KHỐI TÀI LIỆU LỊCH SỬ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
VÀ QUÁ TRÌNH DI CHUYỂN TỪ HUẾ LÊN ĐÀ LẠT
NGUYỄN HUY KHUYẾN
Đại học Đà Lạt
1. Dẫn luận
Khối tài liệu lịch sử được hình thành và bảo quản dưới triều Nguyễn trong các cơ sở lưu trữ như: Quốc sử quán,Tàng thư lâu, Tân thư viện, TụKhuê thư viện, Thư viện Đông Các, Thư viện Bảo Đại… bao gồm hàng vạn cuốn sách đủ các thể loại từ mộc bản sách Hán Nôm đến tài liệu châu bản, các sách cổ thư, sách tiếng Việt, sách tiếng Pháp, địa bạ, hồ sơ tòa Khâm sứ cũ… đã được di dời lên Đà Lạt và Sài Gòn trong năm 1960.
Năm 1960, Đà Lạt được tổ chức thành một thành phố du lịch, nên chủ trương lập tại đây một Viện Bảo tàng để thêm phần hấp dẫn du khách ngoại quốc. Với khí hậu khô ráo quanh năm của Đà Lạt, thì nơi này có thể bảo quản được nhiều tài liệu quý hiếm của triều Nguyễn được đưa từ Huế lên.
Những tài liệu cổ thư, những sách Hán Nôm, lịch sử, văn hóa, sách ngự lãm hiện nay đang còn ở nước ta đang lưu trữ bảo quản tại các viện nghiên cứu, các trung tâm lưu trữ, các thư viện một phần cũng được chuyển từ chi nhánh Nha Văn khố Đà Lạt. Tuy chỉ tồn tại một thời gian, song ý nghĩa của Chi nhánh Nha Văn khố Đà Lạt nơi bảo quản khối tài liệu quan trọng của triều Nguyễn những năm 1960, thật sự chưa được nhiều người biết đến.
Đà Lạt được đánh giá là một địa điểm quan trọng để xây dựng một quốc khố, một viện bảo tàng, một chi nhánh văn khố quốc gia, bởi thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, địa hình. Các nhà lưu trữ, các nhà nghiên cứu có tâm huyết với khối tài liệu của triều Nguyễn ở Huế không khỏi xót xa khi nhìn thấy những tài liệu quý giá của "hoàng triều" cứ ngày một mất đi bởi chiến tranh, thiên nhiên lụt lội đe dọa. Chính vì vậy, phương án di dời toàn bộ khối tài liệu quan trọng quý giá này lên Đà Lạt là hợp lý.
Thời gian này (1960), trước tình hình chiến sự căng thẳng và để tránh những sự xung đột có thể xảy ra gần vĩ tuyến 17, khối tài liệu lịch sử của triều Nguyễn đã được lệnh di chuyển lên Đà Lạt bảo quản. Với ý đồ là thành lập một quốc khố tại Đà Lạt thuộc quyền kiểm soát của Viện Khảo cổ. Lúc đầu Viện Bảo tàng Đà Lạt được xem là một quốc khố để giữ gìn chu đáo các cổ thư và sử liệu quý giá của triều Nguyễn. Việc tổ chức tại Đà Lạt một Quốc khố để gìn giữ những cổ vật quý giá đồng thời với những cổ thư là một công việc hữu ích và hợp lý, có tính cấp thiết.
2. Quá trình kiểm kê các tài liệu lịch sử tại Huế
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu lịch sử, chúng tôi đã tìm được một hồ sơ liên quan đến quá trình di dời khối tài liệu lịch sử từ Huế lên Đà Lạt và vào Sài Gòn. Hồ sơ lưu trữ mang ký hiệu 1055 thuộc phông Nha Văn khố Quốc gia đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II- TPHCM. Hồ sơ này có đến gần 300 trang cả viết tay và đánh máy nêu rõ quá trình di chuyển và kiểm kê số tài liệu được vận chuyển từ Huế vào Đà Lạt năm 1960.
Theo đó trong Dự thảo tờ trình ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục cho biết: Viện Bảo tàng Huế hiện đang tàng trữ:
Các cổ vật trưng bày trong cung điện Long An Bảo Định cũ [tòa nhà này rất quý, làm thời vua Thiệu Trị, tòa nhà được chạm trổ rất tinh vi, hoa mỹ]. Có 1.948 cổ vật đã được liệt kê trong tổng số lượng là 7.669 hiện vật.
Sách cổ thư, tài liệu sử ký và sách khảo cứu về cổ học thì có:
- 591 tập châu bản triều Nguyễn
- 147 văn kiện linh tinh bằng chữ Hán dưới triều Nguyễn
- 3.588 quyển cổ thư bằng chữ Hán và chữ Nôm
- 1.085 quyển sách tiếng Pháp liên quan đến khảo cổ
- 143 quyển sách tiếng Việt liên quan đến khảo cổ
- 9.800 địa bạ bằng chữ Hán, về ruộng đất từng tỉnh ở Việt Nam, từng phủ, huyện, châu, xã, thôn, từ thời vua Gia Long và Minh Mệnh để lại.
- 680 hồ sơ của Văn khố Tòa Khâm sứ cũ, tổng cộng có đến 16.034 quyển sách và tập hồ sơ.
- Ngoài ra còn có tàng trữ khoảng 50.000 mộc bản là bản in khắc vào gỗ do Quốc sử quán và Nội các để lại, khối lượng mộc bản vào khoảng 50m3 và cần khoảng 3 phòng để sắp xếp.
Để tuân hành chỉ thị của Tổng thống, do sự vụ lệnh số 381-GD/NV ngày 2/4/1960, một phái đoàn gồm có 3 viên chức:
Ông Phạm Như Phiên, nguyên Đại biểu tại Cao nguyên Trung phần.
Ông Nguyễn Gia Phương, Phó giám đốc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia.
Ông Lê Phục Thiện, nhân viên chuyên về Hán tự tại Viện Khảo cổ.
Ba viên chức này được cử đến Huế đợt I, từ ngày 7/4/1960 đến 11/4/1960 để xem xét tại chỗ và nghiên cứu thể thức di chuyển lên Đà Lạt các cổ thư cùng tài liệu lịch sử tàng trữ tại Huế.
Sau khi kiểm kê đoàn đã có những nhận xét sơ bộ “những tài liệu gồm có mộc bản, châu bản, địa bộ các làng, cổ thư, văn khố của Tòa Khâm xưa và Cựu Nam triều”.
“Về tài liệu mộc bản: đây là những bản in chữ Hán khắc vào gỗ ngang dọc, độ trung bình 0,43x0,27m, dày từ 2 đến 4cm, mỗi bản nặng chừng 3,400gam. Loại này rất nhiều, đầy hai gian nhà, ước chừng 50.000 tấm chiếm diện tích từ 45-50m3. Hiện Viện Bảo tàng đã phân loại được một nửa, bằng cách dán vào bên sườn mỗi bản một mảnh giấy nhỏ đề rõ bộ sách nào, tập, trang… song theo lời ông Giám thù Viện bảo tàng, số mộc bản bị thất lạc khá nhiều trong thời kỳ rối ren, tuy con số còn tới 50.000 bản mà cũng không được đủ bộ. Những mộc bản này do Quốc sử quán và Nội các triều Nguyễn để lại nên rất có ích cho sử học nước nhà”(1).
Về tài liệu châu bản: "Tất cả những Nguyễn triều châu bản hiện Viện Đại học Huế gìn giữ và đang khai thác. Loại này gồm có những tờ trình của Nội các và Lục bộ đệ lên đức vua ngự duyệt có dấu son phê, những chỉ dụ, chiếu chỉ của nhà vua cùng những văn kiện linh tinh viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm dưới triều Nguyễn. Những tài liệu này đã đóng thành tập như những cuốn sách chữ Hán khổ 30x15cm, dày từ 6-10cm, đếm được 609 tập. Nay Viện Đại học Huế đã khai thác xong 39 tập, sắp sửa in ra những bảng phân tích có phần chữ Hán và chữ Việt, cùng các tham chứng (références); công tác này nếu được tiếp tục, sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà học giả muốn khảo cứu về tình hình nội trị và ngoại giao nước ta trước hồi Pháp thuộc. Theo lời Linh mục Viện trưởng, cơ quan viện trợ văn hóa Mỹ Asia Foundation rất để ý đến những tài liệu này, hứa sẽ giúp cho Viện những hộp sắt để đựng từng tập châu bản, cùng các thứ hóa học hút khí ẩm và trừ sâu mọt. Linh mục Viện trưởng có thỉnh cầu giữ lại tất cả châu bản, và hứa khi nào khai thác xong, sẽ lần lượt gửi lên Đà Lạt”(2).
Về địa bộ: “Đây là những sách viết tay từ thời Gia Long ghi những chi tiết về hình thế và địa giới xã, thôn, huyện, phủ, đạo và những tỉnh Trung, Nam, Bắc xưa kia. Những tài liệu này rất cần cho việc nghiên cứu ruộng đất, công điền, công thổ nước ta dưới triều Nguyễn, và cho các nhà chuyên về sử học địa lý (gesographie historique). Sổ địa bộ ước chừng 8.000 cuốn hiện xếp trong tủ không có thứ tự”(3).
Về tài liệu cổ thư và Văn khố cũ: “Tại Viện bảo tàng Huế có một số sách chữ Hán của Tàng thư viện và một số sách chữ Pháp thuộc tủ sách Phạm Quỳnh, ngoại trừ 2.967 cuốn đã gửi sang Thư viện Viện Đại học Huế. Các văn kiện của tòa Khâm sứ cũ và của Văn khố Cựu Nam triều, buộc thành nhiều bó gồm đủ các loại, hành chính, tài chính, chính trị, nhân viên… Một số 684 cuốn sách chữ Hán Ngự lãm còn để ở Hòa Khiêm điện, đền thờ tại lăng Tự Đức và đền thờ tại lăng Kiến Phúc. Chúng tôi đã liên lạc với Ủy ban Nguyễn Phước tộc để được mắt thấy loại sách này, đều đóng chỉ lề bên, theo kiểu sách Trung Hoa, giấy còn rất đẹp, chữ in rất rõ, gồm có những tập có giá trị như Khâm định Việt sử, Ngự chế thi tập, Ngự thảo, Thánh chế thi sử…
Ngoài các tài liệu lịch sử đã kể trên, còn những đồ cổ hiện trưng bày tại Viện bảo tàng Huế tức cung điện Long Ân Bảo Định cũ. Các đồ vật này rất nhiều và đủ các cỡ bày trong tòa nhà này, xây cất từ thời Thiệu Trị, rất phù hợp với khung cảnh cổ kính và nguy nga của nó. Từ trước đến nay, thành phố Huế được một số lớn du khách chiếu cố, có lẽ cũng nhờ một phần ở Viện Bảo tàng này. Vậy chúng tôi kính mong nhận được huấn lệnh rõ ràng rồi mới tính đến việc di chuyển những đồ cổ tịch trên”(4).
Thông qua quá trình kiểm kê khảo sát các cổ thư và đồ cổ tại Huế, đoàn kiểm tra đã có những kết luận và kiến nghị để di chuyển tất cả lên Đà Lạt:
Xin di chuyển ngay tất cả phần mộc bản đã được phân loại. Còn phần chưa phân loại để Viện Bảo tàng làm nốt vì hiện đủ người thông chữ Hán phụ trách. Về thể thức di chuyển, chúng tôi trù tính bò từng bó 5-10 bản tùy theo khổ và trọng lượng, bằng giây thép 2 ly, buộc chữ thập để xách được, rồi xếp lên toa xe lửa có cặp chì. Vì nắng mưa không ảnh hưởng gì đến loại tài liệu này, nên không cần phải đóng vào thùng.
Tài liệu châu bản xin tạm giao cho Viện Đại học Huế gìn giữ để khai thác, tới khi phần nào xong hẳn sẽ gửi ngay lên Đà Lạt. Hiện thời ở Viện này có một ban chuyên dịch sử liệu, một xưởng máy in, như thế có đủ phương tiện và nhân viên, vật liệu để khai thác những châu bản.
Địa bộ xếp hết các sách này vào những thùng bằng gỗ, chằng ngoài bằng giây thép sau khi đóng đinh. Tất nhiên những địa bộ này được kê khai và đếm trước khi đóng thùng. Những thùng này sẽ được xếp lên toa xe lửa đi Đà Lạt với những mộc bản.
Loại tài liệu cổ thư và cũng được di chuyển hết theo thể thức áp dụng cho loại địa bộ. Song những sách chữ Hán và chữ Pháp nói ở trên cùng sổ sách đã chuyển sang Thư viện Viện Đại học Huế sẽ mang về Sài Gòn. Riêng sách chữ Hán Ngự lãm chúng tôi đề nghị xin mang về Đà Lạt hoặc Sài Gòn để tránh những sự hư hại vì thời tiết, hay vì thiếu sự trông nom. Nếu vạn nhất, nạn hồng thủy xảy ra, kho tàng quý báu đó sẽ không còn vì toàn là giấy thấm nước.
Để cho việc di chuyển các tài liệu nói trên thuận lợi mau lẹ, phái đoàn đã dự trù một khoản kinh phí để phục vụ cho công tác di dời. Bao gồm:
- Thùng bằng gỗ để xếp sách chữ Hán, Việt, Pháp, và sổ địa bộ 60$x100t = 6.000$
- Giây thép 2 ly để bó các mộc bản và buộc ngoài thùng 20$x150kg= 3.000$
- Đinh 5 phân đóng thùng 18$x5kg = 90$
- Giấy gói hồ sơ cũ và các cổ thư chữ Hán 1$x2.000tờ=2.000$
- Giấy trắng để buộc 10$x40 = 400$
- Nhân công 6 người trong 12 ngày 60$x6x12 = 4.320$
- Tiền chuyên chở các vật liệu như thùng, giấy, đinh, khuân vác: 190$
* Tổng cộng hết 16.000$ (mười sáu ngàn đồng).
Do đặc thù của tài liệu tại Huế còn nhiều và chưa được kiểm kê và phân loại xong, nên việc cần phải đến Huế để kiểm điểm tại chỗ và tổ chức việc di chuyển lên Đà Lạt các cổ thư chữ Hán cùng tài liệu lịch sử như mộc bản, địa bộ, một số hồ sơ cũ của tòa Khâm tàng trữ tại Viện bảo tàng Huế.
Theo tờ trình về cuộc công cán tại Huế từ ngày 5/6-16/6/1960 cho biết: do sự vụ lệnh số 601- GD/NV/SVL ngày 1/6/1960 một phái đoàn gồm có 3 viên chức:
Ông Phạm Như Phiên, nguyên Đại biểu tại Cao nguyên Trung phần.
Ông Nguyễn Gia Phương, Phó giám đốc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia.
Ông Nguyễn Văn Thu, Chủ sự Phòng kỹ thuật Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia.
Đoàn công cán tại Huế đã có những kiểm kê cổ thư và tài liệu lịch sử: Công việc kiểm điểm sách chữ Hán được tiến hành từ ngày 6/6/1960 đến ngày 10/6/1960. Các cổ thư này được phân chia thành từng môn loại: chính trị, hành chính, luật học, y dược,… Mỗi loại được kiểm soát về số lượng trước khi cho vào thùng đóng kín có giây thép đeo ở ngoài. Tổng số các cổ thư đóng vào thùng là 3.181 cuốn, số sách này được ghi rõ ràng từng tên cuốn sách vào những bảng kê đóng thành tập. Ngoài ra còn có 648 cuốn sách Ngự lãm vẫn để ở Hòa Khiêm điện, đền thờ tại lăng Tự Đức và đền thờ tại lăng Kiến Phước. Số sách này vẫn để nguyên vì ủy ban Nguyễn Phước tộc có ngỏ ý đợi chỉ thị của thượng cấp.
Về địa bộ được kiểm kê là 8.389 tập gồm địa bộ các huyện thuộc các tỉnh Trung, Nam, Bắc Việt Nam. Một số địa bộ 1.581 tập về các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam được tạm lưu lại Viện Bảo tàng Huế để tiện cho dân chúng 3 tỉnh này thường hay đến tham khảo và xin cấp bản sao.
Tài liệu văn khố của tòa Khâm sứ cũ buộc thành nhiều bó về các thể loại tài chính, chính trị, nhân viên cũng đã được kiểm điểm và đóng thùng chuyển lên Đà Lạt.
Song song với việc kiểm điểm cổ thư, địa bộ, văn khố công việc kiểm điểm mộc bản và cột lại thành từng bó, mỗi bó từ 5-8 tấm tùy theo bề dày mỗi tấm, đã được tiến hành từ ngày 7/6- 15/6/1960, phải sử dụng 12 nhân công và 140kg giây kẽm vừa xếp theo loại vừa cột thành bó cho tiện việc chuyên vận lên xe G.M.C và xe lửa. Tổng số mộc bản là 15.045 tấm đã được xếp và cột thành 2.058 bó.
3. Hình thức di chuyển các tài liệu lịch sử lên Đà Lạt
Việc di chuyển mộc bản triều Nguyễn và các thùng tài liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt bằng xe lửa được thi hành “kín đáo và mau lẹ”. Việc vận chuyển tài liệu lưu trữ từ Viện Bảo tàng Huế ra ga xe lửa phải sử dụng xe của quân đội (Quân khu II) và quân nhân để bốc dỡ cho nhanh gọn (4 chiếc G.M.C và 24 quân nhân để phụ trách việc vận chuyển ngay khi có toa xe lửa chở hàng tại ga Huế.
Vì phải nhờ nhà ga xin các toa tàu hoả đặc biệt có răng cưa từ ga Tour chàm gửi vào, nên mãi đến ngày 27/6/1960 việc vận chuyển tài liệu mới được thực hiện.
Toàn bộ mộc bản và 69 thùng tài liệu được xếp lên 3 toa xe lửa, mỗi toa trọng tải 25 tấn. Mỗi toa đều có mui và cửa đóng kín, cặp chì. Ngày 28/6/1960, chuyến tàu chở mộc bản và tài liệu nói trên được khởi hành. Ngày 2/7/1960 tới Đà Lạt. Quân đội Việt Nam cộng hòa đã cử 18 quân nhân đi hộ tống để bảo vệ số tài liệu quý hiếm này.
Tại Đà Lạt, các thùng tài liệu và các bó mộc bản đã được 18 quân nhân đi hộ tống cùng một số quân nhân trường Võ bị liên quân Đà Lạt giúp cho chuyển từ ga Đà Lạt và chở về số 3 đường Trần Hưng Đạo. Công việc này hoàn tất vào ngày 5/7/1960.
Sau đó mộc bản được xếp cả ở hai căn phòng nhà dưới, căn thứ ba để chở số mộc bản còn lại ở Huế sẽ di chuyển sau. Các sách chữ Hán và địa bộ đều xếp lên 14 kệ, các văn khố cũ của Tòa Khâm để vào căn phòng nhỏ đầu nhà, chưa xếp vào kệ vì còn thiếu nhân viên chuyên môn phụ trách và hộp đựng. Theo phái đoàn cho biết ngoài số tài liệu nói trên, hiện vẫn còn tại Huế một số lượng mộc bản ngang với số đã di chuyển cần phải kiểm điểm, phân loại, dán nhãn hiệu từng bộ sách trước khi gửi lên Đà Lạt.
4. Số lượng tài liệu được đưa lên Đà Lạt qua kiểm kê ngày 15/6/1960
Theo biên bản giao nhận ngày 15/6/1960 Viện Bảo tàng Huế và Uỷ ban phụ trách chuyên chở các cổ thư và tài liệu có tính cách lịch sử lên Đà Lạt thì số lượng vận chuyển đợt 1 cụ thể như sau:
Cổ thư chữ Hán: 3.185 quyển, gồm
- Sách chính trị: 39 quyển
- Sách giáo khoa: 83 quyển
- Sách hành chính: 129 quyển
- Sách khảo cứu: 854 quyển
- Sách kinh tế, quân sự, xã hội: 55 quyển
- Sách luật học: 42 quyển
- Sách nghệ thuật: 12 quyển
- Sách sử địa: 883 quyển
- Sách tạp chí: 36 quyển
- Sách tiểu thuyết: 82 quyển
- Sách tôn giáo: 53 quyển
- Sách triết học: 196 quyển
- Sách tự điển: 29 quyển
- Sách văn chương: 558 quyển
- Sách y dược: 134 quyển
Thống kê này theo bản sách thủ đính hậu của Viện Bảo tàng Huế lập ngày 4/4/1960.
Địa bộ: 8.398 tập, (bản kê các địa bộ đính hậu do Viện Bảo tàng lập ngày 23/4/1960) trong đó:
Miền Bắc: tổng cộng 4.233 tập, gồm:
- Sơn Nam thượng | 763 tập |
- Sơn Nam hạ | 633 tập |
- Sơn Tây | 586 tập |
- Kinh Bắc | 622 tập |
- Thái Nguyên | 189 tập |
- Hà Nội | 1 tập |
- Thái Bình | 2 tập |
- Kiến An | 1 tập |
- Hải Dương | 883 tập |
- Hưng Hóa | 57 tập |
- Quảng An | 44 tập |
- Tuyên Quang | 42 tập |
- Cao Bằng | 157 tập |
- Lạng Sơn | 91 tập |
- Ninh Bình | 162 tập |
Miền trung: 3.685 tập, gồm:
- Thanh Hóa | 721 tập |
- Nghệ An | 327 tập |
- Hà Tĩnh | 259 tập |
- Quảng Bình | 301 tập |
- Quảng Ngãi | 228 tập |
- Bình Định | 1.220 tập |
- Phú Yên | 163 tập |
- Khánh Hòa | 209 tập |
- Bình Thuận | 256 tập |
- Kon Tum | 1 tập |
Riêng địa bạ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, vẫn để lại tại Viện Bảo tàng Huế để cho dân chúng tham khảo, sao lục.
Miền Nam: tổng cộng 480 tập
- Định Tường | 74 tập |
- Biên Hòa | 118 tập |
- Hà Tiên | 32 tập |
- Gia Định | 102 tập |
- Vĩnh Long | 111 tập |
- An Giang | 43 tập |
Tài liệu Tòa khâm sứ và Nam triều cũ: 2.871 hồ sơ, gồm:
- Loại tài liệu về chính trị: 191 hồ sơ
- Loại tài liệu về nhân viên: 711 hồ sơ
- Loại tài liệu về công sản: 1.969 hồ sơ
Mộc bản: 15.045 tấm, đã phân loại theo từng bộ sách (bản kê mộc bản đính hậu do Viện Bảo tàng Huế lập ngày 30/4/1960).
Tuy nhiên theo đoàn khảo sát vẫn còn một số lượng mộc bản vẫn còn tàng trữ tại Huế. Tiếp đó theo phiếu gửi số 1034/VKTV/ST gửi ông Phạm Như Phiên về việc sao công văn số 4.423-GD.VKTV ngày 31/8/1960 của Bộ gửi Viện Bảo tàng Huế để kiểm điểm số mộc bản còn tàng trữ tại Viện Bảo tàng Huế. Cũng theo công văn này cho biết: theo tờ trình của phái đoàn phụ trách việc di chuyển các tài liệu lịch sử và mộc bản từ Huế lên Đà Lạt, Bộ thấy còn một số lớn mộc bản chưa chuyển đi được vì chưa kiểm kê và phân loại xong.
Theo công văn số 50 VKTV của Giám đốc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia gửi ông Phạm Như Phiên ngày 15/12/1960 cho biết: có một ủy ban vừa ra Huế để hoàn tất gấp việc di chuyển các tài liệu lịch sử lên Đà Lạt như mộc bản, châu bản, các sách chữ Pháp, Hán của Viện Văn hóa cũ Trung phần và số địa bộ Quảng Trị, Thừa Thiên còn lại… Công tác này đã gần xong các thùng tài liệu cùng tất cả mộc bản sẽ gửi bằng toa xe lửa có hộ tống từ Huế vào Đà Lạt. Vấn đề này được chính Tổng thống Việt Nam cộng hòa chỉ thị, vì vậy, để thi hành thượng lệnh này, một số mộc bản trên 30.000 tấm tại sở Tu Thư Huế sẽ chở gấp bằng hỏa xa vào ga Đà Lạt để lưu trữ tại Chi nhánh Văn khố và Thư viện Quốc gia Đà Lạt.
Sau lần di chuyển thứ nhất ngày 15/6/1960 hoàn thành, đến lần thứ 2 ngày 17/12/1960, thì gần như số tài liệu lịch sử tại Huế đã được chuyển lên Đà Lạt gần hết, qua kiểm kê lần thứ hai ngày 17/12/1960 thì:
Mộc bản:
- loại lựa rồi 1.088 bó
- loại chưa lựa 2.769 bó
- loại mục và mối 52 bó
Tổng cộng: 3.909 bó
Sách: từ số 1 đến số 9 là 9 thùng
Số 16, 17, 18, 22 là 4 thùng
Tổng cộng: 13 thùng
Địa bộ: 9 thùng
Công báo: 6 thùng
Hồ sơ: 2 thùng
Châu bản: 11 thùng
Hồ sơ cũ: 106 bó
Tổng thư, tài liệu lịch sử vào Đà Lạt cụ thể như sau: