Thi Hương thời các chúa Nguyễn (Tạp chí Hán Nôm, số 2 (117) 2013 (tr.49 -59)
THI HƯƠNG THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN
TS. NGUYỄN THÚY NGA\
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Từ năm 1558 Nguyễn Hoàng xưng chúa ở vùng Thuận - Quảng mà sử thường gọi là Đàng Trong đến Nguyễn Phúc Thuần bị nhà Tây Sơn tiêu diệt năm 1777 gồm 9 đời chúa(1), cộng 219 năm. Trong suốt khoảng thời gian hơn hai thế kỷ ấy, các chúa Nguyễn đã có nhiều chính sách để củng cố lực lượng quân sự, mở mang bờ cõi về phía Nam, phát triển kinh tế lâu dài. Đối ngoại thì cố giữ quan hệ với vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và một số quốc gia(2); đối nội thì thực hiện chính sự rộng rãi để quy thuận lòng dân. Do đất đai ngày càng mở rộng, bộ máy cai trị đòi hỏi phải có người tài giỏi, vì vậy mà các chúa Nguyễn đã có quan tâm đến việc học tập, thi cử để kén chọn nhân tài giúp nước.
Dù sử sách không ghi chép nhiều về thi cử ở Đàng Trong, nhưng qua ba bộ sử chính: Đại Nam thực lục(3), Đại Việt sử ký tục biên(4) và Phủ biên tạp lục(5), chúng ta cũng có thể sơ bộ tìm hiểu về cách tuyển chọn người ở phía nam Đèo Ngang thời kỳ này. Gần đây một số nhà nghiên cứu như nhà sử học Trần Văn Giáp, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Chân Quỳnh v.v… trong các chuyên đề viết về khoa cử(6) cũng có điểm qua.
Từ nguồn tài liệu nói trên, chúng tôi cố gắng phác họa lại lịch sử khoa cử ở thời các chúa Nguyễn. Đồng thời kê họ tên một số ít ỏi người đỗ mà chúng tôi sưu tập được tính đến thời điểm này.
I. THI HƯƠNG THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN
Cả hai bộ sử nói trên đều ghi chép rất vắn tắt(7), nhưng Đại Nam thực lục - phần Tiền biên(8) lại ghi khá đầy đủ theo từng đời chúa, bắt đầu từ Nguyễn Phúc Nguyên. Phối hợp cả ba nguồn tài liệu, chúng ta có thể biết thi cử Đàng Trong hình thành và phát triển như sau:
1. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên(9)
Tháng 6 năm Nhâm Thân (1632) bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển theo lời xin của Đào Duy Từ(10), lược theo quy chế đời Hồng Đức: 6 năm một lần tuyển lớn, 3 năm một lần tuyển nhỏ. Kỳ tuyển lớn, học trò các huyện đều đến trấn dinh khảo thí một ngày. Phép thi: một bài thơ, một đạo văn sách. Quan trường: lấy Tri phủ, Tri huyện làm Sơ khảo, Ký lục làm Phúc khảo. Người thi đỗ cho làm Nhiêu học, miễn thuế 5 năm. Đó gọi là “Xuân thiên quận thí” (thi quận vào mùa xuân).
Lại thi Hoa văn(11), người nào đỗ được bổ làm việc ở ba ty Xá sai, Lệnh sử và Tướng thần lại(12).
2. Chúa Nguyễn Phúc Lan(13)
Tháng 7 năm Bính Tuất (1646), định phép thi 9 năm một kỳ. Học trò khoa Chính đồ(14) và khoa Hoa văn đều đến công phủ ứng thí.
Chính đồ: thi 3 ngày, ngày thứ nhất thi tứ lục, ngày thứ hai thi thơ phú, ngày thứ ba thi văn sách. Lấy văn chức, Tri phủ, Tri huyện làm Sơ khảo; Cai bạ, Ký lục, Nha úy làm Giám khảo; Nội tả, Nội hữu, Ngoại tả, Ngoại hữu làm Giám thí. Người đỗ thì làm danh sách trình lên chúa. Chúa chia làm 3 hạng Giáp, Ất, Bính. Hạng Giáp là Giám sinh, bổ Tri phủ Tri huyện; hạng Ất làm Sinh đồ, bổ Huấn đạo; hạng Bính cũng làm Sinh đồ, bổ Lễ sinh hoặc cho làm Nhiêu học suốt đời. Đó gọi là “Thu vi hội thí” (thi Hội mùa thu).
Hoa văn thi 3 ngày, mỗi ngày đều viết một bài thơ. Người đỗ cũng chia làm ba hạng, bổ làm việc ở ba ty Xá sai, Lệnh sử, Tướng thần lại và cho làm Nhiêu học.
Đến tháng 8 năm sau (1647), bắt đầu mở khoa thi. Lấy 7 người đỗ khoa Chính đồ, 24 người đỗ khoa Hoa văn(15).
3. Chúa Nguyễn Phúc Tần
Tháng giêng năm Kỷ Hợi (1659) Chu Hữu Tài(16) xin lập khoa thi võ, mở khoa thi Hương để thu dùng những người có học thức tài năng(17).
Tháng 3 năm Canh Tý (1660), mở khoa thi. Lấy 5 người đỗ khoa Chính đồ, 15 người đỗ khoa Hoa văn.
Tháng 2 năm Đinh Mùi (1667), mở khoa thi, lấy 5 người đỗ khoa Chính đồ, 14 đỗ khoa Hoa văn.
Tháng 4 năm Ất Mão (1675), mở khoa thi, lấy 4 người đỗ khoa Chính đồ, 17 người đỗ khoa Hoa văn. Lại mở khoa thi Thám phỏng, lấy đỗ 7 người. Phép thi khoa này chỉ một ngày, nội dung hỏi về tình trạng binh dân và tình hình vua Lê chúa Trịnh. Người đỗ bổ vào ty Xá sai. Thi Thám phỏng bắt đầu có từ đấy.
Tháng 2 năm Kỷ Mùi (1679), thi Nhiêu học. Chỉ thi học trò khoa Chính đồ, học trò Hoa văn không được dự.
Tháng 3 năm Quý Hợi (1683), mở khoa thi, lấy 4 người đỗ khoa Chính đồ, 34 người đỗ khoa Hoa văn, 4 người đỗ khoa Thám phỏng.
Tháng 2 năm Giáp Tý (1684),sai quan làm duyệt tuyển lớn. Bãi bỏ phép thi Nhiêu học ở tuyển trường, ra lệnh cho các học trò khoa Chính đồ ai có văn học thì đợi khoa thi mà ứng cử(18).
4. Chúa Nguyễn Phúc Trăn(19)
Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1689), sai các quan văn võ làm việc duyệt tuyển và lại cho học trò khoa Chính đồ cùng khoa Hoa văn tới tuyển trường ứng thí(20).
5. Chúa Nguyễn Phúc Chu
Tháng 3 năm Ất Hợi (1695), mở khoa thi, khoa Chính đồ lấy 5 người đỗ Giám sinh, 8 người đỗ Sinh đồ, 15 người đỗ Nhiêu học; 22 người đỗ khoa Hoa văn; 10 người đỗ khoa Thám phỏng. Giám sinh bổ văn chức và Tri huyện, Sinh đồ bổ Huấn đạo, Nhiêu học bổ Lễ sinh; Hoa văn bổ vào 2 ty: Tướng thần lại và Lệnh sử; Thám phỏng bổ vào ty Xá sai.
Tháng 8 tổ chức thêm khoa thi để thi văn chức và Tam ty ở sân phủ. Thi văn chức: kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Thi Xá sai ty: hỏi về số tiền thóc xuất nhập và việc ngục tụng xử quyết trong một năm. Thi hai ty Tướng thần lại và Lệnh sử: viết một bài thơ. Đình thí bắt đầu từ đấy.
Tháng 8 năm Tân Tỵ (1701), mở khoa thi, chúa ngự đề. Khoa Chính đồ: lấy đỗ 4 Giám sinh, 4 Sinh đồ và 5 Nhiêu học; khoa Hoa văn lấy 17 người; khoa Thám phỏng lấy 1 người. Giám sinh bổ Tri phủ, Sinh đồ bổ Tri huyện, Nhiêu học bổ Huấn đạo; Hoa văn và Thám phỏng bổ vào Tam ty(21).
Tháng 8 năm Đinh Hợi (1707), mở khoa thi, khoa Chính đồ lấy 3 Giám sinh, khoa Hoa văn lấy 3 người, khoa Thám phỏng lấy 5 người.
Đến tháng 12, chúa cho định 22 điều thể thức duyệt tuyển, trong đó việc học và thi quy định: học trò Chính đồ và Hoa văn, hơi thông văn học, am hiểu tính toán, thì cứ thượng tuần tháng 3, tề tựu ở phủ chính để ứng thí, ai đỗ cho làm Nhiêu học.
Tháng 4 năm Quý Tỵ (1713), thi Nhiêu học, lấy 97 người đỗ khoa Chính đồ, 41 người đỗ khoa Hoa văn
Tháng 8, mở khoa thi. Khoa Chính đồ, kỳ đệ nhị có 130 người, khảo quan đánh hỏng hết vì bất hòa; khoa Hoa văn và Thám phỏng lấy đỗ hơn 10 người. Chúa cho rằng khảo quan quá khắc, đặc biệt cho thi lại, tự mình ra đề mục. Lấy đỗ 1 Sinh đồ, bổ Huấn đạo; 7 người đỗ Nhiêu học, bổ Lễ sinh; những người đỗ Hoa văn và Thám phỏng thì bổ vào các ty: Tướng thần lại, Lệnh sử và Xá sai(22).
Tháng 8 năm Tân Sửu (1721), mở khoa Chính đồ, lấy 2 người đỗ Giám sinh(23).
6. Chúa Nguyễn Phúc Khoát
Tháng 8 năm Canh Thân (1740), định lại phép thi: kỳ đệ nhất thi tứ lục, ai đỗ là Nhiêu học, miễn tiền gạo và sai dịch 5 năm; kỳ đệ nhị thi thơ phú; kỳ đệ tam thi kinh nghĩa, người đỗ miễn phu dịch; kỳ đệ tứ thi văn sách, ai đỗ là Hương cống, bổ Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo(24).
7. Chúa Nguyễn Phúc Thuần
Tháng 8 năm Mậu Tý (1768), mở khoa thi Hương. Chưởng cơ lãnh Hình bộ sự Tôn Thất Dục làm Giám thí. Lấy Lê Chính Việp, Bạch Doãn Triều đỗ đầu, người đương thời cho là xứng đáng.
Xem “biên niên sử” về thi cử Đàng Trong, chúng ta có thể thấy, chỉ sau khi Nguyễn Hoàng lập cõi, chúa thứ hai Nguyễn Phúc Nguyên, vào tháng 6 năm Nhâm Thân (1632) đã bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển lấy người ra giúp chính quyền với 2 khoa thi: Chính đồ và Hoa văn. Khoa Chính đồ gọi là “Xuân thiên quận thí”. Người đỗ Chính đồ bổ làm quan, còn đỗ Hoa văn bổ làm lại.
Chúa thứ ba Nguyễn Phúc Lan, vào tháng 7 năm Bính Tuất (1646), định phép thi 9 năm một kỳ, vẫn thi 2 khoa Chính đồ và Hoa văn, khoa Chính đồ gọi là “Thu vi hội thí”.
Chúa thứ tư Nguyễn Phúc Tần chú ý hơn đến việc mở các khoa thi, và cũng có nhiều quy định hơn. Trong gần 40 năm ở ngôi, chúa đã mở 5 khoa thi Chính đồ và Hoa văn vào các năm Canh Tý (1660), Đinh Mùi (1667), Ất Mão (1675), Kỷ Mùi (1679) và Quý Hợi (1683). Khoa năm Ất Mão (1675), chúa còn cho mở thêm khoa Thám phỏng, đó là khoa đầu tiên mà các chúa sau vẫn lấy làm thông lệ. Đồng thời với việc mở rộng khoa thi thì chúa cũng đặt ra một số quy định, như khoa Kỷ Mùi (1679) chỉ thi học trò khoa Chính đồ, học trò Hoa văn không được dự. Hoặc khoa Giáp Tý (1684),sai quan làm duyệt tuyển lớn, bãi bỏ phép thi Nhiêu học ở tuyển trường, học trò khoa Chính đồ ai có văn học thì phải đợi khoa mà thi. Quy định ấy vô tình hạn chế học trò, làm dư luận bấy giờ bức xúc.
Chúa thứ năm Nguyễn Phúc Trăn muốn bồi dưỡng nhân tài nên bỏ quy định của chúa cha, lại thi hành chế độ cũ, cho học trò khoa Chính đồ và Hoa văn đều cùng được tới tuyển trường ứng thí. Bấy giờ học trò nghe tiếng, ai cũng nức lòng.
Chúa thứ sáu Nguyễn Phúc Chu cũng mở 5 khoa như thông lệ vào các năm: Ất Hợi (1695), Tân Tỵ (1701), Đinh Hợi (1707), Quý Tỵ (1713) và Tân Sửu (1721). Riêng khoa Quý Tỵ, kỳ đệ nhị các thí sinh bị quan trường đánh trượt hết, chúa đặc cách tự mình ra đề thi và lấy đỗ 1 Sinh đồ, 7 Nhiêu học. Tấm lòng cầu tài ấy cũng thể hiện ở quy định cho “học trò Chính đồ và Hoa văn, hơi thông văn học, am hiểu tính toán, thì cứ thượng tuần tháng 3, tề tựu ở phủ chính để ứng thí, ai đỗ cho làm Nhiêu học” (khoa Đinh Hợi).
Ngoài thi chính thức, chúa còn mở khoa thi dành riêng cho các quan ở sân phủ chúa và gọi là thi Đình(25).
Chúa thứ bảy Nguyễn Phúc Khoát theo chế độ thi Hương (Tiểu tỵ) 3 năm mở một khoa, và định lại phép thi mà chúng ta thấy gần giống như thi Hương ở Đàng Ngoài: gồm 4 trường, người đỗ được ban học vị Hương cống. Năm Canh Thân (1740) không có thi quận mà chỉ có thi Hội (Thu vi hội thí). Có một người đỗ khoa này mà sau đã trở nên nổi tiếng trên văn đàn thế kỷ XVIII với truyện Nôm Sãi Vãi. Đó là tác gia Nguyễn Cư Trinh(26).
Chúa thứ tám Nguyễn Phúc Thuần chính thức mở khoa thi Hương. Khoa đầu tiên của vị chúa này mở năm Mậu Tý (1768) đồng thời cũng là khoa thi cuối cùng của các Chúa Nguyễn Đàng Trong.
Từ những tư liệu trên, chúng ta có thể thấy việc thi cử ở Đàng Trong mới chỉ rất sơ khai, đơn giản, chưa thành hệ thống và chưa có hiệu quả. Dù chúa Nguyễn Phúc Chu có tổ chức một kỳ thi gọi là thi Đình, nhưng không đúng với nghĩa như thi Hội, thi Đình ở Đàng ngoài là nơi có truyền thống khoa cử từ lâu đời(27). Thực tế thì dù có được tuyển chọn và bổ dụng, những người thi đỗ cũng không mấy ai được trọng dụng hoặc bổ chức quan cao, càng hiếm người nổi tiếng(28). Các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng: “Những người có thực tài cần thiết để bổ sung cho bộ máy chính quyền Đàng Trong thông qua thi cử rất ít’’(29). Ngay từ thời ấy, nhà sử học danh tiếng Lê Quý Đôn đã có nhận xét: “Mỗi khi có mở kỳ thi, lấy số học sinh Hoa văn gấp năm lần Chính đồ(30). Các chức quan trọng đều do thân thích trông coi, dùng hạng Hoa văn làm chức phụ thuộc. Những hạng người được đỗ vào kỳ thu thí, khi làm Tri phủ, Tri huyện thì chỉ biết việc xử kiện; khi làm Ký lục chỉ biết việc thu thuế. Còn các công việc to lớn đều không được dự bàn. Đến hạng học sinh trẻ tuổi cũng không có nền giáo dục rèn luyện gì cả’’(31).
Cũng nói về sự trì trệ của thi cử Đàng Trong, sách Tục biên ghi rõ việc năm 1777, quan Trấn thủ Thuận Hóa là Phạm Ngô Cầu khải lên chúa Trịnh “xin mở trường thi Hương ở Thuận Hóa, cho học trò Quảng Nam phụ thi’’. Sau một thời gian, do nhận thấy việc học việc thi ở xứ này không phát triển nên ông lại tâu: “Thuận Quảng trải qua binh hỏa đã lâu, học nghiệp bỏ bễ. Đã niêm yết giấy hiểu thị nhiều ngày, chưa thấy một người nào nộp quyển thi. Xin làm việc tòng quyền: tùy theo sở trường của nho sĩ bản địa, tạm có ai thông văn thơ và nói được thời sự, thì tập hợp họ lại, khảo thí, liệu chọn lấy một số Hương cống, Sinh đồ, để cổ động người học tập. Triều đình bàn cho ty Trấn thủ khảo một lần, ra bài thơ phú, văn đoạn, chọn lấy quyển văn nào khá hơn thì cho làm Hương cống, còn người trung bình thì cho làm Sinh đồ’’. Triều đình “ban tỷ thư cho Cầu thi hành’’. Đó là cách tuyển người của chúa Trịnh sau khi thu phục đất Đàng Trong.
Dù việc học việc thi không mấy phát triển, nhưng đó vẫn là những cố gắng của các chúa Nguyễn trong việc mở mang Nho học đến miền đất mới và bước đầu tổ chức thi cử để kén chọn nhân tài. Đó cũng là cơ sở để khi nắm quyền cai trị đất nước, các vua nhà Nguyễn đã tổ chức một cách quy mô cho đến khi nền khoa cử chữ Hán kết thúc năm 1919.
II. HỌ TÊN MỘT SỐ NGƯỜI THI ĐỖ
Quá trình tìm hiểu người đỗ Hương cống thời Lê, chúng tôi cũng chú ý tìm kiếm người đỗ Hương cống thời chúa Nguyễn. Từ các nguồn tài liệu như: Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam thực lục tiền biên, Kiến văn tiểu, Phủ biên tạp lục, Đại Nam nhất thống chí v.v... chúng tôi mới chỉ sưu tập được một số, dù rất ít ỏi. Nhận thấy đây là tài liệu quý nên trong bài viết này, chúng tôi xin kê danh sách đó.
1. NGUYỄN CƯ TRINH 阮居貞(1716 - 1763)
Tự là Nghi 儀, hiệu Đạm Am 淡庵và Hạo Nhiên.
Người xã An Hòa huyện Hương Trà, nay thuộc huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tổ 8 đời là Trịnh Cam, quê ở làng Phù Lưu Trường huyện Thiên Lộc, nay là xã Ích Hậu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Trịnh Cam làm quan với triều Lê đến chức Thượng thư Bộ Binh. Khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, bèn lánh vào Thuận Hóa. Con cháu về sau nhập tịch ở xã An Hòa. Đến cha ông là Nguyễn Đăng Đệ làm quan có tiếng tốt, có tài văn học, được chúa yêu mến ban cho quốc tính. Từ đây con cháu mang họ Nguyễn. Ông là con thứ 3 Sinh đồ Nguyễn Đăng Đệ, em họ(32) Hương tiến Nguyễn Đăng Thịnh.
Thi đỗ Hương cống(33) khoa Canh Thân (1740) đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Làm quan trải các chức: Tri phủ phủ Triệu Phong, sau được thăng văn chức, gặp việc dám nói, có phong độ của một gián quan đời xưa. Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng đế vừa lên ngôi vương(34), điển chương pháp độ đều do Nguyễn Đăng Thịnh định ra, còn văn thư từ lệnh do Cư Trinh soạn thảo. Năm Canh Ngọ (1750) thăng Tuần phủ Quảng Ngãi. Lúc bấy giờ man Đá Vách nhiều lần vào cướp phá biên giới, quan quân đánh mãi không dẹp được, ông viết thư phủ dụ chúng cũng không chịu ra hàng. Ông bèn làm truyện Sãi vãi bằng quốc âm đưa cho họ xem rồi tiến đánh. Người man ra hàng, ông cho phủ dụ rồi rút quân về, được chúa rất ngợi khen. Năm Tân Mùi (1751) dâng thư tâu về tình trạng khổ cực của dân gian, nhân lại trình bày bốn cái tệ lâu ngày của quan quân. Sớ dâng lên không thấy trả lời, ông bèn xin từ chức. Chúa triệu về, đổi làm Ký lục dinh Bố Chính. Năm Quý Dậu (1753) cùng Cai đội Thiện Chính đem quân đánh Nặc Ông Nguyên (Chey Chettha V) của Chân Lạp. Nặc Ông Nguyên thua, xin dâng hiến đất hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp. Chúa còn lưỡng lự, ông tâu xin đem hai phủ đó làm châu Định Viễn, chúa ưng thuận. Đất đai phía nam đến lúc ấy mở rất rộng, đều là công lao của ông. Năm Ất Dậu (1765) Duệ Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Thuần) nối ngôi, triệu ông về thăng làm Lại bộ kiêm Tào vận sứ, tước Nghi Biểu hầu. Mùa hạ năm Đinh Hợi (1767) ông mất, thọ 52 tuổi. Sau khi mất được tặng Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Chính trị thượng khanh, Tham nghị. Được ban thụy là Văn Định. Đến năm Minh Mạng thứ 21 (1840), ông được truy tặng là Khai quốc công thần, Hiệp biện Đại học sĩ, đổi ban tên thụy thành Văn Cách, truy phong tước Tân Minh hầu(35), cho tòng tự ở Thái miếu (Huế).
Ông là người có tài văn chương, thao lược, thông minh hơn người, 11 tuổi đã biết làm văn. Giỏi làm thơ đề vịnh, văn chương nhã đạm đúng phép tắc, danh tiếng sánh ngang với người anh con bác là Nguyễn Đăng Thịnh. Khi giữ chức Tham mưu ở Gia Định, ông là bạn thơ với danh sĩ trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ, có họa lại 10 bài thơ vịnh cảnh Hà Tiên. Ngoài ra ông còn đề vịnh nhiều, như: Đề Tùng lung, Vịnh lương nữ tẩy túc, bốn bài thơ tả bốn cảnh thú vị (Ngư, Tiều, Canh, Mục), Họa thơ Trường Khanh đời Đường khi đi qua nhà Gia Nghị ở Trường Sa, Dạ ẩm thi, Mộ vu lưu khách thi, Đáp Hà Tiên Mạc Tổng binh thư. Nhà sử học danh tiếng Lê Quý Đôn từng ưu ái nhận xét về ông trong hai tác phẩm nổi tiếng của mình là Phủ biên tạp lục và Kiến văn tiểu lục như sau: “Xứ Thuận Hóa có Nghi Biểu hầu Nguyễn Cư Trinh có tài cán chính trị và kinh tế. Về thời Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, Cư Trinh được giữ chức Tuần phủ Quảng Ngãi. Ông ở ngoài biên thùy 11 năm, danh vọng lừng lẫy ở khắp vùng Hà Tiên và Gia Định’’. Còn trong mục Thiên chương, Lê Quý Đôn nhận xét: “Văn sĩ Thuận Hóa như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Quang Tiền, Ngô Thế Lân thơ văn phần nhiều đáng được để ý”(36).
Tác phẩm: Đạm Am thi tập, Sãi vãi (Nôm), Vịnh sử thi tập, Quảng Ngãi thập vịnh, Hà Tiên thập vịnh. Một số thơ văn của ông được chép rải rác trong các sách: Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục (chép 2 bài thơ xướng họa với Mạc Thiên Tứ), Nam hành ký đắc tập, Thi văn toản yếu, Hoàng Việt phong nhã thống biên (68 bài)(37).
2. NGUYỄN ĐĂNG THỊNH 阮登盛(1716 - 1763)
Tự là Hương 香, hiệu Chuyết Trai 拙齋.
Người xã An Hòa huyện Hương Trà, nay thuộc huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên - Huế(39). Anh họ(40) Hương cống Nguyễn Cư Trinh, cháu gọi Sinh đồ Nguyễn Đăng Đệ bằng chú.
Đỗ Hương tiến(41) khoa Tân Sửu đời chúa Hiển Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Chu) thứ 30 (1721). Làm quan đến chức Tri huyện huyện Hương Trà. Kế được triệu về làm việc ở Văn chức viện. Đầu đời chúa Túc Tông (Nguyễn Phúc Chú hoặc Thụ), năm 1725 sung làm Thị giảng Đông cung cho Thế tử. Năm Canh Tuất (1730) thăng Đô tri. Năm Tân Hợi (1731) làm Cai bạ Quảng Nam. Năm Ất Mão (1735) triệu về thăng chức Nha úy. Dạy Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát) học kinh sử, năm Giáp Tý (1744) Thế Tông bắt đầu lên ngôi vương(42), bài biểu của quần thần khuyên chúa lên ngôi là do ông soạn ra. Do có công sách lập nên được thăng chức ở Lễ bộ kiêm Lại bộ. Năm Ất Hợi (1755), mất tại chức. Thọ 62 tuổi. Được tặng Chính trị thượng khanh, Tham nghị.
Nguyễn Đăng Thịnh từ nhỏ thông minh, nhớ dai, học rộng văn hay, văn chương nổi tiếng một thời, từ lệnh của triều đình đều do một tay ông soạn thảo. Phàm phẩm phục quan chức, nghi lễ triều đình, chế độ một phen đổi mới, phần lớn do ông góp sức định ra.
Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương nhận xét: “Văn sĩ Thuận Hóa như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Quang Tiền, Ngô Thế Lân thơ văn phần nhiều đáng được để ý”. Tục biên ghi “Lời thơ khắc khổ ảm đạm, từ điệu cũng khá”.
Tác phẩm: Hiệu tần thi tập, Chuyết Trai văn tập, Chuyết Trai vịnh sử, Vịnh sử thi tập (hiện đều chưa tìm thấy) và một số bài thơ vịnh sử chép trong Phủ biên tạp lục(43).
3. VŨ DANH THẾ
Người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Thủ khoa Vũ Đình Phương.
Đỗ Hương tiến đời chúa Nguyễn. Làm quan đến chức Tri phủ phủ Quy Ninh(44).
4. VŨ ĐÌNH PHƯƠNG
Người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Con Hương tiến Vũ Danh Thế.
Từ nhỏ ham học hỏi, giỏi văn chương, 18 tuổi thi Hương đậu Thủ khoa trong đời Thần Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Lan). Ông thấp lùn, đầu to, người ta gọi là “Cống đầu”(45). Khi chúa triệu vào gặp, thấy ông có dáng mạo xấu xí không dùng. Ông về quê rộng đọc kinh sử, rất thạo binh thư. Năm 50 tuổi được nhận chức Ký lục dinh Quảng Bình, sung chức tham mưu ở biên giới, quản quân hai vệ, theo Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến đem quân ra đánh chiếm được 7 huyện ở Nghệ An. Năm Thái Tông thứ 9 (1657) đi sứ viếng tang chúa Trịnh Tráng. Thọ 90 tuổi (Đại Nam nhất thống chí ghi “bị chết trận”). Sau khi chết được tặng chức Thái thường tự khanh(46)
5. VŨ XUÂN SUYỀN
Người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha sinh đồ Vũ Xuân Nùng và Hương cống Vũ Xuân Đàm.
Đỗ Hương cống khoa Ất Hợi(47)1695) đời chúa Hiển Tông (Nguyễn Phúc Chu). Làm quan đến chức Tuần phủ phủ Quy Nhơn(48).
6. VŨ XUÂN ĐÀM
Người huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Con Hương cống Vũ Xuân Suyền, em Sinh đồ Vũ Xuân Nùng.
Đỗ Hương tiến. Làm quan đến chức Tuần phủ phủ Quy Nhơn(49).
7. PHẠM HỮU KÍNH
Người huyện Diên Phước thuộc Quảng Nam.
Đầu đời Thế Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Khoát) thi Hương, dự hạng trúng cách, lại đỗ cả khoa Hoa văn về việc viết chữ tốt. Được bổ làm giáo chức, sau ra nhậm chức ở Nha Trang. Ông làm chính sự công bằng, thanh liêm, cuộc sống đạm bạc. Ông lại giỏi xét đoán, có thể chỉ ra điều gian, phát giác điều kín khiến thuộc lại và dân rất nể sợ. Năm 1751 được triệu về kinh làm Cai bạ Quảng Nam. Sau khi chết được tặng Tán trị công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Chính trị thượng khanh, Tham nghị. Thụy Văn Hiến(50).
8. HỒ QUANG ĐẠI
Lại có tên là Hán Châu (Đại Nam nhất thống chí ghi là Hồ Hán Lâm).
Người huyện Hương Trà thuộc Thừa Thiên.
Thi đỗ Thủ khoa khoa Nhâm Thìn (1652) đời chúa Thái Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Tần). Được bổ làm Văn chức viện, năm thứ 8 (1656) bổ chức Tri huyện huyện Phú Vang, năm 11 (1659) thăng Tri phủ phủ Thăng Hoa, lại triệu về kinh thăng Thị giảng Kinh diên. Sau khi mất được tặng là Phụ chính an biên phúc đức quốc sư(51).
9. ĐẶNG ĐẠI ĐỘ
Người huyện Phong Đăng thuộc Quảng Bình
Đỗ Hương tiến thời chúa Nguyễn. Được bổ làm Văn chức, cùng làm quan đồng triều với cha. Đời chúa Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 10 (1748) làm Ký lục dinh Bình Khang, năm thứ 23 (1761) làm Ký lục Quảng Nam rồi Trấn Biên, thăng Tuần phủ Gia Định. Lại chuẩn cho đi tuần khắp năm phủ, được quyền thăng giáng quan lại. Mất tại chức.
Ông nổi tiếng về học hạnh, làm quan thanh liêm, được đời khen ngợi(52).
10. TRẦN PHƯỚC THÀNH (?-1775)
Người huyện Hòa Vang thuộc Quảng Nam.
Còn có tên là Đại Tấn.
Ông giỏi cưỡi ngựa, hàng ngày cưỡi ngựa làm vui. Năm 18 tuổi, gặp lúc Sinh đồ Vũ Xuân Nùng mở trường dạy học, được cha cho đến thụ giáo. Ông thông minh, nhớ dai, đọc qua là nhớ, chỉ vài ba năm đã thuộc lòng kinh sử không sót một chữ, người ta gọi là “Chiêu hòm sách”. Gặp kỳ thi Hương, đỗ thủ khoa. Đời chúa Duệ Tông Hoàng đế (Nguyễn Phúc Thuần) làm Hàn lâm viện Thị giảng, năm 1767 thăng Ký lục Quảng Nam. Năm 1770 man Đá Vách cướp bóc biên giới, triều đình cử ông làm Khâm sai Cai bạ đi tuần năm phủ, tham mưu việc đánh dẹp, điều khiển tướng sĩ dẹp yên. Năm 1772 làm Khâm sai Tham tán các đồn dinh ở Gia Định. Năm 1775 mất tại ngũ. Năm Gia Long thứ 5 (1806) đưa di cốt về táng tại quê là làng Hóa Khê tỉnh Quảng Nam. Năm thứ 9 (1810) cho đưa vào thờ ở miếu Trung tiết công thần.
Tự Trọng Chiêu(53).
11. LÊ CHÍNH VIỆP
Không rõ quê quán.
Đỗ đầu thi Hương khoa Mậu Tý (1768), năm thứ 3 đời chúa Nguyễn Phúc Thuần(54).
12. BẠCH DOÃN TRIỀU
Không rõ quê quán.
Đỗ đầu thi Hương khoa Mậu Tý (1768), năm thứ 3 đời chúa Nguyễn Phúc Thuần(55).
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, biên chép lịch sử từ thời các chúa Nguyễn đến các vua nhà Nguyễn. Viện Sử học dịch chú.
(8) Viết tắt Thực lục - Tiền biên, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính. Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, 2001.
(30) Khoa năm 1647: lấy 7 Chính đồ và 24 Hoa văn; khoa năm 1660: lấy 5 Chính đồ và 15 Hoa văn; khoa năm 1667: lấy 5 Chính đồ và 14 Hoa văn v.v…
(37) Tham khảo: Tục biên, 29b; Đại Nam liệt truyện tiền biên (q.5,5a; Bd, tr.200); Thực lục - Tiền biên, q.10; Kiến văn tiểu lục (q.4 Thiên chương. Bd, tr.274); Phủ biên tạp lục (Bd, tr.305); Đại Nam nhất thống chí (Bd, T1, tr.221); Hoàng Việt phong nhã thống biên; Lược truyện các tác gia Việt Nam (T1, tr.322); Danh nhân Bình Trị Thiên (T1, tr.38); Từ điển tác gia Việt Nam, tr.736; Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, tr.106; Nguồn Internet.
(43) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.199); Tục biên, 70b; Kiến văn tiểu lục (q.4 Thiên chương. Bd, tr.274); Phủ biên tạp lục (Bd. tr.351); Đại Nam nhất thống chí (T1, tr.221); Lược truyện các tác gia Việt Nam (T1, tr.323). Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, tr.71;
(44) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.222).
(46) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.222), Đại Nam nhất thống chí (T2, tr.72).
(50) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.225).
(51) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.228), Đại Nam nhất thống chí (T1, tr.222).
(52)(53) Tham khảo: Đại Nam liệt truyện tiền biên (Bd, tr.230), Đại Nam nhất thống chí (T2, tr.72).
(54)(55) Tham khảo: Thực lục - Tiền biên, q.11.
THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO
1.Hoàng Việt phong nhã thống biên, A.1798.
2.Bảng đối chiếu âm dương lịch 2000 năm và niên biểu lịch sử, Nguyễn Trọng Bỉnh... Nxb. KHXH, H. 1976.
3.Danh nhân Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hóa, Huế - 1986.
4.Quốc sử quản triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện tiền biên, Cao Tự Thanh dịch và chú thích, Nxb. KHXH, H. 1995.
5.Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, Phạm Trọng Điềm dịch chú, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1992.
6.Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, Tổ phiên dịch Viện Sử học.
7.Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long, Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1991.
8.Khoa cử Việt Nam (Quyển thượng) Thi Hương, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Nxb. Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Tp. HCM, 2003
9.Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch, Nxb. Sử học, 1962.
10.Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học, T.4, Nxb. KHXH, H. 2007.
11.Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1971.
12.Nhà sử học Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1996.
13.Phủ biên tạp lục, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007.
14.Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nxb. Văn hóa, H. 1999.
15.Nguồn Internet./.
(Tạp chí Hán Nôm, số 2 (117) 2013 (tr.49 -59)