Nghiên cứu phương pháp giải nghĩa và giải âm qua Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.19 - 30)
Thứ Sáu, 06/12/2013 15:59
Nghiên cứu phương pháp giải nghĩa và giải âm qua Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.19 - 30)
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GIẢI NGHĨA VÀ GIẢI ÂM QUA HÓA HƯ LỤC GIẢI NGHĨA VÀ KHÓA HƯ LỤC GIẢI ÂM
TS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG Viện Nghiên cứu Hán Nôm Phiên dịch từ Hán sang Nôm có thể coi là hiện tượng dịch thuật đầu tiên và để lại nhiều dấu ấn nhất trong nền văn hiến Đại Việt (kể từ đời Lý - Trần đến năm 1945). Các dịch phẩm này đến nay còn lại khá nhiều, thuộc nhóm khoảng 1500 tác phẩm Nôm (kể cả các thư tịch nằm ở ngoại quốc). Khi đi vào nghiên cứu cụ thể, các nhà nghiên cứu dịch thuật có thể dễ dàng nhận thấy rằng, chuyển ngữ từ Hán sang Nôm có khá nhiều phương pháp khác nhau. Theo như thống kê của chúng tôi, qua khảo sát kho sách Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các sách dịch Nôm có ghi các kiểu dịch thuật (được định danh bởi chính các dịch giả) như sau: giải nghĩa, giải âm, giải Nôm, diễn Nôm, diễn âm, diễn ca, giải ca, giải âm diễn ca, giải âm phụ diễn ca, giải nghĩa ca, diễn nghĩa, sự tích ca, diễn âm ca, quốc âm ca, quốc ngữ ca, ca khúc, giải dịch quốc ngữ. Trong đó, giải Nôm, diễn Nôm, giải dịch quốc ngữ là kiểu định danh tác phẩm theo ngôn ngữ dịch. Ca khúc, quốc ngữ ca, ngâm khúc, giải ca, diễn âm ca, quốc âm ca, diễn ca… là kiểu định danh tác phẩm theo thể loại văn học (chủ yếu là thể thơ lục bát và song thất lục bát). Trong quá trình khai thác di sản Hán Nôm, hầu như chỉ có các tác phẩm văn vần được chú ý phiên âm và nghiên cứu, trong khi đó các tác phẩm văn xuôi lại chưa được quan tâm đúng mức. Giải nghĩa và giải âm là hai phương pháp dịch thuật thời trung đại, được Lại Nguyên Ân coi là “thượng nguồn của văn học dịch” ở Việt Nam(1). Hai khái niệm này đều dùng để trỏ hiện tượng phiên chuyển các văn bản từ tiếng Hán sang tiếng Việt bằng chữ Nôm - loại hình văn tự truyền thống của người Việt. Hai loại trên đều thuộc về “truyền thống giảng sách v.v... để phục vụ cho việc dạy học”(2). Tuy nhiên, giải nghĩa và giải âm lại chưa được minh định một cách rõ ràng về khái niệm. Sự phân biệt chỉ diễn ra ở mức độ cảm tính, theo chủ quan hay kinh nghiệm của từng người đọc và giải mã văn bản. Một phần, sự “mang máng” khi phân biệt trong quá trình tiếp xúc với hai loại văn bản này được hình thành trên một đặc điểm chung của chúng, đó là “giải nghĩa” và “giải âm” đều được thực hiện bằng cách dịch văn xuôi. Xuất phát từ thực tế đó, bài viết sẽ tiến hành khảo sát các chứng tích về ngôn ngữ, sự giao thoa ngôn ngữ trong quá trình phiên chuyển để từ đó minh định hai khái niệm này. Đối tượng khảo sát là Thiền tông khóa hư ngữ lục của thiền sư Tuệ Tĩnh và Khóa hư lục giải âm (KHLGA) của Phúc Điền hòa thượng. Sách Thiền tông khóa hư ngữ lục tuy không nêu rõ cách dịch, nhưng theo sự nghiên cứu của chúng tôi, tác phẩm này thuộc về phương pháp giải nghĩa, cho nên, để tiện theo dõi chúng tôi tạm gọi sách này là Khóa hư lục giải nghĩa (KHLGN). KHLGN và KHLGA có thể coi là hai văn bản khá lý tưởng cho việc nghiên cứu so sánh. Thứ nhất: đây đều là các văn bản dịch sang tiếng Việt cho cùng một tác phẩm Hán văn. Thứ hai: Văn bản Hán văn là một văn bản văn xuôi. Thứ ba: cả hai bản dịch của Tuệ Tĩnh và Phúc Điền đều là dịch theo lối văn xuôi. Thứ tư: các bản dịch này theo sát nguyên bản Hán văn với mức độ khá khác nhau. Thứ năm: hai văn bản này, đều xác nhận phương pháp dịch thuật của mình một cách trực tiếp. Cụ thể là bản AB.268 ghi: Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Huệ Tĩnh tự Vô Dật giải nghĩa禪子慎齋法號惠靜字無逸解義(ba lần ở cả 3 quyển Thượng - Trung - Hạ tờ 5b, 31b, 77b). Bản AB.367 ghi: Đại Giác thiền tự Độ Điệp Phúc Điền hòa thượng sa môn An Thiền Khóa hư giải âm 大覺禪寺度牒福田和尚沙門安禪課虛解音(tr.4a)(3). Tiêu chí thứ tư là tiêu chí quan trọng nhất. Duy chỉ có một điểm chưa được như ý, đó là văn bản KHLGN không phải là văn bản khắc in có niên đại xác tín. Tuy nhiên, với những điều kiện như đã nêu, hai văn bản vẫn là những đối tượng khả dĩ cho việc nghiên cứu về phương pháp giải nghĩa và giải âm. Bài viết này tiến hành nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ của hai bản dịch giải nghĩa và giải âm của cùng một nguyên tác Hán văn Khóa hư lục nhằm bước đầu minh định sự khác biệt của hai phương pháp dịch thuật trên. Cụ thể, bài viết sẽ nghiên cứu phương pháp giải nghĩa và giải âm qua bốn tiêu chí sau: (1). Qua cách phiên dịch ngữ danh từ: (2). Qua phân lượng các đơn vị hư từ, (3). Qua phân lượng số chữ Nôm phụ trội (của từng phương pháp đối với nguyên bản Hán văn), (4). Qua tiêu chí tự vựng tiếng Việt cổ. Sự khác biệt giữa danh ngữ tiếng Việt và tiếng Hán không chỉ giới hạn ở kết cấu, trật tự mà còn thể hiện ở từng bộ phận cấu thành danh ngữ đó. Trong danh ngữ tiếng Hán cổ đại, thành phần tu sức luôn được đặt trước thành phần được tu sức(4). Còn trong danh ngữ tiếng Việt, trung tâm ngữ nằm ngay giữa lòng đoản ngữ(5). Trong mục này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các cụm danh từ có từ chưng trong văn bản KHLGN và KHLGA để giải quyết hai vấn đề: 1. Sự tương đồng ngôn ngữ giữa phương pháp giải nghĩa và giải âm; 2. Sự khác biệt giữa phương pháp giải nghĩa và giải âm. Trong KHLGN, chữ CHƯNG xuất hiện 226 lần với 8 ý nghĩa ngữ pháp. CHƯNG là trợ từ kết cấu dịch từ chữ CHI xuất hiện 96 lần. CHI / CHƯNG có 3 ý nghĩa ngữ pháp chính: 1. CHI / CHƯNG giữ chức vụ kết nối thuộc ngữ với danh từ trung tâm (trợ từ kết cấu) với nghĩa là “của” xuất hiện 71 lần; 2. CHI / CHƯNG giữ chức vụ kết nối chủ vị của một câu dưới bậc xuất hiện 17 lần; 3. CHI / CHƯNG giữ chức vụ kết nối phần đề và phần thuyết xuất hiện 8 lần. Ý nghĩa ngữ pháp thứ 1 là đối tượng khảo sát của mục này. Cụ thể như bảng dưới đây. Quy ước: A là từ/ ngữ đứng sau CHI / CHƯNG, B là từ/ ngữ đứng trước CHI / CHƯNG. Ở nhóm 3, A là danh từ làm trung tâm ngữ, B là danh từ/ cụm danh từ/ cụm động từ/ cụm chủ vị làm thuộc ngữ. Trong nhóm 3. có 5 mô hình dịch.
B (thuộc ngữ) chi A (danh từ) | XUẤT XỨ | 1. | Chưng AB [Danh ngữ: A trung tâm ngữ, B thuộc ngữ] | 6b3, 7a5, 7a6, 7b1, 7b2, 7b2, 7b3, 9a1, 9a2, 9a2, 10a4, 10a4, 10a5, 10a6, 10b2, 10b2, 10b5, 10b6, 11b6, 18a5, 18a5, 18b1, 18b5, 18b5, 19a1, 19a2, 19b2, 19b3, 19b5, 20b3, 23a4, 23a4, 26a1, 31b4, 31b4, 31b6, 32a1, 32a2, 32a3, 38b5, 38b6, 42a1, 42a4, 45a4, 49a4, 56a2, 58a2, 60b3, 60b4, 61a3, 61a3, 63a5, 63a5, 63b1, 68b1, 68b1, 68b5, 68b5 | 2. | B chưng A [chủ vị] | 7a4 | 3. | B chưng C [đề thuyết] | 7b6, 9a4, 10b5, 12a5, 45a5 | 4. | A B (chưng) | 26a4 | 5. | B (N địa điểm) chưng A | 68a4, 68a4, 69b6, 70a1, 70b1 | B (danh từ) chi A (động từ) | | 1. | B chưng A [B chủ, A vị] | 7a6, 7b1, 8a1, 8a1, 11b2, 12a1, 18a2, 18b2, 18b2, 19b6, 19b6, 20a2, 20b2, 21b2, 60b5, 60b6 | 2. | A chưng B | 25b6 | B (danh từ) chi A (chủ vị) [B đề- A thuyết] | | 1. | B chưng A (chủ vị) | 33a3, 33a4, 39b5, 39b5, 55a2, 55a2, 62a3, 62a3 | | | | |
Nhận xét: Kết cấu ngữ danh từ loại 1. có cấu trúc xuôi theo tiếng Việt: trung tâm ngữ + thuộc ngữ, có 57 trường hợp. Kết cấu ngữ danh từ loại 2. có cấu trúc ngược với tiếng Việt: thuộc ngữ + trung tâm ngữ, có 1 đơn vị. Hiện tượng dịch sai này có thể lý giải như sau: trung tâm ngữ vốn là một tính từ “chí linh”, nhưng trong câu nguyên văn đó là một danh từ: 冠三才而中立, 為萬物之至靈 nghĩa là: con người quán thông tam tài mà đứng ở giữa, là loài linh thiêng nhất trong muôn vật. Câu văn dịch hiểu nhầm sang ý nghĩa ngữ pháp thứ 2 của CHI: coi chi là từ nối giữa chủ vị của một câu dưới bậc, tức là coi chí linh là vị ngữ, nên dịch thành: suốt cả ba tài mà đứng ở trong, làm trước muôn vật chưng chỉn rất thiêng. 7a4. Mô hình dịch 3. là mô hình dịch sáng tạo: chuyển cụm danh từ Hán văn sang cấu trúc đề thuyết. Có 5 đơn vị. Mô hình dịch 4. Là mô hình theo cấu trúc ngữ danh từ của tiếng Việt. Thuộc ngữ (trong Hán văn là một cụm chủ vị) + trung tâm ngữ (danh từ) à trung tâm ngữ (danh từ) + thuộc ngữ (cụm chủ vị có chưng ở giữa). Có 1 trường hợp. Mô hình dịch 5: [thuộc ngữ (danh từ địa điểm của trung tâm ngữ) + trung tâm ngữ], ngữ danh từ này làm chủ ngữ trong câu Hán văn. Dịch sang tiếng Việt, thuộc ngữ được dịch thành trạng địa điểm. Có 5 trường hợp. Như vậy, 71 ngữ danh từ Hán văn được dịch thành 5 mô hình khác nhau trong tiếng Việt, trong đó 4 mô hình sau không phải là ngữ danh từ tương ứng. Chỉ có mô hình 1. là dịch bằng ngữ danh từ Việt tương đương. Cả 57 ngữ danh từ thuộc mô hình 1 đều theo cấu trúc của ngữ danh từ Việt. Giao thoa ngôn ngữ chỉ thể hiện ở hư từ CHƯNG. Bước đầu, ta có thể đi đến kết luận rằng: các ngữ danh từ trong Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 được viết theo cấu trúc thuần Việt: trung tâm ngữ + thuộc ngữ. Gần như không có sự giao thoa về cấp độ cấu trúc. Có thể coi đây là một trong những đặc điểm khá quan trọng của phương pháp giải nghĩa trong văn bản KHLGN. Nguyên văn Hán văn có 96 trường hợp có chữ 蒸CHƯNG, nhưng văn bản này có 40 trường hợp không có CHƯNG đối dịch với 之CHI (thường là đối dịch với giới từ 於ư, 于vu) gồm các vị trí sau: 6a10, 6a10, 10a8, 10a8, 13a7, 14a10, 14b5, 15b3, 18b1, 18b1, 18b3, 18b6, 19b1, 19b4, 21a9, 26a10, 26a10, 27b1, 27b3, 27b4, 27b4, 30b10, 30b10, 31a3, 32a3, 32a4, 34a7, 34a7, 34a7, 35a10, 35a10, 35b2, 35b2, 36b7, 36b8, 38b8, 40a3, 40a3, 41b3, 41b8. Như vậy, có 56 trường hợp CHƯNG đối dịch CHI, trong đó có 41 trường hợp CHI là trợ từ kết cấu của cụm danh từ. Cụ thể như bảng dưới đây: B (thuộc ngữ) chi A (danh từ) | XUẤT XỨ | 1. | Chưng AB [Danh ngữ: A trung tâm ngữ, B thuộc ngữ] | 6a9, 6a10, 7a7, 7a8, 7a8, 7a8, 7a9, 7a10, 7a10, 7a10, 12b5, 12b5, 13a7, 14b8, 14b8, 17b2, 17b2, 21b1, 21b2, 22b7, 23b2, 23b3, 25b1, 26b5, 31a3, 32a9, 34a6, 34a8, 34a8, 34a9, 35b3, 35b3, 35b4, 39a1, 39a1, 40a3 | 2. | B chưng A [chủ vị] | 7a9, 16b7, 16b7, 35a9, 35a9 | 3. | B chưng C [đề thuyết] | | 4. | A B (chưng) | | 5. | B (N địa điểm) chưng A |
| 6. | AB (bỏ chưng) | 6a9, 6a10, 6a10 v.v... | B (danh từ) chi A (động từ) | | 1. | B chưng A [B chủ, A vị] | 8a6, 8a6, 8a7, 12a9, 12b1,13a7, 13a8, 13a10, 21a9, 22b2 | 2. | A chưng B | | B (danh từ) chi A (chủ vị) [B đề- A thuyết] | | 1. | B chưng A (chủ vị) | 43b1 | | | |
Nhận xét: Nguyên tác Hán văn Khóa hư lục có 71 cụm danh từ có CHI. Trong Khóa hư lục giải âm chỉ có 41 trường hợp đối dịch CHI mà trật tự được xếp theo kết cấu danh từ của tiếng Việt. Chỉ có 5 trường hợp xếp trái với trật tự tiếng Việt. Như vậy, số trường hợp không dịch CHI là 25 trường hợp. Theo như khảo sát ban đầu của chúng tôi, các cụm danh từ không có CHI này đều theo cấu trúc danh từ của tiếng Việt. Có thể nói, loại cấu trúc danh từ thứ 6 là loại thuần Việt hơn cả. Nó vừa có trật tự đúng như tiếng Việt, lại vừa không có sự giao thoa về mặt hư từ. Loại 6 (loại dịch kết cấu danh từ có CHI: B chi A à AB) hoàn toàn không thấy xuất hiện trong bản giải nghĩa. (1) Với cứ liệu khảo sát trên, chúng tôi tạm đưa ra kết luận về phương pháp “giải nghĩa” và “giải âm” (qua việc dịch các cụm danh từ Hán văn): Loại 2 (dịch trái trật tự tiếng Việt): Khóa hư lục giải âm có 5 lần xuất hiện, Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 1 lần xuất hiện. (2) Sự giao thoa giữa tiếng Việt và tiếng Hán chủ yếu thể hiện ở cấp độ hư từ. Sự giao thoa thể hiện ở phương diện trật tự từ chiếm tỉ lệ nhỏ. Đây là đặc điểm chung của các văn bản giải nghĩa và giải âm. Việc nghiên cứu này xuất phát từ gợi ý của GS. N.V Stankevic. Tác giả đã viết như sau: “trong tiếng Hán, hư từ có số lượng nhiều hơn và có chức năng đa dạng hơn. Nhiều trường hợp ở tiếng Việt không có hư từ tương đương, ví dụ không có hư từ thuần Việt giống như giả đứng sau khởi ngữ, giống như giã, hồ đứng ở cuối câu, hoặc giống như phù, phàm, nãi đứng ở đầu câu. Trong nguyên bản Khóa hư lục (Hán văn - TTD), hư từ chiếm đến 20%, trong khi các văn bản tiếng Việt cuối thế kỷ XIX chỉ có 15%, thế nhưng trong bản dịch Khóa hư lục giải âm chúng lên đến 17-18%.”(6). Bà lý giải rằng, việc gia tăng hư từ trong các văn bản giải âm là kết quả tổng hợp của ba biện pháp trong quá trình chuyển ngữ, đó là: (1). Biện pháp mở rộng chức năng cho những hư từ vốn có trong tiếng Việt; (2). Biện pháp “hư từ hóa” một số thực từ của tiếng Việt; (3). Biện pháp vay mượn trực tiếp các hư từ Hán trong nguyên bản. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu mà tác giả hướng đến chỉ là mức độ giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt qua văn bản KHLGA mà thôi. Những số liệu thống kê mà tác giả đưa ra như vừa nêu trên là một gợi ý lý thú cho những người đi sau. Chúng tôi tiến hành thống kê định lượng như sau: BẢNG THỐNG KÊ HƯ TỪ KHL giải nghĩa | KHL giải âm | Hán văn KHL | Hư từ | Độ dài vb | Hư từ | Độ dài vb | Hư từ | Độ dài vb | 164 đơn vị | 2.169 đv | 77 đơn vị | 1.585 đv | | | chiếm 7,56% độ dài vb | Chiếm 4,85% độ dài vb | ? | 3.231 lượt | 12.244 lượt | 1.633 lượt | 9.396 lượt | 1.646 lượt | 8.234 lượt(7) | 26,39% độ dài vb | 17,38% độ dài vb | 20% độ dài văn bản | | | |
Bảng tra này cho thấy: (1) Sự khác biệt về số lượng đơn vị hư từ giữa hai phương pháp giải nghĩa và giải âm. Phương pháp giải nghĩa có số lượng đơn vị hư từ gấp đôi (Gấp 2,1298 lần.) phương pháp giải âm (164 đv > 77đv). (2) Sự khác biệt về tần số xuất hiện các đơn vị hư từ giữa hai phương pháp giải nghĩa và giải âm. Phương pháp giải nghĩa có tần số xuất hiện của đơn vị hư từ gấp đôi (1,9785 lần) phương pháp giải âm (3.231 lần so với 1.633 lần). Một đặc điểm khá dễ nhận ra rằng, độ dài của bản giải nghĩa bao giờ cũng lớn hơn độ dài của bản giải âm. Đây cũng chính là một đặc điểm quan trọng để phân biệt hai phương pháp dịch thuật này. Năm 2005, Nguyễn Tuấn Cường trong bài “Lí tướng công chép sự minh ti - Bản giải âm tác phẩm Lí tướng công minh ti lục (lược thuật tình hình ván khắc và văn bản)”(8), đã đưa ra bảng so sánh cho các văn bản giải âm khá lý thú. Bảng dưới đây phần đa tiếp thu số liệu của Nguyễn Tuấn Cường, nếu có số liệu nào của cá nhân thống kê, chúng tôi sẽ chú ngay dưới chân trang.
Văn bản giải âm | PT | TKML | KHLGA | LTC | HPL(9) | Số lượt chữ Nôm dịch từ 1000 lượt chữ Hán đầu tiên | 1211(10) | 1306 | 1054 | 1022 | 968 | Số chữ Nôm phụ trội | 211 | 306 | 54 | 22 | - 32 | Tỉ lệ đối dịch Hán / Nôm | 1/1,211 | 1/1,306 | 1/1,054 | 1/1,022 | 1/0,968 | | | | | | |
Ký hiệu: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (PT), Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (TKML), Khóa hư lục giải âm (KHLGA), Lí tướng công chép sự minh ti (LTC), Hộ pháp luận (HPL). Có thể thấy, số liệu Nguyễn Tuấn Cường thống kê được trong các văn bản giải âm là khá thú vị. Mức độ dao động của số chữ Nôm phụ trội cho các văn bản giải âm dao động từ 22 đến 306 lượt chữ/ 1000 chữ Hán. Số chữ phụ trội của TKMLGA tăng lên một cách đột biến như vậy hiện chúng tôi chưa có điều kiện để khảo sát lại văn bản này. Tạm thời, chúng tôi chấp nhận cách lý giải sau đây của tác giả bài viết: “Nguyªn nh©n dÉn ®Õn hiÖn tîng nµy, chóng t«i cho r»ng cã ba yÕu tè sau (so s¸nh víi b¶n TKMLGA): Bản Nôm | TKML | LTC | Đặc điểm So sánh | Nhiều điển tích, điển cố. | Rất ít điển tích, điển cố | Văn ngôn | Pha bạch thoại trung đại | Thể tự sự (chủ yếu) | Thể ngữ lục (đối thoại) | | | |
Bản giải âm này sử dụng rất ít điển tích điển cố, cho nên người diễn Nôm ít có nhu cầu “giải dịch” hay “chú dịch” như trong bản TKMLGA, điều này tạo điều kiện cho việc tuân thủ nghiêm ngặt lối trực dịch.” Cũng theo cách của Nguyễn Tuấn Cường, chúng tôi thống kê được rằng: trong bản KHLGN, 1000 lượt chữ Hán đầu tiên được dịch bằng 1800 chữ Nôm. Như vậy, tỉ lệ đối dịch của bản giải nghĩa KHLGN là 1/1,8. Đây hẳn là số liệu rất có ý nghĩa cho việc xác định phương pháp giải nghĩa và phương pháp giải âm qua số lượt văn tự của từng văn bản. Có thể thấy rõ hơn điều này qua bảng dưới đây.
KHLGN | PT | TKML | LTC | KHLGA | HPLGA | TGNNGA(11) | 1800 | 1211 | 1306 | 1022 | 1054 | 968 | | 800 | 211 | 306 | 22 | 54 | - 32 | | 1/1,8 | 1/1,211 | 1/1,306 | 1/1,022 | 1/1,054 | 1/0,968 | |
Từ bảng so sánh trên, chúng tôi thấy rằng, số lượt chữ phụ trội của bản giải nghĩa KHLGN gấp 36,36 lần so với bản giải âm sách LTC, gấp 14,8 lần so với KHLGA, gấp 4,8484 lần so với PT, gấp 2,6143 lần so với TKML (đây có thể coi là điểm phụ trội có tỷ lệ chênh lệch thấp nhất cho hai phương pháp giải âm và giải nghĩa). Nếu tính trung bình, thì số lượt chữ phụ trội của bản giải nghĩa KHLGN so với các văn bản giải âm trên sẽ là như sau: 800 : (165 + 306 + 54 + 22) = 800 : 547 = 800 : 273,5 = 2,925 lần Nếu tính bằng kết quả mà chúng tôi có được theo phương pháp thống kê định lượng thì các số liệu về tình hình phụ trội giữa bản giải nghĩa và giải âm sẽ như sau:
| KHLGN | KHLGA | Nguyên văn | Độ dài văn bản | 12244 lượt chữ | 9396 lượt chữ | 8.234 lượt | Số chữ Nôm phụ trội | 3244 chữ | 396 chữ | X | Gấp 8,19 lần | Tỷ lệ số chữ Nôm phụ trội so với vb Hán | 1,36 chữ Nôm / 1 chữ Hán | 1,044 chữ Nôm / 1 chữ Hán | Tỷ lệ số chữ Nôm phụ trội giữa GN và GA | 1, 36 : 1,044 = 1,3026 lần | | | |
Từ các bảng tra trên, chúng tôi tạm đi đến nhận định rằng, đặc điểm “nhận diện” phương pháp giải âm và giải nghĩa nên được tính theo số chữ phụ trội giữa các bản Nôm với nguyên bản Hán văn theo phương pháp thống kê định lượng. Bởi khi nhìn vào các số liệu về tỷ lệ (tỷ lệ số chữ Nôm phụ trội so với văn bản Hán và tỷ lệ số chữ Nôm phụ trội giữa hai phương pháp giải âm và giải nghĩa), thì sự đối lập giữa hai phương pháp không được hiển thị một cách rõ rệt. Cách thống kê này chỉ phù hợp với việc thống kê thử như Nguyễn Tuấn Cường và chúng tôi đã làm ở trên. Tạm đi đến nhận định rằng: phương pháp giải nghĩa và giải âm qua hai văn bản đang xét thể hiện ở hai số liệu sau: - Số chữ Nôm phụ trội giữa bản giải nghĩa và bản giải âm là 3244/ 396. Tức, số chữ Nôm phụ trội của bản giải nghĩa gấp 8,19 lần so với bản giải âm. - Nếu thống kê số chữ Nôm phụ trội qua 1000 lượt chữ Hán đầu, thì số chữ Nôm phụ trội giữa bản giải nghĩa KHLGN so với các bản giải âm sẽ là 800/ 273,5 (chữ). Tức là tỷ lệ số chữ Nôm phụ trội sẽ gấp 2,925 lần. Phần này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích các số liệu về từ cổ (loại từ vựng đặc thù của các văn bản Nôm) để từ đó đưa ra những kết luận biện biệt về phương pháp giải nghĩa và giải âm. Từ cổ trong bản KHLGN gồm ba loại: I. Từ Việt cổ (chiếm 42,15 % tổng số đơn vị), II. Từ ngữ Hán tham gia vào văn bản như thành tố của tiếng Việt (12,66 %); III. Từ ngữ Nôm đối dịch từ ngữ Hán (45,19%). Với cách nhìn như vậy, chúng ta có thể thức nhận rõ ràng hơn về hệ thống từ cổ trong bản giải nghĩa này: từ cổ có nguồn gốc không thuần Việt chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với từ cổ thuần Việt (62,85% so với 42,15%). Từ cổ trong bản Khoá hư lục giải âm: 1. Từ Việt cổ (chiếm 23,18 % tổng số đơn vị), 2. Từ ngữ Hán tham gia vào văn bản như thành tố của tiếng Việt (14,86 %); 3. Từ ngữ Nôm đối dịch từ ngữ Hán (62,16 %). Với cách nhìn như vậy, chúng ta có thể thức nhận rõ ràng hơn về hệ thống từ cổ trong bản giải nghĩa này: từ cổ có nguồn gốc không thuần Việt chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với từ Việt cổ (77,02% so với 23,18 %).
TỪ CỔ |
| Thuần Việt | Không thuần Việt | KHL | Loại I | Loại II | Loại III | Giải nghĩa (cuối XIV) | 42,15 % | 12,66 % | 45,19 % | 42,15 % | 62,85% | Giải âm (1861) | 23,18 % | 14,86 % | 62,16 % | 23,18 % | 77,02% | | | |
Qua biểu trên, chúng tôi tạm đi đến nhận xét rằng: tỷ lệ từ vựng (từ cổ) thuần Việt trong các văn bản giải nghĩa gần gấp đôi (1.83) so với bản giải âm. Điều này có thể lý giải như sau: các văn bản giải nghĩa do tính chất đặc thù của nó là giải dịch nghĩa lý của văn bản Hán văn nhưng không bị câu nệ vào tính chất ĐỐI ÂM TIẾT nên, việc gia tăng các từ thuần Việt là điều có thể hiểu được. Ngược lại các văn bản giải âm do tuân theo SỐ LƯỢNG ÂM TIẾT CỦA NGUYÊN BẢN HÁN VĂN, do tuân theo CẤU TRÚC VÀ TRẬT NGỮ NGỮ PHÁP TIẾNG HÁN một cách cao độ nên mức độ giao thoa ngôn ngữ Hán - Việt đã diễn ra khá rõ nét. Không những thế, việc ĐỐI ÂM trong quá trình dịch còn khiến cho việc giao thoa còn ảnh hưởng đến CẤU TRÚC của từ vựng (như 7 cấu trúc của loại từ cổ lâm thời như chúng tôi đã nghiên cứu(12). Có thể thấy điều này một cách cụ thể qua một số ví dụ sau: Hán văn:新萬物之萃榮, nghĩa là: làm cho muôn vật thêm tươi mới Bản AB.268 giải nghĩa: mới sạch trong muôn vật chưng uất mậu diềm dà [8a] Bản AB.367 giải âm: mới muôn vật chưng tươi tốt [5b4 ] Bản giải nghĩa có số âm tiết vượt trội là 4 (10 âm tiết Nôm - 6 âm tiết nguyên bản Hán văn). Bản giải âm có số âm tiết vượt trội là 0 (đây là một câu điển hình cao độ cho phương pháp giải âm). Ví dụ: 萬里風光,處處鶯啼蝶舞 (vạn lý phong quang, xứ xứ oanh đề điệp vũ) Nghĩa là: muôn dặm tươi sáng, nơi nơi oanh hót bướm múa Bản giải nghĩa: Đến nhẫn muôn dặm đều đẹp mặt, chốn chốn đều oanh kêu líu lo, bướm bay phấp phới [8a3]. Bản giải âm: muôn dặm gió mát, đòi nơi vàng anh hót bướm bay liệng.[5b4 ] Bản giải âm có số âm tiết vượt trội là 2 (của chữ vàng anh và bay liệng) [12 so với 10]. Bản giải nghĩa có số âm tiết phụ trội là 18 âm tiết so với 10 âm tiết của câu Hán văn. Hai âm tiết phụ trội của bản giải âm là do dịch giả đã dùng hai từ song tiết để dịch cho hai từ đơn tiết. Trong khi đó, bản giải nghĩa đã - dùng 3 âm tiết (bay phấp phới) để dịch cho 1 chữ (vũ = múa), - dùng 3 âm tiết (kêu líu lo) để dịch cho 1 chữ (đề = hót), - thêm 2 âm tiết (đến nhẫn) là liên từ để liên kết ý với câu trước đó. - thêm 2 âm tiết (đều, đều) là phó từ để làm cho câu văn thêm uyển chuyển. Ví dụ: 密林茂樹,金風一扇幾扶疎; 青嶂翠峰,玉露初垂增零落. Phiên âm: mật lâm mậu thụ, kim phong nhất phiến kỷ phù sơ thanh chướng thúy phong, ngọc lộ sơ thùy, tăng linh lạc Nghĩa là: Rừng dày cây rậm, gió thu một cái đã mấy lưa thưa núi biếc ngọn xanh, sương ngọc mới rơi, thêm xơ xác Bản AB.268 giải nghĩa: rừng mau cây rậm, một trận gió may thổi đến, mấy khóm bèn nên xơ xác núi xanh đương diềm dà, mai sơ mưa móc luống thơ thới, thảy hóa nên rụng rời. [11a1-2 ] Bản AB.367 giải âm: Rừng rậm cây tốt, trận gió Tây hầu nên xơ xác Rừng xanh núi biếc, giá sương mới xuống, thêm buốt lạnh vậy. [7a5/ 7b1] Nguyên câu Hán văn có 22 âm tiết. Câu dịch trong bản giải nghĩa có 32 âm tiết, âm tiết phụ trội là 10. Câu dịch trong bản giải âm có 23 âm tiết, chỉ có 1 âm tiết phụ trội. Phương pháp giải nghĩa và giải âm có thể tạm thời xác định qua bốn tiêu chí như sau: 1. Qua cách phiên dịch ngữ danh từ: 1.1. Dịch trái trật tự tiếng Việt: Khóa hư lục giải âm có 5 lần xuất hiện, Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 1 lần xuất hiện. 1.2. Sự giao thoa giữa tiếng Việt và tiếng Hán chủ yếu thể hiện ở cấp độ hư từ. Sự giao thoa thể hiện ở phương diện trật tự từ chiếm tỉ lệ nhỏ. Đây là đặc điểm chung của các văn bản giải nghĩa và giải âm. 2. Qua phân lượng đơn vị hư từ 2.1 Sự khác biệt về số lượng đơn vị hư từ giữa hai phương pháp giải nghĩa và giải âm. Phương pháp giải nghĩa có số lượng đơn vị hư từ gấp đôi (Gấp 2,1298 lần.) phương pháp giải âm (164 đv > 77đv). 2.2 Sự khác biệt về tần số xuất hiện các đơn vị hư từ giữa hai phương pháp giải nghĩa và giải âm. Phương pháp giải nghĩa có tần số xuất hiện của đơn vị hư từ gấp đôi (1,9785 lần) phương pháp giải âm (3.231 lần so với 1.633 lần). 3. Qua phân lượng số chữ Nôm phụ trội 3.1 Số chữ Nôm phụ trội giữa bản giải nghĩa và bản giải âm là 3244/ 396 (gấp 8,19 lần). 3.2 Nếu thống kê số chữ Nôm phụ trội qua 1000 lượt chữ Hán đầu, thì số chữ Nôm phụ trội giữa bản giải nghĩa KHLGN so với các bản giải âm sẽ là 800/ 273,5 (chữ). Tức là số chữ Nôm phụ trội sẽ gấp gần 3 lần (2,925 lần). 4. Qua tiêu chí từ vựng: tỷ lệ từ vựng (từ cổ) thuần Việt trong các văn bản giải nghĩa gần gấp đôi (1.83) so với bản giải âm (cụ thể số lượt chữ). Trên đây là những khảo sát bước đầu của chúng tôi về những đặc điểm ngôn ngữ học, và văn tự học qua hai văn bản KHLGN và KHLGA. Các tiêu chí được đưa ra khảo sát nhắm đến hai mục đích. Thứ nhất, là xác định sự khác nhau giữa hai phương pháp dịch thuật qua các tiêu chí ngôn ngữ học. Thứ hai, bản thân quá trình nghiên cứu khảo sát các tiêu chí ngôn ngữ ấy sẽ được coi như là một phương pháp để tiến hành nghiên cứu văn bản học, cụ thể là văn bản học chữ Nôm dành cho các tác phẩm dịch thuật (từ Hán sang Việt). Tuy nhiên, những khảo sát trên đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu qua hai dịch phẩm của cùng một tác phẩm Hán văn. Hướng nghiên cứu này cần phải tiếp tục triển khai trên các mẫu lớn hơn, ở những hệ dịch phẩm phong phú hơn. Cần nhấn mạnh một điểm nữa rằng, nghiên cứu này chỉ là thao tác văn bản học, và nó là cơ sở bước đầu để từ đó chúng ta tiến hành nghiên cứu về phiên dịch học(13) trong thời Cổ - trung - cận đại (tk XII -1945) - một hướng nghiên cứu đầy triển vọng trong thời gian sắp tới(14). Chú thích: 1Lại Nguyên Ân. (1995). Diễn Nôm - thượng nguồn của văn học dịch, TC Văn học số 1/1995. [Chuyển dẫn theo Nguyễn Tuấn Cường: “Lí tướng công chép sự minh ti - Bản giải âm tác phẩm Lí tướng công minh ti lục (lược thuật tình hình ván khắc và văn bản)”. In trong Thông báo Hán Nôm học năm 2005. Nxb. KHXH, H. 2006, tr.98]. 6N.V.Stankevic: Hiện tượng giao thoa từ ngữ pháp Hán sang ngữ pháp tiếng Việt, “Những vấn đề về ngôn ngữ - các ngôn ngữ phương Đông”, Viện Đông Nam Á, H. 1983, tr.390. 12Cụ thể xin xem: - Trần Trọng Dương: “Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh”, Ngôn ngữ, số 8/2006, tr.54-67. - Trần Trọng Dương: Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản Khóa hư lục giải âm AB.376 của Hòa thượng Phúc Điền, trong Thông báo Hán Nôm học 2005, Nxb. KHXH. H. 2006, tr.177-202.
Trần Trọng Dương
Tin liên quan
-
Văn bia thời Trần ở Ninh Bình (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (118) 2013; tr. 50-57)
-
Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2013) (Hà
-
Phát biểu của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 -
-
Minh Mệnh với cải cách hành chính ở các cơ quan trung ương thời Nguyễn - Nhìn từ lịch sử và ấn chương hành chính (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121),
-
Bồng Châu thi văn tập của Bảng nhãn Vũ Duy Thanh - Một tác phẩm giá trị trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XIX(Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.29-42)
-
Về tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lý (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.43-50)
-
Bia chí - Nguồn sử liệu quý cần gìn giữ ở Lăng Ông Biên Hòa (Đồng Nai) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.51-57)
-
Mã chữ Nôm trong Châu bản thời Gia Long (1802-1819) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.58-65)
-
Nghiên cứu tư liệu gia lễ Việt Nam: Từ sơ đồ ngũ phục đến phục chế (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.66-78)
-
Nghĩ thêm về Việt Nho (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 3-13)
|