SƠ KHẢO VĂN BẢN TUỒNG CỔ HIỆN CÒN
ThS. NGUYỄN TÔ LAN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tuồng là một loại hình ca kịch, hai thành tố cơ bản cấu thành nên nó là: kịch bản và nghệ thuật biểu diễn. Nghệ thuật biểu diễn được truyền lại theo dạng thức truyền nghề của các nghệ sĩ, còn kịch bản tuồng cổ viết bằng văn tự Hán - Nôm được lưu truyền đến ngày nay theo hai con đường: các đợt sưu tầm, nhân bản, lưu trữ do nhà nước tổ chức và nhân bản tự phát theo nhu cầu sử dụng, truyền thừa kịch bản trong gia đình nghệ sĩ hoặc các gánh tuồng. Như một quy luật, thư tịch qua các đời không ngừng nảy sinh cái mới và những cái cũ cũng dần dần tàn khuyết hoặc mất mát hẳn đi. Văn bản tuồng, một bộ phận của thư tịch Hán Nôm hẳn cũng không nằm ngoài quy luật đó. Năm 1923, Đạm Phương nữ sử trong bài viết Lược khảo về tuồng hát An Nam(1) nêu rõ thực trạng: “… Không những đã ít người biết xem tuồng, mà tuồng cũng hao mòn không thành thiên tập cho người ta xem”. Đến như “Bộ tuồng Vạn bửu trình tường là một bộ tuồng có giá trị đặc sắc hơn hết trong các thứ tuồng, hỏi đến làng văn thơ Nôm không người nào là không biết cái tên vẻ vang ấy, nhà nào tấn thân sang trọng lại không trân tàng một vài chục quyển, đến bây giờ khó lòng mà kiếm được cho ra năm ba quyển, huống hồ toàn bích, ấy thế mới nên tiếc cho chưa!”.
Mặc dù vậy, sự hiện tồn của văn bản tuồng cổ ngày nay ngoài số đã bị hủy hoại không thể tìm lại được, phần còn lại bằng nhiều con đường đã có mặt trong các trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước, hoặc tư gia đã chứng minh rằng những cố gắng của con người qua các đời đã không uổng phí.
Nối tiếp tiền nhân, trong bài viết này chúng tôi mong muốn có thể đưa ra một cái nhìn về tình trạng văn bản tuồng cổ hiện nay thông qua việc khảo sát văn bản tuồng cổ hiện còn ở các địa điểm lưu trữ trong và ngoài nước. Vì điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ có thể khảo sát trực tiếp những văn bản tại: Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Phòng Tư liệu Nhà hát Tuồng Trung ương, Văn miếu Hà Nội, Nhà hát cung đình Huế, tư gia Nhà nghiên cứu Phan Thuận An. Thông tin về một số nơi lưu trữ như các thư viện ở nước ngoài, tư gia ông Quách Tấn, ông Bửu Thù v.v... được chúng tôi dẫn theo tài liệu nghiên cứu của các học giả, những trường hợp này được ghi chú rõ ràng. Khi có cơ hội khảo sát trực tiếp chúng tôi xin được tiếp tục bổ sung.
Có thể chia các địa điểm lưu trữ này thành 3 nhóm chính: Thư viện công trong nước, thư viện công nước ngoài, các nhà lưu trữ tư nhân. Các văn bản tuồng được thống kê thể hiện ở bảng dưới đây.
Trong bảng thống kê, tiêu chí thống kê là văn bản tuồng hiện tồn tại các nơi lưu trữ. Trên thực thế, một kịch bản tuồng cổ có nhiều truyền bản, các truyền bản được lưu trữ tại các nơi khác nhau. Nhiều trường hợp, một kịch bản tuồng bị tách thành nhiều hồi, các hồi lại cũng được phân tán lưu trữ ở nhiều nơi. Có khi, tưởng chừng cùng là 1 kịch bản, dùng cùng 1 chất liệu nội dung để sáng tác nhưng lại là 2 hệ văn bản khác hẳn nhau. Đây là trường hợp của hai tuyến kịch bản sử dụng chất liệu của Tam quốc chí. Một tuyến là các trích đoạn riêng biệt, hoàn chỉnh một tích truyện như Giang tả cầu hôn, Tiệt giang, Hoa dung tiểu lộ v.v... những trích đoạn này tồn tại như 1 vở độc lập, thường được diễn trong một đêm, chúng được nhóm lại với nhau vì cùng khai thác các tích truyện của Tam quốc chí. Tuyến thứ hai là pho tuồng trường thiên có tên là Tam quốc chí gồm 110 hồi liên tiếp bám sát theo nội dung của Tam quốc chí, các hồi liên hệ chặt chẽ với nhau về nhiều mặt, thường dùng để đọc như một tác phẩm văn học hơn là dùng để diễn. Do thực trạng lưu trữ phức tạp và công việc đọc duyệt các văn bản này không phải chỉ trong một sớm một chiều nên ở đây chúng tôi lấy tiêu chí thống kê là văn bản tuồng cổ chứ không phải là kịch bản tuồng. Như vậy, số kịch bản tuồng thực tế sẽ ít hơn nhiều so với số văn bản tuồng cổ (một kịch bản tuồng có thể có nhiều truyền bản được lưu trữ ở nhiều nơi, hoặc chỉ có 1 văn bản nhưng được chia thành nhiều phần lưu trữ ở những nơi khác nhau v.v...)
Trong bảng thống kê này, chúng tôi thu thập cả những văn bản tuồng cổ mang tính “lưỡng loại”. Tức là cùng một kịch bản có thể được dùng làm cơ sở để biểu diễn tuồng và chèo. Có thể kể đến những vở như Trương Viên tiết nghĩa diễn ca, Lưu Bình - Dương Lễ diễn ca v.v...
Trên cơ sở khảo sát sơ bộ, chúng ta có thông tin về 196 văn bản tuồng ở 17 cơ sở lưu trữ (trong nước và ngoài nước, công cộng hay tư nhân). Trong 196 văn bản tuồng này có nhiều văn bản cùng thuộc về một vở như Đinh Lưu Tú diễn ca được lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Bảo tàng Guimet (Paris), hai bản này một bản in ở Trung Quốc, một bản được chép tay, sai khác không nhiều; hoặc như vở Quần phương tập khánh (đệ nhất hồi) hiện còn 03 văn bản ở 03 nơi là Nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế, Viện Sân khấu (Đại học Sân khấu Điện ảnh), tư gia ông Quách Tấn, trong đó đáng chú ý là, theo chỉ dẫn của ông Quách Tấn trong Đào Tấn và hát bội Bình Định thì rất có thể bản ông đang giữ là bản gốc(2) v.v…
Nghiên cứu văn bản học những văn bản này cần nhiều thời gian và công sức, nhất là trong tình trạng văn bản phân tán tại nhiều nơi, khó có thể trong một lúc mà bao quát hết được. Tuy vậy, có thể nói, khảo sát, thống kê là cơ sở cho việc nghiên cứu những văn bản này. Đồng thời, đây cũng là bước đầu trên hành trình đưa ra một phác họa diện mạo kho văn bản tuồng cổ Việt Nam đối với kho tàng văn hóa quý báu của dân tộc không chỉ “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.
VĂN BẢN TUỒNG CỔ HIỆN CÓ