ta thường có xu hướng cho đó là phép bình xuất 平出(xuống dòng để thể hiện ý tôn kính). Tuy nhiên cũng trong Lôi bản, ở đoạn sau, trước chữ "đương kim hoàng đế" 當今皇帝 lại không thấy xuống dòng mà chỉ để khuyết tự. Hơn nữa, nếu tham khảo văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh hay Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự minh là các văn bia được biên soạn cùng thời, chúng ta cũng không quan sát được hiện tượng bình xuất mà chỉ có khuyết tự, ngay cả với hoàng đế. Do vậy, chúng tôi suy đoán rằng các vị trí xuống dòng ở Lôi bản không phải là yếu tố bình xuất, mà do vị trí khuyết tự tình cờ nằm ở cuối dòng, hoặc sát cuối dòng nên các chữ "Tiên hậu"... đã tình cờ được đưa xuống dòng dưới và được tác giả Lôi bản chép lại một cách chính xác. Nếu số chữ trên một dòng của minh văn là đồng nhất, chúng tôi đoán rằng con số đó là 10 chữ/dòng (10 là số cả 130, 40, 20 đều chia hết).
Cuối cùng là phần niên hiệu, tên người soạn minh văn, viết chữ (48 chữ). Theo phần cuối cùng, bài minh do Hộ bộ Viên ngoại lang sung Tập Hiền viện Học sĩ Tào Lương Phụ soạn(5), Thừa vụ lang Hiệu thư tỉnh Dương Văn Đĩnh viết chữ, Quảng Giáo Viên Minh tự Hồng Tán đại sư Thích Diên Thọ cho khắc vào ngày 15 tháng Giêng năm Hội Tường Đại Khánh thứ 4 (1113) thời Lý Nhân Tông.
b. Khảo hiệu văn bản
Nguyên văn:
思琅州崇慶寺鐘銘并序
撫(6)忠保節佐理功臣富良州剌史兼廣源思琅等州節度觀察使、金紫光祿大夫、檢校太傅、兼御史大夫、同中書門下平章□□□(7)𢎪(8)農郡開國公、食邑壹(9)萬戸、食實封(10)伍(11)千戸楊景通(12),特捨(13)精銅㭍阡餘觔(14),造洪(15)鐘一口,畱通(16)供養。
原夫洞達陰陽,貫暢𧍒蝡(17)。入(18)肌膚而藏骨髓,流血脈以蕩精神。庶尹允諧,萬彚咸化,不離妙本,動而常寂。莫大於聲(19),乾坤以震,冠乎六子;奮啟潛龍(20),聖人以樂,調乎四時。悅豫蚩蠢,雄(21)□以鐘,戒乎萬務,省覺邪僻。亘浹三千(22)之界23),宣該十二之和。顯爾(24)晦迹,含注(25)法運,孔有旨哉!
鑄鐘主附□郞(26)虢(27)國之所剙也。公戸屬太平之□,族本貴勢,舊(28)勳前烈,垂休(29)積慶。顯□兵部尙書,道駕郡(30)彥,威攝四陲。高祖(31)太傅輸忠慤謹,節操恭潔而生定□(32),諱日登,耿介方直,深謀遠慮,位至太保。太王父諱匡,宿修勝因,職終少傅。王父諱惠盈,文辭華麗,歴掌圖籍,述作淵(33)懿,勦絶阿黨而生三子。公居季少而姿彩奇偉,儀表丰(34)妍,伏遇■先后(35),雖有皇姬之崇重,禮當下嫁於便(36)藩,遂詔(37)公入覲,默中宸衷,俯膺眷顧,可作(38)東祖,涓晨(39)滌吉,禮尙■壽陽公主(40),顯承優渥。鄕閭欽美,族閈增輝,仍蒙■■今上(41)禮待殊異,薦(42)加榮秩。總轄陬陲,嘉謀碩畫,萬舉萬全,威怯朔塞,玉關靜柝,兵戎奠枕,□庶息肩,治定功成(43),務修勝果,內詳妙(44)理,外賁梵宮(45),思報四恩,默起𢎪願。乃於司凜山之間,周圍峭𡶖(46),繳遶嵐煙,氣爽物妍,源虛(47)景𡡾,蕰崇莽蔓(48),芟削荆榛,忖度延袤,倩賃班輸,治斲杞梓,定矣方中,精而擇向,凴危跨谷,接棟連霄,香閣禪龕,依巖架𡵒(49),花蘂(50)之芳掩被錦,丹靑之飾亂朝霞(51),玉題含翠,璧璫耀彩,丹櫨捧日,畫栱承雲(52),林開七境之花,池注八功之水(53),壹壹(54)靡侈,種種莊嚴,妙相金容,若如來在西天(55)儂先之踞東(56)朔。瞻思琅(57)之宇衙,便□氏(58)之護持(59),獲旦夕之敬禮,必彰梵醮(60),庸警輿迷,遂乃和將(61)泉布,散鬻辛□,速鳧氏(62)之運謀,稽陶冶(63)之彝範(64),飛廉敷揚,囘(65)祿威熾,庚物液轉以滾沸,商金踴躍而敻(66)流,均薄中規,侈弇合度,妙葩發其脣脗,雙(67)虯挐其頂巓,扛綽(68)寶樓,無庸𢤀隙,鯨魚啟擊(69),鍧然飛韻(70),洋溢(71)萬壑,亘浹六虛,窀穸淸凉,釼輪消弭,援拯塗炭,袪屏饕餮,傳於後裔,用至追蠡。儻非妙法焉如是哉!上祝■當今皇帝,蘿圖綿茂,■寶祚(72)恬昌,坤厚博臨,乾剛永運。次爲聖善皇太后(73),道邁握登,壽逾附寶。仍薦壽陽公主(74),寶花臺上,永證於菩提,善法堂中,同登於王覺。兼祝■■考妣(75)二親及諸眷等,沐此良緣,永超淨土(76)。欽禱鐘主太傳楊公洎令嗣郞□而降(77),𡨚辜消釋,戩榖駢臻。鐘成,宜製文以彰於後。僕自量孱瑣,不知所裁,輒敢銘曰:
寶坊䖍構已精蠲,法相金容極妙妍,梵韻(78)宣揚警大千,咸激沈潛仍幽淵,心勦形瘵皆忻然,憔悴㢮擔兼息肩,解脫面縛與倒懸,鑊湯熾爨消沸煎,鑄鐘之主福無邊,延齡千載守藩宣,
會祥大慶肆年正月拾伍日記
廣敎圓明寺洪讚大師釋延壽刋
丞務郞校書省臣楊文挺書
戸部員外郞充集賢院學士賜紫金魚袋臣曹良輔撰
Bản dịch:
Bài minh cùng lời tựa trên chuông chùa Sùng Khánh châu Tư Lang
Phủ trung bảo tiết, Tá lý công thần, Thứ sử châu Phú Lương kiêm Tiết độ quan sát sứ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Kim tử Vinh lộc Đại phu – Kiểm hiệu Thái phó kiêm Ngự sử Đại phu, Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương (sự) – […] Hoằng Nông quận Khai quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực phong năm nghìn hộ(79) Dương Cảnh Thông đặc biệt bỏ ra đồng tinh hơn bảy ngàn cân, tạo chuông lớn một quả, lưu lại cúng dường.
Vốn lẽ: thấu suốt âm dương, quán thông động tĩnh. Thấu thịt da đặng nương cốt tủy, len huyết mạch để dấy tinh thần. Trăm quan hài hòa, muôn loài hướng hóa, chẳng lìa gốc diệu, động thường lặng yên. Lớn thay thanh âm, càn khôn lấy Chấn đứng đầu lục tử(80); thức tỉnh mê man, thánh nhân dùng nhạc điều hòa tứ thời(81). Si ngốc mừng vui, tiếng chuông phấn chấn, răn đe muôn việc, khai ngộ ác tà. Gồm thâu mười hai khúc hòa(82), trải khắp ba ngàn thế giới(83). Sáng soi u tối, chứa đựng phép mầu. Thật tốt đẹp vậy!
Người chủ trương việc đúc chuông là Phò (mã) lang, người sáng lập nước Quắc(84)vậy. Nhà ông thuộc (châu) Thái Bình, vốn dòng quí hiển, tiên tổ có công, rủ lành tích thiện. Hiển (tổ) là Thượng thư Bộ Binh, đạo vượt quần anh, oai kinh tứ chiếng. Cao tổ chức Thái phó, son sắt cẩn mực, tiết tháo sạch trong, sinh ra Định (tổ), húy là Nhật Đăng: thẳng thắn chính trực, mưu tính sâu xa, làm đến Thái bảo. Thái vương phụ húy Khuông, tu tập nhân lành, chức rốt Thái phó. Vương phụ húy Huệ Doanh, văn từ hoa lệ, điển tịch nắm quyền, trước thuật uyên thâm, quét tan a đảng, sinh được ba con. Ông là con út, dáng vẻ kỳ vĩ, dung nghi rạng ngời. Hạnh ngộ tiên vương(85), tuy có hoàng nữ được yêu chuộng, lễ nên ban gả cho phiên thần, liền triệu ông vào chầu, ngầm hợp lòng trên, gia ơn quyến cố, đáng làm rể quý, chọn lựa ngày lành, làm lễ gả công chúa Thọ Dương, tỏ lòng biệt đãi. (Thế là) xóm làng ca ngợi, họ tộc vẻ vang, lại đội ơn đức kim thượng lễ đãi khác thường, gia phong phẩm trật. Giữ vùng quan ải, mưu lạ chước mầu, muôn việc vẹn toàn, oai rền biên tái. Ngọc quan giữ vững, binh hỏa lặng yên, dân chúng thảnh thơi, công thành trị định, chuộng tu quả phúc, trong thấu lẽ mầu, ngoài tô điện phật, nhớ đền bốn ơn, ngầm phát nguyện lớn.
Bèn ở khoảng núi Tư Lẫm, bốn bề chót vót, vây bọc khói lam, khí tốt vật tươi, nguồn thiêng cảnh đẹp, gom chất cỏ hoang, phạt quang gai góc, tính đo dài rộng, thuê mướn thợ lành, đẵn gỗ hạ cây, đặt nơi chính giữa, chọn tinh phương hướng, tựa vách băng khe, kèo cột liền trời, gác hương điện Bụt, bắc núi kề non. Hương nhị thắm lẫn sắc gấm phơi, nét đan thanh rối màu mây sớm. Đòn ngà ngậm biếc, ngói ngọc phô tươi, củng vẽ đội mây, đấu son nâng ác, rừng nở bông hoa thất giác, ao tuôn dòng nước bát công. Đẹp đẽ đủ bề, trang nghiêm mọi vẻ, mặt vàng tướng diệu, tựa Như Lai ở Tây Thiên, Nùng Tiên tựa Đông Sóc(86). Trông ra phủ thự Tư Lang, thuận tiện hộ trì trăm họ, lại được sớm chiều kính lễ, ắt gióng Phạn âm, cảnh tỉnh mê muội. Thế rồi các bậc quan triều, cùng góp tiền bạc, giục thợ chuông(87) tính toán, sai phường đúc(88) lên khuôn. Phi Liêm(89) quạt hơi, Hồi Lộc(90) thổi lửa. Chất đồng sục sôi tan chảy, ánh vàng nhảy nhót tuôn trào. Kích cỡ vừa tầm, nhỏ to đúng cỡ. Hoa diệu nở trên vành miệng, đôi rồng bám ở đỉnh đầu, treo chốn bảo lâu, mười phần vẹn vẽ, chày kình nện khẽ, gióng giả vang lừng, tràn ngập núi rừng, thấm nhuần trời đất, mộ phần se sắt, nghiệp chướng tiêu tan, cứu giúp lầm than, ngăn trừ tham bạo, truyền cho mai hậu, dùng đến hư mòn. Nếu chẳng phải phép mầu thì đâu được như vậy!
Nay kính chúc Đương kim Hoàng đế(91), cơ đồ bền vững, ngôi báu yên bình, ơn huệ rãi đều, oai quyền nắm mãi. Thứ đến chúc Thánh Thiện Hoàng thái hậu(92), đạo vượt Ốc Đăng(93), thọ hơn Phụ Bảo(94). Những mong công chúa Thọ Dương: trên đài hoa báu, mãi chứng quả bồ đề, trong điện pháp lành, cùng lên hàng vương giác. Kiêm chúc song thân khảo tỉ(95) cùng các quyến thuộc: gội duyên lành này, siêu sinh tịnh độ. Kính cầu cho ngài Thái phó họ Dương chủ xướng việc đúc chuông cho tới lệnh lang nối dõi trở xuống: oan khiên rũ sạch, phúc lộc dồi dào.
Chuông đã đúc xong, nên làm bài văn nêu cho mai hậu. Tôi tự xét mình kém cỏi, không rõ thể tài, dám xin làm lời minh rằng:
Chùa chiền xây cất đã xong xuôi, Pháp tướng kim dung đẹp tuyệt vời
Cảnh tỉnh chuông rền vọng khắp nơi, Thấm nhuần sâu rộng lẫn xa xôi
Thân tâm mỏi mệt thảy vui cười, Trút gánh lo toan đặng nghỉ ngơi
Xích xiềng trói buộc được buông lơi, Lửa vạc bùng bùng nấu sục sôi
Chủ chuông phúc hưởng mãi khôn vơi, Sống thọ ngàn năm giữ góc trời
Ngày 15 tháng Giêng năm thứ 4 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh (1113) chép
Hồng Tán đại sư Thích Diên Thọ chùa Quảng Giáo Viên Minh khắc
Thừa vụ lang hiệu thư sảnh - thần Dương Văn Đĩnh viết
Viên ngoại lang Bộ Hộ sung Học sĩ Viện Tập hiền - Tứ tử Kim Ngư đại - thần Tào Lương Phụ soạn
2. QUÁ TRÌNH LƯU LẠC CỦA CHUÔNG CHÙA SÙNG KHÁNH CHÂU TƯ LANG
2.1. Tư liệu và vấn đề đặt ra
Hiện nay, ở Trung Quốc và Việt Nam đều lưu giữ được một số tư liệu về quá trình lưu lạc của SKTCM.
Về phía Trung Quốc, như Việt Tây kim thạch lược cũng đã dẫn, theo Dũng tràng tiểu phẩm 湧幢小品 của Chu Quốc Trinh 朱國禎 (1558-1632) hay Xích nhã 赤雅 của Quảng Lộ 鄺露 (1602-1648), vào thời Minh, chuông được người dân thổ châu Thái Bình gọi là "phi lai chung", tương truyền bay từ đất châu Tư Lang của Giao Chỉ sang Quảng Tây. Khi trời tối, chuông bay xuống nước đánh nhau với rồng, đến khi trời sáng lại quay trở về chỗ cũ. Đến năm Kỉ Mão niên hiệu Chính Đức thời Minh (1519), chuông bị trộm cắt lấy phần núm treo chuông và phần vành miệng chuông, từ đó mới hết những chuyện kỳ quái(96). Sách Quảng Tây thông chí còn chép chuyện Thẩm Hi Nghĩa (1491 - 1554) 沈希儀 - viên tướng nhà Minh nổi tiếng với các cuộc trấn áp các dân tộc thiểu số ở Quảng Tây, từng sai Xá nhân Lưu Huân 劉勲đến xem chuông, định phá lấy đồng đúc vũ khí, nhưng Lưu Huân chưa đến gần được chuông đã bị vật chết(97).
Trong khi đó, ở Cao Bằng (Việt Nam), cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chúng ta cũng thấy lưu truyền một truyền thuyết tương tự, được ghi lại trong các sách Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC), Cao Bằng thực lục (CBTL), Cao Bằng sự tích (CBST)(98), Đồng Khánh địa dư chí (ĐKĐDC), Nam Việt dư địa chí (NVDĐC). Do giới hạn của bài viết, xin tóm tắt những điểm chung của các ghi chép đó như sau:
Ở chùa Viên Minh (riêng ĐNNTC và NVDĐC chép là chùa Sùng Phúc, chúng tôi sẽ bàn kỹ hơn ở phần sau) ở Cao Bằng có một quả chuông bằng đồng cao 4 thước 5 tấc. Một đêm, quả chuông ấy rơi xuống cái đầm bên cạnh chùa. Nhà sư ở chùa trông thấy có con giao long quấn quanh thân chuông, lúc chìm, lúc nổi, làm nước trong đầm sôi sục lên, nổi một lát lại trở về nguyên chỗ cũ, rồi đêm nào cũng thế... Sau vài ngày thì không thấy quả chuông đâu cả, mà đầm ấy cũng còn không bị giao long quấy nhiễu nữa. Nhân đấy gọi tên là "Đầm Chuông". Việc này xảy ra vào đời Lê Vĩnh Tộ. Đến đời Chính Hòa, có lái buôn người châu Thái Bình nước Thanh đến buôn ở Cao Bằng, nói chuyện: "Trước có quả chuông đồng từ sông Long Châu ngược dòng trôi đến Bắc Hà châu Thái Bình". Người địa phương liền đến nơi nhận kỹ, quả nhiên là chuông của địa phương mình.
Từ trước đến nay, những ghi chép kể trên trong thư tịch Việt Nam hầu như không được chú ý đến và bị coi là một dạng truyền thuyết không có căn cứ. Tuy nhiên, qua so sánh với ghi chép của các sách Trung Quốc mà chúng tôi đã dẫn ở phần trên, có thể khẳng định câu chuyện quả chuông mà các tài liệu Việt Nam nhắc đến chính là sự tích về chuông chùa Sùng Khánh - một quả chuông có thực đã lưu lạc sang đất châu Thái Bình (Quảng Tây) và còn tồn tại ở Trung Quốc cho đến tận trước Cách mạng Văn hóa. Đi sâu phân tích, có thể thấy rằng: mặc dù tồn tại rất nhiều điểm tương đồng, song giữa ghi chép trong các thư tịch của Việt Nam, cũng như giữa thư tịch của Việt Nam và thư tịch của Trung Quốc lại có một số điểm đại đồng tiểu dị như sau:
Thứ nhất, xung quanh việc chuông lưu lạc từ châu Tư Lang sang thổ châu Thái Bình, các thư tịch Việt Nam cho rằng quả chuông này xuôi theo sông Long Châu trôi từ Cao Bằng sang Thái Bình, trong khi người châu Thái Bình từ cuối thời Minh lại cho rằng chuông bay từ Cao Bằng sang ("phi lai chung").
Thứ hai, xung quanh chuyện chuông thần đánh nhau với "long" hoặc "giao long" (cá sấu), nếu như phía Trung Quốc miêu tả đây như một chi tiết minh chứng cho thần lực của chuông, các ghi chép của Việt Nam lại có xu hướng nhấn mạnh việc chuông đánh nhau với "giao long" là nhằm giúp người dân địa phương thoát khỏi họa giao long. CBTL còn đi sâu hơn khi miêu tả đó là việc đánh nhau giữa con bồ lao 蒲牢 (hoa kình花鯨) đúc trên thân chuông với loài giao long. Chi tiết này của CBTL chắc hẳn xuất phát từ truyền thuyết "long sinh cửu tử" 龍生九子tồn tại khá phổ biến ở cả Trung Quốc và Việt Nam(99).
Thứ ba, cũng liên quan đến tính linh thiêng của chuông, người dân hai nước Trung - Việt đều có những truyền thuyết về việc chuông đã hiện oai, trừng phạt những kẻ muốn phá chuông ra sao. Các chi tiết dị biệt ở đây nằm ở đối tượng bị trừng phạt: trong câu chuyện của Quảng Tây thông chí là Xá nhân Lưu Huân - tay chân của Thẩm Hy Nghĩa (một viên tướng có nhiều nợ máu với người Choang) định phá chuông lấy đồng đúc vũ khí thì bị chuông vật chết. Trong khi đó, trong câu chuyện của CBTL và ĐNNTC, đại diện cho thế lực muốn phá chuông là "quan châu Thái Bình". Cả hai tài liệu đều chép về việc "chuông kêu như sấm" khi quan châu Thái Bình định sai thợ phá chuông. Thậm chí, theo CBTL, "có người thợ xin (đốt chảy) thì mồ hôi từ chuông chảy ra như mưa, đột nhiên có tiếng kêu như sấm, đánh chết người thợ ấy"(100).
Như vậy, qua việc khảo sát tư liệu, có thể thấy trên phương diện nghiên cứu văn học - văn hóa dân gian, SKTCM là một trường hợp rất thú vị cho thấy rõ nét quá trình hình thành của một truyền thuyết. Xuất phát từ một vật thực (quả chuông), thông qua hoạt động đi lại, mậu dịch ở vùng biên (lái buôn Trung Quốc sang Việt Nam kể chuyện, người dân địa phương của Cao Bằng sang châu Thái Bình để tìm chuông), người dân hai phía biên giới Việt - Trung đã dần dần chia sẻ một câu chuyện truyền thuyết chung. Trên cái nền đó, cùng với thời gian, truyền thuyết lại được người dân của từng địa phương sửa đổi, sáng tạo cho phù hợp với tín ngưỡng, thực tế xã hội cũng như quan điểm chính trị của bản thân mình, và sau cùng được ghi chép lại dưới dạng văn bản và truyền lại cho đến ngày nay.
Trong khi đó, đứng từ góc độ nghiên cứu lịch sử, chúng ta có nhiệm vụ phải gạn lọc những yếu tố mang tính tâm linh, các sáng tạo mang tính văn học để làm rõ các yếu tố sử thực. Cụ thể là hai vấn đề: (1) SKTCM vốn ở đâu, hay nói cách khác, ngôi chùa Sùng Khánh thời Lý - nơi Dương Cảnh Thông cho đặt chuông - nằm ở đâu, (2) Chuông chùa Sùng Khánh đã lưu lạc sang đất thổ châu Thái Bình của Quảng Tây vào thời gian nào?
2.2. Vấn đề vị trí chùa Sùng Khánh thời Lý
Liên quan đến vấn đề thứ nhất, các sách CBTL, CBST và ĐKĐDC đều khẳng định một cách thống nhất: chuông vốn ở chùa Đà Quận, thuộc thôn Đà Quận, xã Xuân Lĩnh, châu Thạch Lâm đời Nguyễn, nằm đối diện với đền thờ Quan Triều - Hồng Liên công chúa. Sự khẳng định này có vẻ như hợp lý vì chùa Đà Quận còn có một tên gọi khác là "Viên Minh tự" 圓明寺. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Theo những tư liệu chúng ta còn lưu giữ được, chùa Viên Minh (Đà Quận) mới được xây dựng vào triều Mạc(101). Hơn nữa, mặc dù trên chuông chùa Sùng Khánh đúng là có chữ "Viên Minh tự", nhưng đó là chùa Quảng Giáo Viên Minh, là nơi tu hành của Thích Diên Thọ - nhà sư san định minh văn. Trong trường hợp này, chùa (Quảng Giáo) Viên Minh và chùa Sùng Khánh là hai ngôi chùa khác nhau vào thời Lý.
Trong bối cảnh như vậy, chúng ta cần chú ý rằng ĐNNTC và NVDĐC đặt truyền thuyết vào một ngôi chùa khác ở Cao Bằng là chùa Sùng Phúc崇福寺. Chùa Sùng Phúc vào thời Nguyễn thuộc xã Lệnh Cấm, huyện Hạ Lang, nhưng theo ĐNNTC và NVDĐC, chùa Sùng Phúc "nguyên tên là chùa Sùng Khánh [PLH nhấn mạnh], dựng trên đỉnh núi Pò Kiền輔(捕)乾山"(102). Không chỉ có sự trùng hợp về tên gọi "Sùng Khánh tự", ĐNNTC còn cho biết, sau khi người địa phương sang châu Thái Bình xác minh chuông đúng là chuông chùa, vào "đời Cảnh Hưng, dời chùa đến chỗ hiện nay [tức xã Lệnh Cấm] và đổi tên là chùa Sùng Phúc, sai soạn văn bia lược thuật việc này, bia ấy nay vẫn còn"(103). Tấm bia mà ĐNNTC nhắc đến chính là tấm bia có niên hiệu năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782) hiện vẫn còn trong khuôn viên của chùa, ghi lại sự tích như sau: "Trên đỉnh núi Pò Kiền có ngôi chùa Sùng Khánh vô cùng anh linh... Phỏng theo sự tích để lại, chùa có hai quả chuông vàng ngự tọa, sau đó dời đi châu Thái Bình"(104).
Như vậy, chúng ta thấy rằng tư liệu sớm nhất nhắc đến vị trí SKTCM là tấm bia có niên đại 1782 hiện còn tại chùa Sùng Phúc. Căn cứ vào sự trùng khớp tên gọi "Sùng Khánh tự" (tên gốc của chùa Sùng Phúc) và ghi chép của ĐNNTC, chúng tôi cho rằng vị trí nguyên gốc của chuông SKTCM, hay nói cách khác là vị trí của chùa Sùng Khánh do Dương Cảnh Thông xây dựng vào thời Lý là núi Pò Kiền, phía sau làng Nà Ến (xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, Cao Bằng ngày nay). Nếu giả thuyết này là đúng, chúng ta cũng xác định được núi Pò Kiền (Cao Bằng) chính là địa danh núi Tư Lẫm nổi tiếng trong lịch sử.
Một khi cho rằng SKTCM nằm tại chùa Sùng Khánh, chúng ta cũng phải giải quyết vấn đề tại sao các tài liệu như CBTL, CBST và ĐKĐDC đều nhầm lẫn sang chùa Đà Quận (chùa Viên Minh). Chúng tôi cho rằng sau khi được phát hiện tại Quảng Tây, do trên thân chuông có chữ "(Quảng Giáo) Viên Minh tự" nên người của chùa Viên Minh đã nhầm lẫn cho rằng đây là chuông của chùa Viên Minh(105).
2.3. Thời điểm chuông lưu lạc sang đất Trung Quốc
Khi tổ chức biên soạn Việt Tây kim thạch lược, Tạ Khải Côn đưa ra giả thuyết chuông đã được cướp về vùng nội địa Trung Quốc khi thổ quan của các châu An Bình, Tư Lăng của nhà Minh đánh nhau với thổ quan châu Tư Lang của An Nam dưới niên hiệu Chính Thống thời Minh (1436 - 1449), tức là vào giữa thế kỷ XV. Trong khi đó, như đã dẫn ở phần trước, các nguồn tài liệu Trung Quốc như Dũng tràng tiểu phẩm và Xích nhã có nhắc đến các sự kiện diễn ra tại Trung Quốc vào các năm 1519 (chuông bị cắt mất quai), sự kiện Thẩm Hi Nghĩa (đầu thế kỷ XVI). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đó hoàn toàn có thể là những chuyện được thêm thắt vào đời sau. Chúng ta chỉ có thể khẳng định chuông đã lưu lạc sang Trung Quốc, trước thời điểm các tác giả Chu Quốc Trinh soạn xong sách Dũng tràng tiểu phẩm, hoặc Quảng Lộ soạn xong sách Xích nhã. Hiện nay, chúng ta không biết thời điểm chính xác biên soạn của Xích nhã, nhưng chắc chắn nó phải được hoàn thành trước khi Quảng Lộ qua đời, năm 1648. Trong khi đó, chắc chắn Dũng tràng tiểu phẩm đã được Chu Quốc Trinh hoàn thành về cơ bản vào năm 1621 (Thiên Khải nguyên niên), sau đó có thể được bổ sung cho đến khi Chu Quốc Trinh chết năm 1632.
Mặt khác, các nguồn tư liệu của Việt Nam lại ghi chép khá thống nhất về việc chuông đã bị mất dưới niên hiệu Vĩnh Tộ đời Lê (1619-1628), riêngCBTL khẳng định là vào năm Giáp Tý (1624).
Trong điều kiện tư liệu hiện nay, chúng tôi cho rằng, có khả năng chuông đã lưu lạc sang Trung Quốc vào đầu thế kỷ XVII, có thể vào năm 1624 (Lê Vĩnh Tộ thứ 6), muộn nhất cũng trước năm 1632.
3. GIÁ TRỊ CỦA SKTCM TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ THỜI LÝ
Theo SKTCM, người tổ chức đúc chuông (chung chủ) là "Phủ trung bảo tiết, Tá lí công thần Phú Lương châu thứ sử, kiêm Quảng Nguyên, Tư Lang đẳng châu Tiết độ Quan sát sứ, Kim tử quang lộc đại phu, Kiểm hiệu Thái phó, kiêm Ngự sử đại phu, đồng Trung thư Môn hạ Bình chương (thiếu 3 chữ, có lẽ chữ đầu là "sự") Hoằng Nông quận, Khai quốc công, thực ấp nhất vạn hộ, thực thực phong ngũ thiên hộ Dương Cảnh Thông".
Về nhân vật Dương Cảnh Thông, theo Đại Việt sử lược(ĐVSL) và Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), tháng 5 (mùa hè) năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8 (1117), Dương Cảnh Thông khi đó là "Lạng châu mục" (ĐVSL) - "phò mã lang" (ĐVSKTT) đã dâng hươu trắng lên Lý Nhân Tông, sau đó được phong làm Thái bảo(106).Qua ghi chép của ĐVSKTT, chúng ta biết trước năm 1117, Dương Cảnh Thông đã cưới một công chúa nhà Lý, nhưng không rõ là công chúa nào. Ngoài ra, theo Tục tư trị thông giám trường biên, tháng Giêng năm 1086 (Tống Nguyên Hựu nguyên niên), vua Tống sai Quảng Tây Kinh lược ty gửi công văn cho vua Lý, chất vấn về việc Tri châu Quảng Nguyên của nhà Lý là Dương Cảnh Thông sai bọn Đàm An đánh sang đất Tống cướp biên dân(107). Ngoài ra, Dương Cảnh Thông còn bắt tay với thủ lĩnh Nhâm động là Nùng Thuận Thanh, can thiệp vào việc tranh giành quyền quản hạt Nhâm động giữa Nùng Thuận Thanh và Lương Hiền Trí(108).
Như vậy, ghi chép trong chính sử về Dương Cảnh Thông là hết sức sơ lược. Tuy nhiên, khi soạn Việt giám thông khảo tổng luận vào thế kỷ XV, Lê Tung (tên thực là Dương Bản Bao) lại có một đánh giá rất đáng chú ý: "Còn những bậc như Đào Cam Mộc, Đào Thạc Phụ, Lương Nhậm Văn, Đào Xử Trung, Lý Đạo Kỷ, Liêu Gia Trinh, Kim Anh Kiệt, Tào Lương Hàn, Dương Cảnh Thông, Nguỵ Trọng Hoằng, Lưu Vũ Nễ, Lý Công Bình, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Kính Tu, không biết can vua để nêu tục tốt, cho nên chính trị không được bằng đời cổ là phải"(109). Có lẽ khi soạn phần tổng luận trên cơ sở sách Việt giám thông khảo của Vũ Quỳnh, Lê Tung đã có trong tay một số tài liệu về thời Lý vẫn còn lưu giữ được vào thế kỷ XV để đánh giá về vai trò của Dương Cảnh Thông, cũng như Tào Lương Hàn (Phụ), một trong những trọng thần của thời Lý.
Trong điều kiện tư liệu như vậy, bài minh chuông chùa Sùng Khánh đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá về dòng họ Dương cũng như cá nhân Dương Cảnh Thông. Theo bài minh, Dương Cảnh Thông xuất thân trong một dòng họ có thế lực. Hiển tổ từng làm đến chức Thượng thư Bộ Binh, cao tổ làm đến chức Thái phó, kị tên húy là Nhật Đăng từng làm đến chức Thái bảo, ông nội (thái vương phụ 太王父) húy là Khuông 匡 làm đến chức Thiếu phó, cha (vương phụ 王父) húy là Huệ Doanh 惠盈 là người có tài văn chương. Dương Cảnh Thông tuy là con út (quí thiếu 季少) trong 3 anh em nhưng có dáng vẻ và phong thái kì vĩ, là người có tài nên được mời về kinh, cưới công chúa Thọ Dương. Thông tin này phù hợp với ghi chép Dương Cảnh Thông làm “Phò mã lang” của ĐVSKTT.
Minh văn cũng giúp khẳng định rõ hơn vai trò rất quan trọng của Dương Cảnh Thông trong hoạt động bảo vệ, ổn định khu vực biên giới phía Bắc. Theo nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn, năm 1079, sau nhiều lần đàm phán, nhà Tống đã trao trả cho Đại Việt “bốn châu một huyện” đã bị Quách Quì chiếm trong cuộc chiến tranh Tống - Lý. Đó là các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Môn, Tô Mậu và huyện Quang Lang. Người được giao làm “Tri Quảng Nguyên châu” chính là Dương Cảnh Thông. Sự kiện Dương Cảnh Thông bắt tay với thủ lĩnh Nùng Thuận Thanh và cho bọn Đàm An đánh sang Quảng Tây năm 1086 trước đây đã được Hoàng Xuân Hãn đánh giá làhành động nằm trong chính sách quấy nhiễu biên giới của nhà Lý để buộc nhà Tống phải tiếp tụchoàn trả hai động Vật Dương, Vật Ác(110). Vai trò này của Dương Cảnh Thông, theo SKTCM, vẫn được duy trì đến năm 1113 với chức vụ Tiết độ Quan sát sứ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang. Đến khoảng năm 1124, vai trò này được chuyển giao cho một người họ Dương khác là Dương Tự Hưng. Theo ĐVSKTT, năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5 (1124), thủ lĩnh châu Quảng Nguyên là Dương Tự Hưng dâng “hươu trắng” lên nhà Lý(111).
Việc tìm thấy SKTCM cũng là một cứ liệu để chúng ta xem xét lại các giả thuyết về xuất thân của Phò mã Dương Tự Minh楊嗣明. Dương Tự Minh là thủ lĩnh châu Phú Lương, được gả công chúa Diên Bình 延平公主năm 1127, là người có công rất lớn trong việc chiêu tập dân phiêu tán ở các vùng biên giới như châu Quảng Nguyên năm 1142 - 1143, cũng như trấn áp cuộc nổi loạn của Đàm Hữu Lượng譚友諒tại châu Tư Lang năm 1145. Hiện nay, tồn tại hai giả thuyết khác nhau về xuất thân của Dương Tự Minh. Một cho rằng Dương Tự Minh vốn xuất thân là nhà nghèo, một cho rằng Dương Tự Minh vốn xuất thân trong một gia đình thủ lĩnh có thế lực ở châu Phú Lương. Việc tìm thấy bài minh chuông chùa Sùng Khánh cho thấy nhiều khả năng Dương Tự Minh có liên quan đến Dương Cảnh Thông, Dương Tự Hưngcũng như dòng họ Dương tại châu Phú Lương.
Một điểm đáng chú ý khác là sự xuất hiện của địa danh "Hoằng Nông quận" trên bài minh. Năm 1977, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Văn Hoàn đã tìm thấy văn bia "Sùng Khánh tự bi minh tịnh tự" có niên đại 1367 (Đại Trị thứ 10) tại thôn Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang(112). Mặc dù không nhắc gì đến sự tồn tại của chùa Sùng Khánh vào thời Lý, nhưng văn bia này lại cho biết ngôi chùa này trước được xây dựng tại "Phú Linh trường, Thông giang, Hoằng Nông hương". Nếu hương Hoằng Nông thời Trần cũng là một phần của quận Hoằng Nông thời Lý thì quận Hoằng Nông thời Lý là một khu vực khá rộng, trải dài từ huyện Hạ Lang (Cao Bằng) đến huyện Vị Xuyên (Hà Giang).
Ngoài ra, trên bài minh còn có đoạn: "chủ chuông (Dương Cảnh Thông) là người sáng lập nên Quắc quốc" 鑄鐘主附□郞虢國之所剙也. Vào thời Tây Hán, tại Trung Quốc đã xuất hiện địa danh "Hoằng Nông quận", được lập năm 113 trên địa bàn tương đương với khu vực Đông Bắc thành phố Linh Bảo, Tam Môn Hiệp của tỉnh Hà Nam. Đến năm 583 đầu thời Tùy, quận Hoằng Nông lại được đổi tên thành "Quắc châu". "Hoằng Nông quận" hay "Quắc châu" cũng được cho là nơi phát tích của họ Dương(113). Như vậy, phải chăng tác giả bài minh muốn liên hệ địa danh "Hoằng Nông" tại khu vực Hà Giang - Cao Bằng với "Hoằng Nông" của Trung Quốc, và do đó sử dụng chữ "Quắc quốc" để so sánh với "Quắc châu". Bên cạnh đó, việc sử dụng chữ "quốc" cho thấy tác giả bài minh cũng muốn so sánh vùng biên cương này như một tiểu quốc nằm trong trật tự sách phong - triều cống kiểu Việt Nam của nhà Lý.
KẾT LUẬN
Trong bài viết này, chúng tôi đã tiến hành những khảo cứu cơ bản về Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh, bài minh trên quả chuông chùa Sùng Khánh thuộc châu Tư Lang có niên đại 1113 thời Lý Nhân Tông. Ngoài công việc hiệu hợp, chú thích và đưa ra bản dịch, chúng tôi cũng đã tập hợp các tư liệu của Trung Quốc và Việt Nam, từ đó xác định vị trí gốc của chuông là chùa Sùng Khánh do Phò mã Dương Cảnh Thông xây dựng, nằm trên núi Pò Kiền (thuộc mạch núi Tư Lẫm,xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng hiện nay). Trong điều kiện tư liệu hiện tại, chúng tôi cho rằng chuông đã lưu lạc sang thổ châu Thái Bình (Quảng Tây, Trung Quốc) vào đầu thế kỷ XVII, có thể vào năm Giáp Tý 1621, hoặc muộn nhất là năm 1632. Minh văn chuông chùa Sùng Khánh không chỉ là một tư liệu lịch sử rất quý giá, giúp chúng ta có thêm những hiểu biết về tình hình lịch sử, chính trị, ngoại giao dưới thời Lý, mà còn là một tư liệu rất hiếm có để nghiên cứu về quá trình hình thành của văn học, tín ngưỡng dân gian trong bối cảnh giao lưu, đi lại của người dân sống hai bên biên giới Việt - Trung trong chiều dài lịch sử.
101Hiện nay, tại chùa Đà Quận vẫn đang lưu giữ hai quả chuông, một có niên đại vào năm Kiền Thống thứ 19 (1611) thời Mạc. Xin xem thêm Cung Văn Lược, Chu Quang Trứ, Văn chuông chùa Đà Quận - Viên Minh tự, một tư liệu quí về nhà Mạc ở Cao Bằng, Tạp chí Hán Nôm, 11(18)-1994.
Tải về nội dung chi tiết tại đây: pdf_2290.pdf