Khảo về các chữ Nôm ghi tiếng "một" và tiếng "ấy" (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (76) 2006; Tr.33-382)
KHẢO VỀ CÁC CHỮ NÔM GHI TIẾNG “MỘT” VÀ TIẾNG “ẤY”
NGUYỄN QUANG HỒNG
GS.TSKH. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1. Để ghi tiếng Một
Trong các văn bản Nôm cổ từ cuối thời Lê trở về trước, tiếng Nôm một thường được viết bằng chữ Hán “miệt” 蔑, là theo cách mượn chữ mượn âm (đọc chệch âm Hán Việt) mà không mượn nghĩa. Trong các bản Thi kinh giải âm (Vĩnh Thịnh, 1714), Truyền kỳ mạn lục giải âm (Vĩnh Thịnh, 1714 và các bản in cùng hệ ván khắc), Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục (Cảnh Hưng, 1752) v.v. cách viết tiếng Nôm một bằng chữ Hán “miệt” 蔑 là hoàn toàn nhất quán, không có ngoại lệ. Bài Xuất gia sa di quốc âm thập giới khắc in lần đầu năm Bảo Thái 7 (1726) nhà Lê đến năm Cảnh Thịnh (1798) thời Tây Sơn khắc in lại cũng nhất quán dùng chữ “miệt” 蔑. Sang đầu nhà Nguyễn, trong bài Kính phụng Táo quân diễn ca khắc ván năm Gia Long 16 (1817), có 9 tiếng một đều ghi bằng chữ "miệt" 蔑. Ngay cả đến thời Tự Đức nguyên niên (1848) cũng có sách như Tây phương công cứ tiết yếu diễn âm vẫn chỉ dùng chữ “miệt” 蔑 cho tiếng một mà thôi. Theo khảo sát của Đinh Khắc Thuân [4] thì trên các thác bản văn bia thời Lê chữ “miệt” 蔑 ghi một xuất hiện sớm nhất là vào năm 1657. Tuy nhiên, từ trước đó hơn chục năm, cùng với chữ "miệt" 蔑 người ta cũng đã dùng chữ "một" 没 để ghi tiếng một. Chứng cứ là trong văn bản Nôm viết tay Các Thánh truyện do Linh mục Jeronimo Maiorica chủ trì biên soạn, hoàn thành vào năm Phúc Thái 4 (1646) đời vua Lê Chân Tông, có dùng cả hai chữ này, mặc dù chữ "một" 没 ít xuất hiện hơn. Chẳng hạn trong truyện đầu tiên có tiêu đề là Mồng Một: Đặt tên Đức Chúa Chi Thu (Jésu) có 7 lần viết "miệt" 蔑 và 2 lần viết "một" 没 cho tiếng một.
Các văn bản Nôm từ giữa thời nhà Nguyễn về sau thì tình hình viết tiếng một khá là phức tạp. Các bản in Truyện Kiều theo ván khắc của Liễu Văn đường (LVĐ/1866, 1871, v.v.) đã nhất quán chỉ dùng chữ Hán “một” 没 theo cách mượn âm Hán Việt để đọc thẳng thành âm Nôm một. Còn ở bản in theo ván khắc Duy Minh Thị (DMT/1872) thì không hề dùng chữ “một” 没 nguyên dạng như vậy, mà đã chuyển sang cách viết chữ này theo kiểu lược bớt bộ “thủy”: 殳 hoặc
(có ít nhất 259 lần), là cách viết càng về sau càng dùng phổ biến trong các tác phẩm Nôm, và mặt chữ cũng có biến dạng ít nhiều: 殳 hoặc
đúng nửa chữ 没), 艾 (giống chữ Hán “ngải”), v.v. Thế nhưng trong khi đó thì bản Kiều Duy Minh Thị lại còn kế thừa cách viết cũ bằng chữ “miệt” 蔑 cả thảy 9 lần (3 lần ở tr.2a đầu truyện, 1 lần ở tr.18b, 1 lần ở tr.67a, 1 lần ở tr.69a và 3 lần ở tr.78a).
Đối chiếu như vậy về hình thể khác nhau của tiếng Nôm một trong mấy bản Kiều nêu trên cho phép chúng ta nhận định rằng: cứ liệu này có thể góp phần xác định văn bản Truyện Kiều do Duy Minh Thị cho khắc ván (1872) có nhiều khả năng là kế thừa từ một văn bản cổ hơn so với văn bản đã được Liễu Văn đường kế thừa để in Truyện Kiều (1866 và các năm sau). Điều này có lẽ phù hợp với nhận xét của GS. Nguyễn Tài Cẩn [1] là chữ “miệt” 蔑 ghi một là chữ khá cổ, và “bản DMT/1872 đã trùng san lại cho chúng ta một bản Kiều thuộc các thế hệ rất cổ và rất hiếm” [tr.54, tr.400]. Tuy nhiên đây chỉ là một nhận xét nhỏ về hình thể chữ Nôm (chứ chưa xem xét về từ ngữ hay câu thơ), chưa đủ để tin rằng bản Duy Minh Thị là "gần" với nguyên tác của Nguyễn Du hơn so với các bản của Liễu Văn đường.
Vài năm sau đó, sách Lục Vân Tiên truyện (bản Duy Minh Thị, 1874) của Nguyễn Đình Chiểu là tác giả thời Nguyễn mà khắc in cũng thời ấy thì không thấy một chữ “miệt” 蔑 nào nữa mà chỉ có dạng đầy đủ và dạng tắt của chữ “một” 没 là 殳 và
cho tiếng Nôm một mà thôi. Điều này càng cho thấy “miệt” 蔑 đọc một không phải là sản phẩm của thời ấy, thời Nguyễn Đình Chiểu, mà thực sự là vết tích của thời trước để lại.
Những tác phẩm Nôm có niên đại sớm mà được chép lại hoặc khắc in lại vào thời sau này thì có thể là giữ nguyên theo cách viết cũ, nhưng phần lớn đều có tình trạng chuyển sang cách viết mới, nhưng cũng lưu lại ít nhiều những chữ Nôm viết theo dạng cổ:
-Sử thi Thiên Nam ngữ lục, tác phẩm Nôm cuối thế kỷ XVII, được chép lại vào đầu thế kỷ XVIII thời Nguyễn Gia Long, tất cả các tiếng một trong đó đều dùng chữ “miệt” 蔑 để ghi.
-Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (bản Dương Bá Cung, 1868) giữ lại chữ “miệt” 蔑 khá triệt để (113 lần) và chỉ duy nhất 1 lần là dùng chữ một theo dạng “một” viết tắt (Bui có một lòng trung lẫn hiếu [tr.25b]).
-Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa có thể ra đời từ rất sớm, đến khi cho khắc in lại (1761) thì hầu hết các tiếng một cũng dùng chữ “miệt” 蔑, duy chỉ một vài lần ở cuối sách có dùng chữ “một” 没 (Thủy hạnh: rau muống lênh đênh một bè [tr.68a]; Du long: rau đắng (?) một ao [tr.68b]).
-Về mặt ngôn ngữ thì có thể nói bản giải âm Phật thuyết phản ánh tiếng Việt khá cổ (có thể là thời Lý - Trần), nhưng về dạng chữ Nôm được dùng trong đó thì lại khá phức tạp, xen lẫn nhiều dạng cũ và dạng mới, mà dạng mới có phần chiếm ưu thế hơn: đối với tiếng một thậm chí không giữ lại một lần nào viết theo chữ Hán “miệt” 蔑, mà chỉ toàn viết “một” 没 hoặc .
-Các bài văn Nôm đời Trần trong sách Thiền tông bản hạnh bản in khắc ván năm Cảnh Hưng 6 (1745) tiếng một có khi được ghi bằng chữ “miệt” 蔑 (như: một cắt một mài trong bài Cư trần lạc đạo phú), có khi được ghi bằng chữ “một” 没 (như: cà một chậu tương một hũ trong bài Vịnh Hoa Yên tự phú), đến năm Bảo Đại 7 (1932) khắc ván in lại thì hầu như tất cả (có ít nhất 8 lần) các chữ “miệt” 蔑 đều đổi sang ghi bằng chữ “một” 没 [2] [4].
Như vậy có thể thấy rằng: không loại trừ khả năng ngay từ đầu người xưa đã tùy ý dùng hai chữ "miệt" 蔑 và "một" 没 để ghi tiếng một, nhưng từ thời Tự Đức về trước, để ghi tiếng một người xưa thường dùng chữ “miệt” 蔑 hơn. Chỉ từ thời Tự Đức về sau, thì chữ “một” 没 mới dần thay thế chữ “miệt” 蔑, và sau đó không lâu liền xuất hiện dạng chữ “một” viết tắt là 殳 hoặc
. Rõ ràng là các cụ ngày xưa đã xuất phát từ chữ “một” 没 (chứ không phải chữ “miệt” 蔑), rồi giảm bớt thành tố và cải biến nét bút để cuối cùng đi đến hình thể chữ một 殳 hoặc .
2. Để ghi tiếng Ấy
Diễn biến của cách ghi tiếng Nôm ấy qua các văn bản theo trình tự thời gian trên đại thể giống như cách ghi tiếng Nôm một đã trình bày ở trên. Có thể thấy rằng hầu hết các văn bản đã triệt để dùng chữ Hán “miệt” 蔑 để ghi một thì chính những văn bản ấy cũng triệt để dùng chữ Hán “ý” 意 để ghi ấy: Các sách Thi kinh giải âm, Truyền kỳ mạn lục giải âm, Cổ Châu lục, Xuất gia sa di, Kính phụng Táo quân..., đều nhất quán ghi như vậy cả.
Nếu như với “miệt” 蔑 không thấy trường hợp nào dùng thêm dấu “nháy” hay chữ “cá”, thì với chữ “ý” 意 có thể bắt gặp vài trường hợp dùng chữ “ý” 意 gia thêm một chữ “cá” 个 để báo hiệu đọc chệch thành ấy
, chủ yếu là để phân biệt với chữ “ý” 意 hiểu theo nghĩa thực sự của nó. Chẳng hạn:
-Trong 4 quyển Truyền kỳ mạn lục giải âm có ít nhất 490 chữ “ý” 意 đọc Nôm là ấy, chỉ có 4 lần ấy được ghi bằng
(“ý” 意 + “cá” 个?): Hai nhà ấy khí tượng tập tục thảy cả chẳng đồng [I/15b]; Ai khả vừa ý ấy, phó mặc gió xuân đun đẩy [I/42b]; Người đời chẳng biết ý ấy bèn rằng thực vậy [II/73b]; Ngươi Phan đã về, đến nhà ngươi Trương nói ý ấy [IV/12a].
-Trong Thi kinh giải âm ít nhất cũng có 1 lần ấy được ghi bằng
để phân biệt với “ý” 意: Ấy ta lấy ý vua cả can sửa chưng mày [VIII/52a].
Trong văn bản Thi kinh diễn nghĩa thời Minh Mạng 8 (1837), ngoài chữ “ý” 意,
, còn có cả chữ Nôm hình thanh “thử” 此 (trên) + “ý” 意 (dưới) để ghi ấy (như: Dùng lời ấy làm lời ca [III/4a]).
Nhìn chung, từ thời Tự Đức về trước có thể tìm thấy những văn bản Nôm chuyên dùng chữ “ý” 意 để ghi ấy tiếng Việt. Đến như sách Hoa tiên nhuận chính (1875), mặc dù tiếng Nôm một chủ yếu đã chuyển sang viết là
(chỉ còn vài ba lần viết là “miệt” 蔑 hoặc “một” 没), mà ấy vẫn chỉ dùng chữ “ý” 意 để ghi.
Thế nhưng ngay từ giữa thế kỷ XVII, như văn bản viết tay Các Thánh truyện (hoàn thành năm 1646) phản ánh, ngoài chữ "ý" 意 ra, để ghi tiếng ấy người ta đã dùng khá phổ biến mã chữ
hoặc
Cũng chính những văn bản từ thời Tự Đức đã có xu hướng giảm dần cách dùng chữ “ý” 意, mà ngày càng phổ biến cách ghi tiếng ấy bằng chữ
hoặc
(đôi khi viết gần giống chữ Hán “thị” 氏 nhưng xét cả về âm và nghĩa thì chẳng có gì liên quan với chữ Hán này).
Trong Truyện Kiều bản Duy Minh Thị (1872) có 34 lần dùng “ý” 意 và 12 lần dùng
để ghi tiếng Nôm ấy. Trong khi đó thì Truyện Kiều bản Liễu Văn đường (1871) dùng
(8 lần) hoặc
(37 lần) và duy nhất 1 lần dùng chữ “ý” 意 (Rày xem thử đã cam lòng ấy chưa [48a]) để ghi các tiếng ấy. Sự chênh lệch về số lần dùng “ý” 意 để ghi ấy trong hai văn bản Truyện Kiều LVĐ (1871) và DMT (1872) cùng với chứng cứ về chữ “miệt” 蔑 hay chữ “một” 没 để ghi một như đã trình bày ở trên một lần nữa cho thấy văn bản mà Duy Minh Thị dùng là kế thừa từ một văn bản còn lưu dấu tích hình chữ cổ hơn là văn bản mà nhà Liễu Văn đường đã dùng.
Tuy nhiên cũng nên lưu ý đến một thực tế khác, là mãi về sau này, chữ “ý” 意 vẫn tiếp tục được dùng ở một số tác phẩm Nôm. Lục Vân Tiên truyện bản Duy Minh Thị (1874) tuy đã không còn dùng “miệt” 蔑 mà chỉ có “một” 没 và
cho một, trong khi có tất cả 30 lần tiếng ấy xuất hiện đều được ghi bằng chữ “ý” 意. Sách Phù dung tân truyện ván khắc Phúc Văn đường thời Tự Đức (1879) vẫn dùng “ý” 意 để ghi ấy, mặc dù tất cả tiếng một đều không dùng “miệt” 蔑 mà đã dùng chữ “một”
cả rồi. Như vậy, mặc dù cùng có xu hướng ngày càng chuyển sang cách viết đơn giản hơn cho một và ấy, song có thể thấy là chữ “ý” 意 dành cho ấy đã “sống lâu” hơn là chữ “miệt” 蔑 dành cho một.
Trong các văn bản của những tác phẩm cổ (thời Lê về trước) được sao chép hoặc khắc ván in về sau này thì có khi là triệt để dùng chữ “ý” 意 để ghi ấy như mấy bài phú thời Trần trong sách Thiền tông bản hạnh với cả hai bản in theo hai lần khắc ván khác nhau: Cảnh Hưng 6 (1745) và Bảo Đại 7 (1932), nhưng nhiều khi xen lẫn cả cách ghi cũ và cách ghi mới. Chẳng hạn:
-Sách Phật thuyết có lưu lại chữ “ý” 意 5 lần (Td: Thâm thị tội nhân, thập phân thống thiết: Cực ấy tội nhân, mười phần thương xót [43a]), ghi bằng
3 lần (Vô tỉ bất tư nghị, thị cố kim kính lễ: Chăng thửa bì, chăng thửa lo lường [2a]. Như Lai ngũ lễ đầu địa, lễ bái khô cốt: Bụt mỗ lạy năm thây đến đất, tạ lễ xương khô ấy [7a]. Ngã thiên sinh vạn tử, thụ như thị khổ: Tôi là ngàn phen sống muôn phen chết, chịu khổ dường ấy [30a]), còn lại 38 lần đều ghi bằng
(Td: Nhất thiết pháp thường trú, thị cố ngã quy y: ắt nhiều phép hằng đỗ, ấy vậy mỗ giáp kính lễ [2b]).
-Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi hầu hết (46 lần) dùng chữ “ý” 意 (Td: Ngàn đầu cam quýt ấy là tôi [8a]), nhưng điều thú vị là còn có 2 lần dùng chữ “ỷ” 倚 để đọc ấy: Cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ [16a]; Anh em trách lóc ấy khôn từ [60a].
-Tương tự như vậy, Thiên Nam ngữ lục, ngoài chữ “ý” 意 ra, cũng có lần dùng chữ “ỷ” 倚 để đọc ấy: Dân oán trời, ấy cũng sầu. Quý Ly lòng chẳng chút nào ra nhân [120b].
-Sách Chỉ nam ngọc âm, hầu hết dùng “ý” 意 , nhưng có một lần ấy được ghi bằng cách ghép chữ “cá” 个 đặt trên (bớt một nét sổ) + chữ “y” 衣 đặt dưới: Giường cả có hiệu hồ sàng. Bản sàng phản ấy cũng dường giống nhau [38a].
Như vậy là, trong các tác phẩm Nôm cổ, ngoài “ý” 意 ra đã có một số chữ khác dùng để ghi tiếng ấy. Những chữ này ngoài âm đọc gần với “ý” 意 ra, còn hình thể thì chẳng có gì liên quan với chữ “ý” cả. Tiếp tục truy tìm các chữ Nôm ghi tiếng ấy trong một số tác phẩm Nôm khác, chúng tôi bắt gặp thêm một trường hợp như sau: Trong bài Ngũ canh phú, bản in khắc ván (AB.61) chỉ có một lần duy nhất dùng đến tiếng ấy, ghi bằng chữ “y” 衣: Nàng Thúy Kiều so bạn gái kém chi ai. Sắc có một tài kia chửa dễ mấy. Kiếp trước đã tội tình chi ấy. Trời xanh đưa đun đủi má hồng [3b]. Điều thú vị là ở đây chỉ đơn giản là chữ “y” 衣, không phải kèm bộ “nhân” như trong chữ “y” 依, cũng không phải gia thêm chữ “cá” 个.
Dường như cho tới nay, chưa có học giả nào thử phác vạch con đường dẫn đến hình chữ
hoặc
để ghi tiếng ấy trong văn Nôm. Thì giờ đây, với tất cả những cứ liệu như đã trình bày ở trên, con đường đó đã mở ra trước mắt chúng ta: “ỷ” 倚> “y” 依 > “y” 衣 > ấy丆 > ấy
. Trên con đường này chữ “ý” 意 đã bị gạt sang một bên. Điều này cũng tương tự như chữ “miệt” 蔑 không hề có mối liên quan với các chữ một như 殳 hoặc
, 艾 sau này.
Từ “ỷ” 倚 > “y” 依 là thay chữ theo liên tưởng gần âm gần nghĩa gần hình. Trong tiếng Hán, chữ “ỷ” 倚 cũng như chữ “y” 依, đều có nghĩa là “dựa vào” (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận: 倚, 依 也 [ỷ là y vậy] [tr.372]). Từ “y” 依> “y” 衣 là thay vì một chữ ghép hình thanh bằng một chữ đơn đồng âm. Từ “y” 依 >
>
là giảm lược dần thành tố và nét bút chữ Hán để Nôm hóa hình thể của chữ.
TƯ LIỆU CHỮ NÔM
1. Các Thánh truyện (各 聖 傳) Jeronimo Maiorica (1591-1656) chủ biên. Sách chữ Nôm viết tay, hoàn thành năm Phúc Thái 4 (1646). Thư viện Quốc gia Paris. Tư liệu do các học giả Pháp cung cấp cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
2. Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh ( 佛 說 大 報 父 母 恩 重 經). Không rõ soạn giả và năm khắc in. Bản photocopy của Viện NC Hán Nôm.
3. Thiền tông bản hạnh (禪 宗 本 行) Vĩnh Nghiêm tự tàng bản. Khắc ván năm Bảo Đại 7 (1932). Trong đó có Cư trần lạc đạo phú (居 塵 樂 道 賦) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (得 趣 林 泉 成 道 歌) của vua Trần Nhân Tông và bài Vịnh Hoa Yên tự phú (詠 華 煙 寺 賦) của sư Huyền Quang. Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.562.
4. Trùng san chỉ nam bị loại các bộ dã đàm đại toàn (重 刊 指 南 備 類 各 部 野 譚 大 全). Thường gọi là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (指 南 玉 音 解 義). Khắc ván năm Cảnh Hưng (?) Tân Tỵ (1761?). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.372.
5. Quốc âm thi tập (國 音 詩 集) của Nguyễn Trãi. Trong sách Ức Trai di tập, Q.VII (抑 齋 遺 集 .七). Phúc Khê đường tàng bản, khắc ván năm Tự Đức 21 (1868). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: Nv.5.
6. Thiên Nam ngữ lục (天 南 語 錄). Không rõ tác giả. Bản chép tay, lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.478/1-2.
7. Thi kinh giải âm (詩 經 解 音). Ván khắc của Kế Thiện đường năm Vĩnh Thịnh 10 (1714). Bản in lưu tại Viện Văn học, gồm 4 tập 8 quyển (thiếu 2 quyển cuối), ký hiệu: HN 527, HN 528, HN 529, HN 530.
8. Tân biên Truyền kỳ mạn lục (新 編 傳 奇 漫 錄 ). Nguyên tác Hán văn của Nguyễn Dữ, tương truyền Nguyễn Thế Nghi (thời nhà Mạc) dịch Nôm. Bản in theo ván khắc năm Cảnh Hưng 35 (1774), gồm 2 tập 4 quyển, lưu tại Viện Văn học, ký hiệu: HN 257, HN 258.
9. Cổ Châu Pháp Vân phật bản hạnh ngữ lục (古 珠 法 雲 佛 本 行 語 錄). Viên Thái dịch Nôm. Diên Ứng tự tàng bản. Ván khắc năm Cảnh Hưng 13 (1752). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu A.184.
10. Xuất gia sa di quốc âm thập giới (出 家 沙 彌 國 音 十 戒). Nhà sư Lân Giác (Trịnh Thập) soạn năm Bảo Thái 7 (1726). Bản khắc năm Cảnh Thịnh 5 (1797). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu AB.366.
11. Thi kinh diễn nghĩa (詩 經 演 義). Trong bộ Ngũ kinh tiết yếu diễn nghĩa (五 經 節 要 演 義). Đa Văn đường tàng bản. Khắc ván năm Minh Mệnh 18 (1837). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.168.
12. Kính phụng Táo quân diễn ca (敬 奉 灶 君 演 歌) Nguyễn Viết Giản soạn. Khắc ván năm Gia Long 16 (1817). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.469.
13. Tây phương công cứ tiết yếu diễn âm (西 方 公 據 節 要 演 音). Kiền An tự tàng bản. Bản in khắc ván năm Tự Đức 1 (1848), lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.486.
14. Kim Vân Kiều tân truyện (金 雲 翹 新 傳). Liễu Văn đường tàng bản. Khắc ván năm Tự Đức 24 (1871). Bản in chụp trong sách: Nguyễn Du: Truyện Kiều. Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và khảo dị. Nxb. Văn học - Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Tp. Hồ Chí Minh, 2002.
15. Kim Vân Kiều tân truyện (金 雲 翹 新 傳). Duy Minh Thị trùng san, năm Tự Đức Nhâm Thân (1872). Bản in chụp trong sách:Nguyễn Tài Cẩn. Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia H. 2002.
16. Lục Vân Tiên truyện (蓼 雲 仙 傳). Bản khắc năm Tự Đức Giáp Tuất (1874), do Duy Minh Thị đính chính. Bản in chụp trong sách: Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên truyện. Trần Nghĩa - Vũ Thanh Hằng phiên âm, khảo dị, chú thích, giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 1994.
17. Hoa Tiên nhuận chính (花 箋 潤 正). Lễ Đường tàng bản. Khắc ván năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: VHb.72.
18.Phù dung tân truyện (芙 蓉 新 傳). Khắc ván năm Tự Đức Kỷ Mão (1879). Bản in lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.68.
19. Ngũ canh phú (五 更 賦). Bản in khắc ván, lưu tại Viện NC Hán Nôm, ký hiệu: AB.61.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Tài Cẩn: Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia, H. 2002.
[2] Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần - Lê phái Trúc Lâm Yên Tử. Tập san Khoa học xã hội, Paris, N.5 (1978) & N.6 (1979). Trong N.6-1978 có in chụp mấy bài văn Nôm thời Trần (của vua Trần Nhân Tông và sư Huyền Quang) và thời Lê (của sư Chân Nguyên).
[3] Nguyễn Quang Hồng. Mấy vấn đề và khía cạnh nghiên cứu chữ Nôm. Tạp chí Hán Nôm, số 6, 2004.
[4] Đinh Khắc Thuân. Chữ Nôm trên văn bia thời Lê. Tạp chí Hán Nôm, số 6, 2004.
[5] Trương Đức Quả: “Về sự khác biệt của một số mã chữ Nôm giữa hai bản in sách Thiền tông bản hạnh”. Tạp chí Hán Nôm, N.4, 2004.
[6] Hứa Thận (soạn), Đoàn Ngọc Tài (chú). Thuyết văn giải tự (說 文 解 字). Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã, 1984 (in lần thứ 3)./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (76) 2006; Tr.33-382)
Tải về nội dung chi tiết tại đây: pdf_102.pdf