Khảo sát và giới thiệu các bản dịch Nôm thơ Đường trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (79); Tr.44-50)
KHẢO SÁT VÀ GIỚI THIỆU CÁC BẢN DỊCH NÔM THƠ ĐƯỜNG TRONG KHO SÁCH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
ThS. NGUYỄN XUÂN DIỆN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1. MỞ ĐẦU
Qua các tập thơ Đường đã xuất bản bằng tiếng Việt trước đây, chúng ta từng biết đến các bản dịch thơ Đường của các dịch giả như: Phan Huy Vịnh, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Công Trứ, Trương Minh Ký, Nguyễn Khuyến(1)... Các bản dịch này được lưu hành trong giới nho sĩ (có thể dưới hình thức truyền khẩu trong các ca quán) hẳn là được thể hiện bằng chữ Nôm, cho dù các nhà làm tuyển tập đời sau đều không ghi rõ lấy từ bản Nôm nào, hoặc văn bản đang lưu trữ ở đâu. Bên cạnh đó, chúng ta còn được biết các câu thơ, ý thơ Đường đã được chuyển dịch rất khéo léo và trở thành thi liệu cho các tác phẩm của các nhà thơ Việt Nam như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hoặc các tác phẩm ngâm khúc, các truyện thơ Nôm, hoặc hát nói của rất nhiều tác gia văn học trung đại. Ngoài ra, các bản dịch thơ Đường ra quốc ngữ của các tác gia cận đại, hiện đại như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Á Nam Trần Tuấn Khải, Tùng Vân, Trần Trọng Kim, Phạm Mạnh Danh, Doãn Kế Thiện, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng, Ngân Giang, Nhượng Tống, Tương Như, Hoàng Tạo, Phan Ngọc, Nguyễn Hà, Ngô Văn Phú, Lê Nguyễn Lưu, Vũ Minh Tân(2) cũng đã góp phần làm phong phú cho đời sống văn học nước nhà. Tất cả những bản dịch này đã có một đời sống riêng trong lịch sử văn học Việt Nam.
Song chúng ta còn ít biết trong lịch sử đã từng có các tuyển tập thơ Đường, được dịch sang chữ Nôm, hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bài viết này là khảo sát đầu tiên về vấn đề này, với hy vọng là sẽ góp thêm cứ liệu cho việc nghiên cứu so sánh giữa văn học Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại và nhất là về quá trình tiếp nhận văn học nước ngoài ở Việt Nam.
2. MIÊU TẢ VĂN BẢN CÁC TUYỂN TẬP
Các tuyển tập dịch Nôm thơ Đường mà chúng tôi thống kê dưới đây đều đang lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
1. Đường thi quốc âm 唐詩国音(AB.172); sách viết tay, 26 trang, khổ 31x12cm. Chữ viết rõ ràng. Sách có hai phần; phần đầu là bản dịch Nôm sang thể lục bát 54 bài thơ Đường thất ngôn tứ tuyệt (từ trang 1a đến trang 13b); phần sau là cách thức thực hiện các nghi thức của một cuộc giáng bút (từ trang 13b đến hết).
Phần dịch thơ được trình bày: tên bài thơ trong nguyên bản, tác giả rồi đến bản dịch (không dịch tên bài thơ). Không ghi tên dịch giả.
2. Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn 唐詩七绝演歌附杂文(AB.333); sách viết tay, 96 trang, khổ 29x16cm. Chữ viết rõ ràng. Phần dịch Nôm sang thể lục bát 37 bài thơ Đường thất ngôn tứ tuyệt (từ trang 1a đến trang 14b).
Phần dịch thơ được trình bày: tên bài thơ trong nguyên bản, tác giả rồi đến bản dịch (không dịch tên bài thơ). Không ghi tên dịch giả.
3. Đường thi trích dịch 唐詩摘譯(VNv.156); sách viết tay, 60 trang, khổ 25x16cm. Văn bản được viết trên giấy mới, chữ viết rõ ràng với thư pháp đẹp. Phần dịch thơ gồm 94 bài, được trình bày: nguyên tác chữ Hán, tên tác giả, tên bài được dịch sang tiếng Việt, bài dịch. Không ghi tên dịch giả.
4. Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm 唐詩合选五言律解音(AB.194); sách viết tay, đóng chung trong tập thơ Vị thành giai cú tập biên dày 410 trang, khổ 29x20cm. Tài liệu ghi rõ “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm bát thập tam thủ; Vị Thành Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập”.
Phần dịch thơ gồm 81 bài được trình bày từ trang 29a đến trang 60a: tên bài thơ, tác giả, nguyên tác chữ Hán, bài dịch (không dịch tên bài).
5. Đường thi tuyệt cú diễn ca 唐詩绝句演歌(A.2814); sách viết tay, đóng chung trong tập Du Hương Tích động ký, dày 66 trang, khổ 29x16cm.
Phần dịch thơ gồm 54 bài, được trình bày từ trang 21a đến trang 33b: tên bài, tên tác giả, bản dịch (không dịch tên bài). Các bài thơ trong nguyên tác đều là thơ tuyệt cú. Sách ghi tên dịch giả là Đông Sơn cư sĩ, nhưng hiện chưa rõ lai lịch. Nhận thấy 54 bài dịch ở bản này trùng hợp với bản Đường thi quốc âm (AB.172), chỉ khác nhau một số chữ.
6. Túy hậu nhàn ngâm tập 醉後閑吟集(A.1776); sách viết tay, 70 trang, khổ 31,5x21,2cm. Chép bản dịch Cổ thi, Sở từ, Đường thi do Dương Lâm dịch. Đường thi có 12 bài. Chữ viết rõ ràng. Phần dịch thơ được trình bày từ trang 6a đến trang 9a: nguyên tác chữ Hán bài thơ (không ghi tác giả nguyên tác), bài dịch.
3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ MỘT VÀI NHẬN XÉT
3.1. Về tác giả và tác phẩm Đường thi được dịch:
Chúng ta có 6 tập thơ dịch Nôm thơ Đường, chép 332 bài thơ. Trong số này, có 54 bài trùng giữa hai bản (quyển số 1 và 5 trong danh sách trên) thành ra có thể nói chỉ có 278 bài dịch từ 223 bài thơ Đường của 86 tác giả nguyên tác (không kể đến 9 bài hiện chưa rõ tác giả nguyên tác).
Dưới đây là các tác giả thơ Đường có số bài được dịch:
·Lý Bạch: 28 bài, Đỗ Phủ: 26 bài, Vương Duy: 18 bài, Vương Xương Linh: 9 bài, Mạnh Hạo Nhiên: 8 bài, Sầm Tham: 6 bài, Đỗ Thẩm Ngôn: 5 bài.
·Vương Bột, Lưu Vũ Tích: mỗi tác giả có 4 bài.
·Tổ Vịnh, Tống Chi Vấn, Tư Không Thự, Vi Ứng Vật: mỗi tác giả có 3 bài.
·Bạch Cư Dị, Cao Thích, Đỗ Mục, Giả Chí, Giả Đảo, Hạ Tri Chương, Lạc Tân Vương, Lưu Trường Khanh, Lý Đoan, Lý Ích, Lý Thương Ẩn, Nguyên Chẩn, Thẩm Thuyên Kỳ, Thôi Lỗ, Thường Kiến, Trần Tử Ngang, Trịnh Cốc, Trương Trọng Tố, Trương Vi, Vương Chi Hoán, Vương Tích: mỗi tác giả có 2 bài.
·Bùi Độ, Dương Quýnh, Dương Sỹ Ngạc, Hàn Ác, Hàn Dũ, Hàn Hủ, Hoàng Phủ Nhiễm, Hứa Hồn, Hoàng Phủ Thăng, Khâu Vi, Kim Xương Tự, Lâu Dĩnh, Lệnh Hồ Sở, Liễu Tông Nguyên, Lư Chiếu Lân, Lưu Đình Kỳ, Lý Kỳ, Lý Quần Ngọc, Lý Xương Phù, Mạnh Giao, Nhạc Vị, Ôn Đình Quân, Quyền Đức Hưng, Tạ Diểu, Tái Kính Trung, Tảo Khởi, Thôi Đạo Dung, Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Thôi Huệ Đồng, Thôi Mẫn Đồng, Thôi Quốc Phụ, Tiền Khởi, Tiết Oánh, Tiết Tắc, Triệu Hỗ, Trừ Quang Hy, Trương Cửu Linh, Trương Duyệt, Trương Hựu, Trương Kế, Trương Kính Trung, Trương Quân, Trương Thuyết, Trương Tịch, Tư Mã Lễ, Vu Lương Sử, Vương Hàn, Vương Kiến, Vương Loan: mỗi tác giả 1 bài.
·Có 9 bài chưa xác định được tác giả nguyên tác.
Các bài thơ Đường được dịch có tần số như sau:
·Các bài có 3 bản dịch: Biệt Đổng Đại - Cao Thích, Tống Lý Thị lang phó Thường Châu - Giả Chí, Thanh Bình điệu - Lý Bạch, Tảo phát Bạch Đế thành - Lý Bạch, Văn Bạch Lạc Thiên tả giáng Giang Châu Tư Mã - Nguyên Chẩn, Phùng nhập kinh sứ - Sầm Tham, Tống Lương Lục - Trương Duyệt, Lương Châu từ - Vương Hàn, Khuê oán - Vương Xương Linh. Tổng số 9 bài.
·Các bài có 2 bản dịch: Bạc Tần Hoài - Đỗ Mục, Tặng Hoa Khanh - Đỗ Phủ, Đăng lâu - Dương Sĩ Ngạc, Độ Tang Càn - Giả Đảo, Tây Thi thạch - Lâu Dĩnh, Đổng Tước đài - Lưu Đình Kỳ, Thạch Đầu thành - Lưu Vũ Tích, Ô Y hạng - Lưu Vũ Tích, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Lý Bạch, Tô đài lãm cổ - Lý Bạch, Xuân dạ Lạc thành văn địch - Lý Bạch, Cung oán - Lý Ích, Dạ thượng Thụ Hàng thành văn địch - Lý Ích, Dạ vũ ký thác - Lý Thương Ẩn, Dương liễu chi - Ôn Đình Quân, Giang lâu thư hoài - Triệu Hỗ, Hoài thượng biệt hữu nhân - Trịnh Cốc, Vũ lâm linh - Trương Hựu, Biên từ - Trương Kính Trung, Hán Uyển thành - Trương Trọng Tố, Thục trung cửu nhật - Vương Bột, Cửu nguyệt Cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ - Vương Duy, Tổng Nguyên Nhị sứ An Tây - Vương Duy, Thập ngũ dạ vọng nguyệt - Vương Kiến, Điện tiền khúc - Vương Xương Linh, Tây cung xuân oán - Vương Xương Linh, Tây cung thu oán - Vương Xương Linh, Trường tín thu từ - Vương Xương Linh, Tòng quân hành -Vương Xương Linh, Phù Dung lâu tống Tân Tiệm - Vương Xương Linh, Lư Khê biệt nhân -Vương Xương Linh. Tổng số 31 bài.
·Số còn lại, mỗi bài có một bản dịch.
Một số nhận xét
Tác giả thơ Đường được dịch nhiều nhất trong số 86 tác giả được dịch vẫn là Lý Bạch: 28 bài, Đỗ Phủ: 26 bài, Vương Duy: 18 bài, Vương Xương Linh: 9 bài, Mạnh Hạo Nhiên: 8 bài, Sầm Tham: 6 bài, Đỗ Thẩm Ngôn: 5 bài, Vương Bột: 4 bài, Lưu Vũ Tích: 4 bài.
Trong số các tác giả thơ Đường được dịch kể trên, Tú Xương dịch 19 bài của Đỗ Phủ, 13 bài của Lý Bạch, 6 bài của Mạnh Hạo Nhiên, 5 bài của Vương Duy, 5 bài của Đỗ Thẩm Ngôn. Và Đông Sơn cư sĩ dịch 8 bài của Vương Xương Linh, 5 bài của Lý Bạch, 3 bài của Sầm Tham. Dịch giả khuyết danh trong Đường thi trích dịch (VNv.156) dịch 13 bài của Vương Duy, 11 bài của Lý Bạch, 3 bài của Sầm Tham. Dịch giả khuyết danh trong Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn (AB.333) dịch 8 bài của Vương Xương Linh, 5 bài của Lý Bạch.
Các tác phẩm được dịch nhiều, không có bài nào có tới 4 bản dịch. Nhiều nhất là một bài có 3 bản dịch, và loại này có 9 bài của các tác giả Cao Thích, Giả Chí, Lý Bạch (2 bài), Nguyên Chẩn, Sầm Tham, Trương Duyệt, Vương Hàn, Vương Xương Linh. Sau đó là bài có 2 bản dịch, và loại này có 31 bài của các tác giả: Đỗ Mục, Đỗ Phủ, Dương Sĩ Ngạc, Giả Đảo, Lâu Dĩnh, Lưu Đình Kỳ, Lưu Vũ Tích (2 bài), Lý Bạch (3 bài), Lý Ích (2 bài), Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân, Triệu Hỗ, Trịnh Cốc, Trương Hựu, Trương Kính Trung, Trương Trọng Tố, Vương Bột, Vương Duy (2 bài), Vương Kiến, Vương Xương Linh (7 bài). Những bài thơ Đường được nhiều người chọn dịch đều là những bài thơ quen thuộc với những ai yêu thơ Đường và đều là những bài thơ hay.
3.2. Dịch giả:
Trong 6 tập thơ Đường được dịch tìm thấy trong kho sách Hán Nôm, chúng ta biết có 3 tác giả có tên. Đó là Tú Xương (Trần Tế Xương)(3), Dương Lâm(4) và Đông Sơn cư sĩ. Riêng với Đông Sơn cư sĩ, chúng tôi chưa rõ tiểu sử(5). Ở 3 tác giả mà chúng ta biết tên, Tú Xương dịch nhiều nhất, với 81 bài, chiếm 29.1% trong tổng số 278 bài; Dương Lâm dịch 12 bài, chiếm 4.3% và Đông Sơn cư sĩ dịch 54 bài, chiếm 19.4%. Ngoài những người dịch mà chúng ta biết tên nêu trên, số bài của người dịch khuyết danh có đến 131 bài, chiếm 47.1% tổng số 278 bài.
Lâu nay, chúng ta biết Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một dịch giả có nhiều bản dịch thơ Đường nhất trong suốt thời trung đại và cận đại. Trong cuốn Thơ Đường, do ông dịch, được Nguyễn Quảng Tuân tập hợp, có 84 bài dịch thơ Đường(6).
Trong lần khảo sát này, chúng tôi phát hiện nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Xương cũng là một dịch giả có số lượng bài dịch là 81 bài, trong đó có 71 bài được dịch ra thể thơ thất ngôn bát cú, 10 bài dịch ra thể ngũ ngôn cổ phong, với một phong cách rất riêng của ông. Bút pháp trào lộng, hóm hỉnh của Tú Xương trong phong cách thơ ông xuất hiện cả trong những bài thơ dịch, tạo nên nét riêng rất đáng chú ý. Về từ ngữ, ông đã sử dụng cả những từ vốn được ông dùng trong thơ sáng tác để dùng trong bản dịch, khiến cho tác phẩm dịch của ông như một sáng tạo mới. Đó là nét đặc sắc của Tú Xương trong thơ dịch. Điều này sẽ góp phần khẳng định chân dung một dịch giả trong văn học Việt Nam. Và vị trí của ông, với tư cách là một dịch giả cần được khẳng định.
3.3. Về thể thơ chuyển dịch:
Trong văn học trung đại, các nhà Nho đều sáng tác thơ Đường luật, đều am hiểu về thơ Đường và cổ văn Trung Quốc, song việc dịch tiếng Việt và thưởng thức Đường thi qua bản dịch vẫn là một nhu cầu của họ. Việc dịch Đường thi là một dịp để họ thể hiện khả năng chuyển dịch tác phẩm từ nguyên tác sang ngôn ngữ dân tộc.
Trong các thể thơ chuyển dịch, thì thể lục bát là một thể được ưa chuộng nhất, với 102 bài, chiếm 36.7% trên tổng số 278 bài đã thu được. Thể ngũ ngôn cổ phong có 75 bài, chiếm 27%; thơ thất ngôn tứ tuyệt có 29 bài chiếm 10.4%; thể thất ngôn bát cú có 71 bài chiếm 25.5%. Riêng thể song thất lục bát chỉ có 1 bài (trường hợp Dương Lâm dịch bài Tiết phụ ngâm của Trương Tịch).
4. KẾT LUẬN
·Trong quá khứ, Việt Nam là một nước sử dụng chữ Hán. Chế độ khoa cử chữ Hán xưa đã đào tạo một đội ngũ các nhà trí thức (kể cả không đỗ đạt; ra làm quan hay chỉ dạy học) thạo về văn chương, trong đó có thơ phú. Văn xuôi và thơ chữ Hán đều không cần phải dịch, bởi công chúng là trí thức đều đọc được mà không có rào cản về ngôn ngữ. Việc dịch văn học không phải là xuất phát từ nhu cầu giới thiệu, truyền bá tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam. Dịch thơ Đường cũng vậy. Các nhà Nho dịch thơ Đường để mình hoặc bạn bè thưởng thức trong lúc “trà dư tửu hậu”. Do vậy tiêu chuẩn “tín - đạt - nhã” cũng không đặt ra như một bắt buộc.
·Các hình thức dịch Nôm như diễn âm, giải âm, diễn ca, diễn nghĩa các tác phẩm chữ Hán cũng chỉ nhằm chủ yếu cho 2 đối tượng là người còn đang đi học (học các tác phẩm kinh điển qua bản diễn Nôm) và tầng lớp bình dân (diễn Nôm các tích truyện, hoặc kinh Phật, diễn ca các bài thuốc). Các hình thức này cũng không nhất thiết phải tuân thủ tiêu chuẩn “tín - đạt - nhã”; tùy theo từng loại văn bản mà việc chuyển nghĩa có sự linh hoạt không giống nhau.
·278 bài thơ Đường được khảo sát và giới thiệu lần này góp phần khẳng định thể thơ lục bát trong việc diễn đạt tâm tư tình cảm của người Việt và là một thể thơ được ưu tiên lựa chọn để chuyển dịch các tác phẩm văn học nước ngoài. Việc tiếp nhận văn học ở đây được diễn ra một cách tự nhiên nhất, và phản ảnh được một thú chơi tinh thần tao nhã của văn nhân xưa, trong việc di dưỡng tính tình, thông qua việc chuyển ngữ những tác phẩm văn học của Trung Hoa sang ngôn ngữ Tiếng Việt.
·Với việc dịch thơ Đường, Tú Xương đã đóng góp vào lịch sử văn học Việt Nam như một dịch giả có phong cách độc đáo, đưa được những từ ngữ đời thường đầy hóm hỉnh vào bản dịch một cách nhuần nhuyễn, tạo nên một bản dịch hoàn toàn có thể có một đời sống độc lập bên cạnh nguyên tác.
Hy vọng chúng tôi sẽ sớm có dịp được gửi đến bạn đọc bản phiên âm các bản Nôm, để những bạn đọc yêu chuộng Đường thi thưởng thức và phẩm bình thêm những bản dịch Đường thi của người xưa.
Chú thích:
(1) Thơ Đường. 2 tập, Nxb. Văn học. H. 1987.
(2) Xin xem danh mục tài liệu tham khảo trong bài viết này.
(3) Tú Xương, tên thật là Trần Tế Xương (sau đi thi đổi là Trần Cao Xương), tự Tử Thịnh, sinh năm 1870 mất năm 1907. Ông người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng Việt Nam. “Về phương diện nghệ thuật, Tú Xương là một nhà thơ có những cống hiến quan trọng. Lần đầu trong lịch sử văn học, ông đã từ bỏ những hình thức ước lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm trong khi phản ánh cuộc sống của nghệ thuật phong kiến, đã cố gắng phản ánh cuộc sống bằng hình thức của chính cuộc sống, phong phú, đa dạng, phức tạp. Tú Xương cũng là nhà thơ đã đi sâu được vào ngôn ngữ hàng ngày, nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả vẻ đẹp của nó. Ông đã thành công cả trong nghệ thuật trữ tình lẫn trong nghệ thuật trào phúng, nổi bật hơn là nghệ thuật trào phúng”. (Nguyễn Lộc; Từ điển Văn học, Bộ mới. Nxb. Thế giới, H. 2004, tr.1804).
(4) Dương Lâm, tự Vân Hồ, Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu Quất Đình, Quất Tẩu, người làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Ứng Hòa, Hà Tây. Sinh năm 1851 mất năm 1920. Ông là nhà thơ, từng là Chủ bút báo Đại Nam Đồng văn nhật báo, và giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, hàm Thượng thư. Dương Lâm còn là một nhà giáo có tài và có tâm huyết đối với nền giáo dục nước nhà.
(5) Đông Sơn cư sĩ: Hiện chưa rõ tiểu sử.
(6) Thơ Đường. Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, Nxb. Trẻ và Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh, 1989, 251 tr.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Tài liệu chữ Hán
1. Đường thi quốc âm (AB.172). Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN).
2. Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn (AB.333). Thư viện VNCHN.
3. Đường thi trích dịch (VNv.156). Thư viện VNCHN.
4. Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm (AB.194). Thư viện VNCHN.
5. Đường thi tuyệt cú diễn ca (A.2814). Thư viện VNCHN.
6. Túy hậu nhàn ngâm tập (A.1776). Thư viện VNCHN.
7. Đường thi tam bách thủ tân dịch .Bắc Kinh xuất bản xã, 1993. 581 tr.
8. Toàn Đường thi. Trung Hoa thư cục. Bắc Kinh, 1999. 15 quyển.
9. Toàn Đường thi. Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 2003, 25 quyển.
Tài liệu tiếng Việt
1. Thơ Đường. Tập I, Nxb. Văn học, H. 1987, 344 tr.
2. Thơ Đường. Tập II, Nxb. Văn học, H. 1987, 371 tr.
3. Đường thi. Ngô Tất Tố dịch, In lần thứ hai, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 184 tr.
4. Đường thi. Trần Trọng Kim dịch, Nxb. Hội Nhà văn, H. 2003, 487 tr.
5. Đường thi. Trường Xuân Phạm Liễu dịch, Nxb. Văn khoa, Sài Gòn, 1972, 207 tr.
6. Thơ Đường. Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, Nxb. Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Tp. Hồ Chí Minh, 1989, 251 tr.
7. Thơ Đường. Trần Trọng San dịch, Quyển 1, Nxb. Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1972, 207 tr.
8. Thơ Đường. Trần Trọng San dịch. ĐH Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 1990, 366 tr.
9. Đường thi tuyển dịch. Lê Nguyễn Lưu dịch, 2 tập, Nxb.Thuận Hóa, 1997, 1844 tr.
10. Đường thi tứ tuyệt. Vũ Minh Tân tuyển dịch, Nxb. Thế giới, H. 2006, 343 tr.
11. Thơ nghìn nhà. Nguyễn Hà tuyển dịch, Nxb. Văn hóa, H. 1994.
1.2 Thiên gia thi toàn tập. Ngô Văn Phú biên soạn, dịch và giới thiệu, Nxb. Hội Nhà văn, H. 1998, 413 tr. Thơ Đường ở Việt Nam. Ngô Văn Phú biên soạn, tuyển chọn, Nxb. Hội Nhà văn, H. 2001, 634 tr.
13. Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử: Về thi pháp thơ Đường, Nxb. Đà Nẵng, 1997, 510 tr.
14. Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường. Cao Hữu Công - Mai Tổ Lân, Nxb. Văn học. H. 2000, 341 tr.
15. Từ điển Văn học. Bộ mới. Nxb. Thế giới, H. 2006, 1804 tr.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (79) 2006; Tr.44-50)