Vài nét về văn xuôi Nôm trên tư liệu văn bia (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (74) 2006; Tr.52-62)
Chủ Nhật, 12/11/2006 20:50
Bài tạp chí
VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI NÔM TRÊN TƯ LIỆU VĂN BIANGUYỄN THỊ HƯỜNGThS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm Ngôn ngữ thể hiện trong chữ Nôm phần lớn là thơ phú và biền văn [49]. Những tư liệu văn xuôi Nôm thực sự còn chiếm số lượng khá khiêm tốn. Theo những nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọ, có thể có văn xuôi hay dịch phẩm bằng văn xuôi Nôm thời Lý - Trần [48]. Cho đến nay, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh là một văn bản văn xuôi Nôm cổ nhất mà chúng ta có được. Tuy nhiên, các câu văn xuôi chịu ảnh hưởng nặng nề của văn pháp Hán, trong câu còn dùng nhiều từ Hán. Sang thế kỷ XVI, xuất hiện dịch phẩm văn xuôi Nôm: Cổ Châu Pháp Vân bản hạnh ngữ lục và Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Sự ra đời của cuốn Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII đánh dấu một bước phát triển về ngôn ngữ, từ dịch kinh Phật sang dịch văn học. Những câu văn xuôi Nôm trong Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú có xu hướng nghiêng về cú pháp Việt, xa dần văn phạm Hán, số từ thuần Việt tăng, lời văn mượt mà dễ hiểu. Cuối thời Lê, người ta hay nhắc đến bản Quốc thư của Lê Bá Ly, với nội dung chiêu dụ tướng Mạc. Đầu thế kỷ XIX, chúng ta thấy xuất hiện tác phẩm diễn Nôm tiểu thuyết chương hồi Việt Nam khai quốc chí có nhan đề Việt Nam khai quốc chí diễn âm. Tiếp đó là cuốn Công dư tập kỷ diễn âm, diễn Nôm từ tác phẩm Công dư tập ký và sự ra đời của hàng loạt truyện văn xuôi Nôm như: Hội đồng tứ giáo danh sư, Thầy Larô Phiên... Đó là sự bùng nổ về số lượng văn xuôi Nôm tiếp ứng với hiện tượng văn hóa mới. Tuy nhiên, tư liệu văn xuôi Nôm còn nghèo nàn. Vì vậy, chúng ta cần phải khai thác văn xuôi Nôm ở mọi chất liệu, mỗi không gian sáng tác lại có một sắc thái riêng. Trong các nguồn tư liệu đó, chúng tôi quan tâm đến nguồn tư liệu văn bia. Bài viết dưới đây mong muốn đóng góp một phần nhỏ nhoi vào việc nhận xét sự phát triển của văn xuôi Nôm thông qua tư liệu văn bia. 1. Diện mạo văn xuôi Nôm trên bia đá Văn xuôi Nôm trên bia đá nằm trong chỉnh thể văn xuôi Nôm Việt Nam nói chung. Tiêu chí lựa chọn tư liệu của chúng tôi là: tất cả những văn bản có chép đoạn văn xuôi bằng chữ Nôm, nhiều hơn đơn vị câu, đủ sức chuyển tải một nội dung trọn vẹn. Chúng tôi sưu tầm từ những đơn vị nhỏ nhất có thể coi là đoạn văn xuôi, mong muốn đi từ những chứng tích đầu tiên, để hình dung được quá trình phát triển của văn xuôi Nôm. Hiện nay, chúng tôi thu thập được 47 văn bia khắc văn xuôi Nôm. Do tính chất cần thiết và tiêu biểu của các văn bản, trong bài viết này, chúng tôi xin khảo sát 22 văn bia khắc văn xuôi Nôm. Trong số những văn bia khắc văn xuôi Nôm hiện có, xét về mặt niên đại, chúng tôi mới tìm thấy thế kỷ XVII có 3 văn bia: văn bia có niên đại sớm nhất là Đỗ Xá xã bi ký 杜 舍 社 碑 記 [1], niên đại 1652; tiếp đó là văn bia Tân tạo bi ký các bức đẳng từ 新 造 碑 記 各 幅 等 詞 [2], niên đại 1657; Bản xã tạo lập lệ tịch khoán ước các điều bi văn 本 社 造 立 例 席 券 約 各 條 碑 文 [3], niên đại 1693. Thế kỷ XVIII có 2 văn bia: Ngự chế 御 製 [4], niên đại 1730; Hậu thần bi ký 后 神 碑 記 [5], niên đại 1780. Còn lại đều là văn bia thời Nguyễn, nhiều bài không ghi niên đại, nhưng khi khảo cứu văn bản, dựa vào văn phong, chữ viết và đặc điểm trang trí, chúng tôi xếp vào văn bia thời Nguyễn. Những văn bia thời Nguyễn có niên đại đều là đầu thế kỷ XX. Bia có niên đại muộn nhất là 1950. Dưới đây, chúng tôi xin có một số nhận xét sơ lược về văn xuôi Nôm trên bia đá qua các thời kỳ. 1.1. Văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XVII Qua khảo sát 3 bài văn xuôi Nôm trên bia đá hiện sưu tầm được (như đã nêu ở trên), chúng tôi nhận thấy một số hiện tượng về từ vựng và ngữ pháp như sau: - Xen kẽ trong các câu văn xuôi Nôm, tác giả vẫn phải dùng những câu văn Hán, diễn đạt theo kiểu Nôm; hoặc những cụm từ Hán. - Vị trí của tính ngữ và danh từ (nói cách khác là định ngữ và danh từ trung tâm) trong các ngữ danh từ phần lớn là ảnh hưởng cách cấu trúc của Hán văn. Vd: "Đỗ Xá xã /" 杜 舍 社 xã Đỗ Xá, "để xứ 底 處" <=> xứ đấy, "Cự Bát xã 巨 钵 社" <=> xã Cự Bát /1 /... So với số lượng các ngữ danh từ hiện có trong các đoạn văn Nôm chiếm tới khoảng 70%. - Điểm đặc biệt là việc mượn dùng một số từ Hán như là một yếu tố của tiếng Việt trong các câu văn Nôm như: "Kỳ" được dùng làm đại từ với nghĩa "ấy", "đó" trong các câu như kiểu "Kỳ Thổ Ngõa thôn 其 土 瓦 村" [2] (cái thôn Thổ Ngõa ấy), "Kỳ Tạ Văn Trọng 其 謝 文 重" [1] (cái ông Tạ Văn Trọng ấy). Hay là cách dùng “kỳ nhưng” trong câu "Dân đã lời ý thì chớ [ ] ta về, kỳ nhưng nhật phủ quan nha môn tham tài quá vậy 民 意 時 渚 [ ] 些 , 其 仍 日 府 官 衙 門 貪 財 過 丕"[2]. “Khiến" với nghĩa là sai; "ưng khiến": đồng ý cho. "Sự" với nghĩa là “việc” như trong câu "sự đê thời mặc đôi làng chẳng biết về đâu 事 堤 時 默 堆 廊 庄 別 兜" [2]. "Hiệu là" với nghĩa là “gọi là”. Những cách dùng từ này không thấy có trong cấu trúc Hán văn. Dưới góc độ nào đó, có thể coi những từ kiểu này là từ cổ. - Chúng tôi thấy có một số từ Việt cổ như: "đôi" trong câu "đôi làng chúng tôi 堆 廊 眾 碎"[2] với nghĩa là "hai"(1). Từ "rày" trong "đến rày toa rập im liền 典 唆 習 厭 連" [2], với nghĩa là "nay, lúc này, bây giờ". - Về vấn đề hư từ, nhìn chung các câu văn dùng ít hư từ, chủ yếu là các hư từ ở cuối câu, biểu thị ngữ khí (vậy, thôi, đấy). Như vậy, ở vào thế kỷ XVII, văn xuôi Nôm chưa thực sự trở thành một hình thức diễn đạt hoàn chỉnh. Những lời văn Nôm được chép lẫn trong bia thực chất chỉ là lời thoại được đưa vào văn viết. Có hai bài là lời thề bằng chữ Nôm, một bài mô tả sự diễn giải của các nhân chứng trong một vụ kiện. Tuy nhiên, chúng tôi có thể tạm coi đây là những chứng tích đầu tiên của việc xuất hiện văn xuôi Nôm trên văn bia. Dưới đây là một đoạn trong ba đoạn văn được khảo sát:
碎 於 某 府 縣 社, 先 碎 羅 某 年 生 于 歲. 碎 於 共 行 社, 茹 碎 旆 於 冷 共 飭 共 行 社. 或 碎 庄 如 丕 碎 於 奸 磊 券 約 悶 朱 益 己 害 人, 碎 戰 泖 尼 願 朱 諸 尊 位 打 碎 朱 碎 折. 誓 文. 維. (Tôi ở mỗ phủ huyện xã, tên tôi là mỗ, niên sinh vu tuế(2). Tôi ở cùng hàng xã, nhà tôi phải ở ngay lành cùng [mới] sức cùng hàng xã. Hoặc tôi chẳng như vậy, tôi ở lòng gian dối khoán ước, muốn cho ích kỷ hại nhân, tôi uống chén máu này vào, nguyện cho chư tôn vị đánh tôi cho tôi chết. Thệ văn(3). Duy(4). [3]) 1.2. Văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XVIII Thế kỷ XVIII, văn xuôi Nôm trên bia đá có lẽ đã có những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, những cứ liệu mà chúng tôi thu thập được còn quá ít để đi đến một sự khẳng định. Căn cứ vào những tư liệu hiện có, chúng tôi chỉ có thể khảo sát được trên hai tấm bia (đã nêu ở trên). Qua khảo sát văn xuôi Nôm trên hai tấm bia này, chúng tôi đi đến những nhận xét sau: - Hai tác giả khi diễn đạt theo văn Nôm vẫn sử dụng một số cụm từ, câu văn chữ Hán có tính chất khuôn thức như: "đán tịch truân cần 旦 夕 訰 勤"[4], "thụy thế phúc nhân 瑞 世 福 人"[4], "tử đạo đa khuy 子 道 多 虧", "mậu ngôi thất hỗ 戊 嵬 失 怙"[5], "hữu phụ mẫu nhiên hậu hữu thử thân 有 父 母 然 後 有 此 身"[5], "vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ 物 本 乎 天 人 本 乎 祖"[5]... Bên cạnh đó là những mẫu câu thường thấy trong văn bia Hậu thần, Hậu phật: "tịnh vi Hậu thần 並 為 后 神", "tịnh vi Hội chủ 並 為 會 主", "hựu xuất gia tài cổ tiền nhị thập quan 又 出 家 財 古 钱 二 十 貫", "tự tăng nhậm thủ vạn đại hậu thế 寺 僧 任 取 萬 代 後 世", "đệ tại bản giáp kỳ các nhật oản quả cúng tất 遞 在 本 甲 其 各 日 供 畢"[5]... Tác giả còn Việt hóa một số từ thường dùng trong Hán văn như: "Cụ" < “các điều tế tự cụ tại bi ký 各 條 祭 祀 具 在 碑 記”[5]>, "niệm cập"(5) < “niệm cập song thân phụ mẫu 念 及 雙 親 父 母”[5]>, "ấu xung"(6) < “khi còn ấu xung chưa được phụng dưỡng cha mẹ 欺 群 幼 冲 渚 特 奉 養 吒 ”[5]>, "tảo lạc" < “chẳng may tảo lạc 拯 梅 早 落”[5]>, "kính hứa"< “kính hứa bản giáp 敬 許 本 甲”[5]>, "đệ niên"(7) < “đệ niên chỉnh biện các lễ 遞 年 整 辨 各 禮”[5]>. - Về cấu trúc tính ngữ và danh từ, ở hai văn bia này, chúng tôi thấy ít xuất hiện những cấu trúc ảnh hưởng theo kiểu cấu trúc trong Hán văn. Trong các ngữ danh từ, đa phần trung tâm ngữ đã được đặt trước theo Việt văn. Chỉ còn lại một số trường hợp mà chúng tôi kể đến ở đây. Đó là những câu quen thuộc trong văn bia: "Thanh Oai huyện, Hữu Thanh Oai xã, Chu Xá thôn Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim tự ghi rằng 青 威 縣 右 青 威 社 朱 舍 村 右 提 點 段 廷 金 自 記 浪", "Giáp thượng hạ đại tiểu 甲 上 下 大 小" [5].- Về hư từ, trong cả hai bài văn xuôi Nôm này, các tác giả dùng rất ít hư từ. Những hư từ được dùng có thể kể là: "vả lại" < “vả lại niệm cập song thân phụ mẫu 吏 念 及 雙 親 父 母/”[5] > với ý nghĩa là một từ chuyển chiết; "mà", "tịnh" (tịnh vi.., tịnh ký...) với ý nghĩa là một liên từ; "thửa" < “cũng trong đồng bào thửa sinh 拱 瑇 同 胞 所 生”[5] /> với ý nghĩa sở hữu; "chớ nữa" < “chớ nữa điều chi mà chẳng như ước 渚 女 調 之 拯 如 約”; “van ai chớ nữa ai 栕 埃 渚 女 埃”[5]> với ý nghĩa khuyên can. Để có cái nhìn toàn diện về văn xuôi Nôm thời kỳ này chúng tôi xin trích dẫn dưới đây một đoạn văn trong bài văn bia của Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim:
有 父 母 然 後 有 此 身. 慇 本 村 叶 保 父 母 雙 親 並 為 后 神. 各 條 祭 祀 具 在 碑 記. 節 尼 本 村 些 廚 頹 弊, 善 男 信 女 共 脩 葺. 吏 念 及 雙 親 父 母, 欺 群 幼 冲 渚 特 奉 養 吒 裴 . 丕 固 出 家 財 古 錢 一 百 貫 會 主 朱 顯 考, 封 贈 總 兵 使 司 段 貴 公 青 嶺 侯 字 福 正, 顯 妣 封 贈 貞 人 阮 氏 行 號 慈 好, 並 為 會 主. (Hữu phụ mẫu nhiên hậu hữu thử thân. Năm trước ơn lòng trong bản thôn đã hiệp bầu phụ mẫu song thân tịnh vi Hậu thần. Các điều tế tự cụ tại bi ký. Tiết này, bản thôn ta, chùa trong đồi tệ, thiện nam tín nữ cùng lòng tu tập. Vả lại niệm cập song thân phụ mẫu, khi còn ấu xung chưa được phụng dưỡng cha mẹ miếng bùi, miếng ngọt. Vậy có xuất gia tài cổ tiền nhất bách quan làm hội chủ cho Hiển khảo, phong tặng Tổng binh sứ ti Đoàn quý công Thanh Lĩnh hầu tự Phúc Chính, Hiển tỷ phong tặng Trinh nhân Nguyễn thị hàng, hiệu Từ Hiếu, tịnh vi hội chủ. [5]) Như vậy, qua sự xuất hiện của hai bài văn xuôi toàn Nôm, chúng ta có thể nhận định rằng vào thế kỷ XVIII, văn xuôi Nôm trên bia đá đã phát triển. 1.3. Văn xuôi Nôm trên bia đá cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, số lượng văn xuôi Nôm trên bia đá nở rộ. Hiện nay, chúng tôi đã sưu tập được 42 bài văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XX, và có lẽ con số đó sẽ không dừng lại. Chúng ta đã thấy những bài ký tả cảnh, những bài ký ghi công, gửi giỗ diễn đạt bằng văn xuôi Nôm mạch lạc dễ hiểu. Do mức độ tiêu biểu khác nhau, ở phần này, chúng tôi lựa chọn 16 văn bia để khảo sát. Đó là các văn bia: Đồng Quang tự bi ký 同 光 寺 碑 記[7], An Duyên xã đại bi 安 沿 社 大 碑[8], Khải Định thất niên nhuận ngũ nguyệt thập nhất nhật bi ký 啟 定 七 年 閏 五 月 十 一 日 碑 記[10], Khải Định bát niên nhị nguyệt thập nhật lập bi ký 啟 定 八 年 二 月 十 日 立 碑 記[11], Trùng tu Hương Tích tự bi 重 修 香 跡 寺 碑[13], Danh phương thiên tải 名 方 千 載 [15], Di chúc bi văn 遺 囑 碑 文[16], Lê Thị Quyên thư bi ký 黎 氏 娟 姐 碑 記 [17], Bia ghi công 碑 記 功[22], Công tộc 1939 公 族 1939 [23], Bia ghi công 碑 記 功 [24], Đại Bi tự điều lệ chí 大 悲 寺 条 例 誌 [25], Nam mô A di đà Phật 南 無 阿 彌 陀 佛 [26], Hậu kị bi ký 后 忌 碑 記 [27], Bia truyền đăng chùa Linh Ứng 碑 傳 燈 廚 靈 應 [34], Công đức bi ký 功 德 碑 記 [40]. - Thông qua khảo sát số văn bia nói trên, chúng tôi tạm đưa ra một số nhận xét về các hiện tượng ngữ pháp trong các bài văn bia này như sau: /Về cấu trúc tính ngữ và danh từ, đến thời kỳ này, số lượng cấu trúc tính ngữ và danh từ ảnh hưởng của Hán văn đã ít hơn thời kỳ trước rất nhiều. Tuy nhiên, các cấu trúc này vẫn còn xuất hiện ở một số bia. Sau đây là một số ví dụ: "hậu thôn Đống Chanh 后 村 棟 " (<=> thôn Đống Chanh hậu) [26], "Nguyễn Bàng công tộc điền 阮 榜 公 族 田" (<=> công tộc điền Nguyễn Bàng), "sương thuế 霜 稅/" (<=> thuế sương) [23], v.v... - Trong văn xuôi Nôm ở những thế kỷ trước, chúng ta thấy ít dùng những biện pháp tu từ đối xứng(8). Đến thời kỳ này, trong các áng văn xuôi, chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều hiện tượng ngữ pháp đối xứng có giá trị tu từ như: "ngày qua tháng lại 戈 吏", "vật đổi sao dời 物 移" [40]; "sửa đình dựng miếu 亭 廟", "đắp đường làm cống 搭 塘 " [15]; "trước là theo dấu tổ tiên, sau lại gần nương cảnh phật 祖 先 吏 景 佛" [17]; "có bột mới gột nên hồ, nước nào cũng thế, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, dân nào cũng vậy 固 買 滑 糊 拱 几 民 拱 丕"[8]; "chim rừng khua mõ, mai núi dâng hoa, nước biếc non xanh, bầu trời cảnh bụt 棱 摳 梅 花 碧 飄 景 ??"[13]... Bên cạnh những kết cấu có sẵn trong tục ngữ ca dao, còn có những kết cấu mới, mang tính sáng tạo. Sự xuất hiện của ngữ pháp đối xứng với ý nghĩa là một biện pháp tu từ trong những bài văn xuôi này đã khẳng định những giá trị văn học của văn xuôi Nôm. - Đặc biệt, trong các bài văn xuôi Nôm trên văn bia cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chúng tôi thấy số lượng hư từ xuất hiện đã nhiều hơn. Điều đó thể hiện sự phát triển trong ngôn ngữ diễn đạt. Các hư từ thường dùng có thể kể đến như(9): + Ở đầu câu có: còn như, vậy nên, huống hồ, phương chi, thế thì, hễ, nhưng, nhược (“nhược ngày sau ai không tuân 若 埃 空 遵” [25]), thế mà... + Ở giữa câu có: mà, thì, cùng là ("Nền tả vu làm nhà tổ mới, đàn lệ tế cũng sửa sang lại, cùng là lát sân xây bể vén cảnh trồng hoa 左 蕪 茄 祖 壇 厲 祭 拱 ?吏 共 羅 ? 磋 ? ?景 花" [7]; "nào tam quan, miếu vũ, tượng pháp nguy nga, cùng là các đồ bài trí 三 廟 宇 像 法 巍 峨 共 各 圖 排 置"[24])... + Ở cuối câu có: vậy thay ("Vậy nên làm biên bản chữ Nôm tiện để sau này biết rõ vậy thay! 丕 編 板 喃 便 抵 尼 別 丕 " [15]), vậy, đó (đặt ở cuối câu, với nghĩa khẳng định: "là mong cho hương khói lâu dài về sau đó 羅 懞 朱 香 ? ? ?"; "người còn không dám di dịch đó 群 空 監 移 易 ?" [17])... -Trong các văn bản vẫn tồn tại một số từ cổ: + Chất: hỏi, nói ("chất sự công bình 事 公 平", "chất sự trang trọng 事 莊 重"[15]); + Từ: lời ("hội kỳ hào có từ thỉnh bà sư Am đến trụ chùa Đồng Quang 會 耆 豪 固 詞 請 婆 師 庵 住 廚 同 光" [7]; "y theo những từ thỉnh cầu của Thị Vòng 依 訨 仍 詞 請 求 氏 " [23]); + Hòa: xuất hiện trong câu "có phận thôi thì, còn hòa hóa thương bi 古 分 催 辰 群 和 化 傷悲"[17]. Từ này thường được dùng với các nhóm nghĩa sau: cả, tất cả; vừa; và, cùng, mà. Trong câu trên nó được dùng với nghĩa là "mà"; + Cải: thay đổi ("cải sáp về tỉnh Hà Đông 改 插 省 河 東" [7]); + Mỗi: lần nào cũng ("mỗi than tiếc rằng 每 嘆 惜 浪" [7]); + Duyên: nguyên do ("duyên cha mẹ tôi sinh được một mình tôi 緣 吒 碎 生 特 沒 碎" [44]). Thời kỳ này, tuy câu văn đã phát triển theo hướng thuần Việt, nhưng vẫn còn tồn tại một số hiện tượng trật tự từ ảnh hưởng của Hán văn như: "chuối hai mươi quả " <=> hai mươi quả chuối, "rượu một hào 沒 毫" <=> một hào rượu [17]... Các bài văn đa phần vẫn dùng những câu văn Hán có tính chất khuôn mẫu để ghi lại số ruộng, địa bạ, ngày giỗ ("hiện đồng dân thỏa thuận kế kị phối minh bạch, phụng tôn như sau này 現 仝 民 妥 順 計 忌 配 明 白 奉 尊 如 尼" [26]). Đôi khi, do không có ý thức viết văn Nôm một cách triệt để, tác giả các bài văn xuôi vẫn dùng một số cụm từ Hán quen thuộc như: "hữu hằng tâm 有 恒 心" (có hằng tâm), "ký sự 記 事" (ghi lại sự việc), "thiết niệm 竊 念" (trộm nghĩ), "tỉnh giảm 省 減" (giảm bớt), "bồi thực 培 植" (vun trồng), "chu truân 周 訰" (chuyên tâm, chăm lo), "đệ niên 第 年" (hằng năm) v.v... Nói chung, văn xuôi Nôm trên bia đá đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã có những bước phát triển đáng kể so với những thế kỷ trước. Chúng ta đã đọc được những áng văn xuôi mạch lạc, trong sáng và khá thuần Việt như Đồng Quang tự bi ký 同 光 寺 碑 記 [7]; Lê Thị Quyên thư bi ký 黎氏 娟 姐 碑 記[17]; Trùng tu Hương Tích tự bi 重 修 香 跡 寺 碑[13]. Một số bài văn không hề có cấu trúc tính ngữ kiểu Hán văn, không có từ cổ, không có sự xuất hiện các cụm từ Hán như bài Công đức bi ký 功 德 碑 記 ở chùa Trầm [40]. Dưới đây chúng tôi xin dẫn ra một đoạn để minh họa:
山 分 廊 龍 珠 固 丐 峒 , 容 特 . 外 峒 固 廚, 沒 勝 景 瑇 省 山 西. 圅 茄 黎, 主 鄭 常 制 帝. 戈 吏, 物 移, 姚 廚, 峒, 客 覽 勝 動 . (Sơn phận làng Long Châu có cái động đá sâu rộng, dung được nghìn người. Ngoài động có chùa, là một thắng cảnh trong tỉnh Sơn Tây. Đời nhà Lê, chúa Trịnh thường ra chơi đấy. Ngày qua tháng lại, vật đổi sao dời, rêu lấp sân chùa, cỏ che cửa động, khách lãm thắng trông thấy mà động lòng.[40]) Văn xuôi Nôm đã đi từ diễn đạt xuôi, đến việc dùng các thủ pháp nghệ thuật. Nội dung diễn đạt của văn xuôi Nôm trên bia đá cũng phong phú hơn trước: có văn bia ghi công, có văn bia gửi giỗ, có văn bia Hậu thần, Hậu phật, có văn bia ghi lại việc xây dựng chùa, có văn bia vịnh cảnh... 2. Vài nhận xét về sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá Văn xuôi Nôm trên bia đá đã phát triển từ việc ghi lại những lời thề, những lời thoại ngắn của dân chúng trong các văn bản hành chính gần gũi với đời sống của nhân dân đến việc trở thành một hình thức thể hiện văn xuôi khá hoàn chỉnh, từ những đoạn văn Nôm pha Hán đến những đoạn văn thuần Nôm. Căn cứ vào những vài văn bia khắc văn xuôi Nôm vừa khảo sát ở trên, chúng tôi lập 3 bảng thống kê về 4 loại câu thường gặp trong các đoạn văn Nôm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX để có thể đi đến một sự hình dung cụ thể về sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá (xét về tính thuần Nôm). Bốn loại câu đó là: - Những câu văn thuần Hán diễn đạt theo cú pháp văn Nôm. Gọi tắt là câu văn thuần Hán. - Những câu văn thuần Nôm. - Những câu văn Nôm phải dùng kèm một số cụm từ Hán. Gọi tắt là câu văn Nôm xen Hán. - Những câu văn Hán dùng kèm một vài cụm từ Nôm, không phải cụm từ chỉ địa danh, tên người mà là những cụm từ có chức năng ngữ pháp riêng biệt. Gọi tắt là câu văn Hán xen Nôm. Bảng 1. Thế kỷ XVII (3 bia) Số lượng Bia | Câu văn thuần Hán | Câu vănthuần Nôm | Câu văn Nôm có xen Hán | Câu văn Hán có xen Nôm | Tổng số câu | Số 1 | 3 | 42,86% | 1 | 14,28% | 3 | 42,86% | 0 | 0% | 7 | Số 2 | 34 | 56,67% | 15 | 25% | 5 | 8,33% | 6 | 10% | 60 | Số 3 | 0 | 0% | 3 | 75% | 1 | 25% | 0 | 0% | 4 | Tổng cộng | 37 | 52,11% | 19 | 26,76% | 9 | 12,68% | 6 | 8,45% | 71 |
Bảng 2. Thế kỷ XVIII (2 bia) Số lượng Bia | Câu văn thuần Hán | Câu văn thuần Nôm | Câu văn Nôm có xen Hán | Câu văn Hán có xen Nôm | Tổng số câu | Số 4 | 0 | 0% | 0 | 0% | 4 | 100% | 0 | 0% | 4 | Số 5 | 12 | 32,43% | 4 | 10,81% | 15 | 40,54% | 6 | 16,22% | 37 | Tổng cộng | 12 | 29,27% | 4 | 9,76% | 19 | 46,34% | 6 | 14,63% | 41 |
Bảng 3. Thế kỷ XIX-XX (16 bia) Số lượng Bia | Câu văn thuần Hán | Câu văn thuần Nôm | Câu văn Nôm có xen Hán | Câu văn Hán có xen Nôm | Tổng số câu | Số 7 | 0 | 0,00% | 33 | 100% | 0 | 0,00% | 0 | 0,00% | 33 | Số 8 | 3 | 37,50% | 4 | 50,00% | 1 | 12,50% | 0 | 0,00% | 8 | Số 10 | 0 | 0,00% | 3 | 100% | 0 | 0,00% | 0 | 0,00% | 3 | Số 11 | 0 | 0,00% | 7 | 77,78% | 2 | 22,23% | 0 | 0.00% | 9 | Số 13 | 2 | 11,11% | 15 | 83,33% | 1 | 5,56% | 0 | 0,00% | 18 | Số 15 | 0 | 0,00% | 4 | 80,00% | 1 | 20,00% | 0 | 0,00% | 5 | Số 16 | 1 | 6,25% | 14 | 87,50% | 0 | 0,00% | 1 | 6,25% | 16 | Số 17 | 0 | 0,00% | 20 | 86,96% | 3 | 13,04% | 0 | 0,00% | 23 | Số 22 | 1 | 14,29% | 6 | 85,71% | 0 | 0,00% | 0 | 0,00% | 7 | Số 23 | 0 | 0,00% | 4 | 33,33% | 8 | 66,67% | 0 | 0,00% | 12 | Số 24 | 1 | 12,50% | 6 | 75,00% | 1 | 12,50% | 0 | 0,00% | 8 | Số 25 | 0 | 0,00% | 9 | 90,00% | 1 | 10,00% | 0 | 0,00% | 10 | Số 26 | 3 | 37,50% | 4 | 50,00% | 1 | 12,50% | 0 | 0,00% | 8 | Số 27 | 2 | 18,18% | 4 | 36,36% | 5 | 45,46% | 0 | 0,00% | 11 | Số 34 | 2 | 13,33% | 11 | 73,34% | 2 | 13,33% | 0 | 0,00% | 15 | Số 40 | 0 | 0,00% | 14 | 100% | 0 | 0,00% | 0 | 0,00% | 14 | Tổng cộng | 15 | 7,50% | 158 | 79,00% | 26 | 13,00% | 1 | 0,50% | 200 |
Thông qua ba bảng thống kê trên chúng tôi có một số nhận xét như sau: Ở thế kỷ XVII, các câu văn Hán diễn đạt theo cú pháp văn Nôm (câu văn thuần Hán) chiếm tỉ lệ cao (52,11%), các câu văn thuần Nôm ở những bia có niên đại càng muộn thì càng nhiều hơn (phát triển từ 14,28% đến 75%).Ở thế kỷ XVIII, các câu văn Nôm có xen Hán phát triển lấn át những câu văn thuần Hán. Đến thế kỷ XIX - XX, gần như không còn tồn tại những câu văn Hán xen Nôm (chỉ có 0,5%), số câu văn thuần Nôm tăng vượt bậc, số câu văn thuần Hán và những câu văn Nôm xen Hán giảm dần. So sánh giữa ba thời kỳ thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX - XX, chúng tôi nhận thấy: Các câu văn thuần Hán giảm dần từ 52,11% --> 29,27% -->7,5%. Các câu văn thuần Nôm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII giảm từ 26,76% xuống 9,76% và đến thế kỷ XX thì lại tăng lên đến 79%. Các câu văn Nôm xen Hán tăng dần từ 12,68% ở thế kỷ XVII lên 46,34% ở thế kỷ XVIII, và đến thế kỷ XIX - XX lại xuống đến 13%. Các câu văn Hán xen Nôm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII tăng dần, và gần như không còn thấy xuất hiện vào thế kỷ XIX - XX. Những thống kê định lượng này cho thấy, sự phát triển về tính thuần Nôm của những áng văn xuôi Nôm trên văn bia đã trải qua một quá trình biến đổi để đi đến chỗ hoàn chỉnh. Những câu văn Hán vẫn tồn tại ở thế kỷ XX phần nhiều là do tính chất khuôn thức của bi ký mà người viết thấy không cần thiết phải sửa đổi. Diễn biến phức tạp nhất là sự xê dịch về tỉ lệ các câu văn thuần Nôm và các câu văn Nôm xen Hán giữa các thế kỷ. Theo xu thế chung thì những câu văn thuần Nôm phát triển thay thế những câu văn Nôm xen Hán. Tuy nhiên, ở thế kỷ XVIII, chúng tôi lại thấy có một sự đột biến, những câu văn Nôm xen Hán lấn át những câu văn thuần Nôm. Điều này tưởng chừng vô lý nhưng lại rất hợp quy luật. Nguyên do là người viết muốn thay thế hết những câu văn thuần Hán, nhưng khi diễn đạt vẫn còn lúng túng, do đó xảy ra hiện tượng các câu văn Nôm xen Hán phát triển, lấn át những câu văn thuần Hán và cả những câu văn thuần Nôm. Cho đến thế kỷ XIX - XX thì sự biến đổi này mới đi đến ổn định. Các câu văn Hán xen Nôm sẽ không thể tồn tại ở thế kỷ XIX, bởi khi đó, yếu tố Nôm đã ngự trị, việc dùng văn Nôm là chủ đạo, văn Hán chỉ là thứ yếu và bổ trợ cho Nôm. Vấn đề đặt ra là sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá có mối quan hệ với sự phát triển của văn xuôi Nôm trong thư tịch cổ hay không? Có thể thấy, ở thế kỷ XVII, mặc dù trên thư tịch, đã có một vài áng văn xuôi Nôm hoàn chỉnh, nhưng phần lớn là trước tác của những nhà Nho có học thức rộng, lại là những áng văn dựa trên một văn bản Hán văn có sẵn (bản dịch Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú – như đã nói đến ở trên). Sự xuất hiện văn xuôi Nôm như một hình thức thể hiện độc lập thực chất chỉ tìm được trên vài bức thư còn sót lại (bản Quốc thư của Lê Bá Ly). Văn trong những tác phẩm này vẫn chịu ảnh hưởng của Hán văn, ngữ nghĩa chưa được trong sáng, thuần Việt, đôi chỗ còn chịu ảnh hưởng của văn biền ngẫu. Điều đó cũng cho thấy, ở thế kỷ XVII, văn xuôi Nôm chưa thực sự được phổ biến sâu rộng, sự phát triển của chúng cũng chưa mang tính tự thân. Những áng văn xuôi Nôm vẫn chưa thoát ly khỏi văn Hán. Hiện tượng đó đã phản ánh rõ trên bia đá khi chúng ta phân tích văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XVII. Sang thế kỷ XVIII, văn xuôi Nôm đã được phổ biến rộng hơn trong xã hội. Ngoài một số trước tác thuộc lĩnh vực văn học, chúng ta còn thấy việc vua chúa dùng văn Nôm, có một chứng tích trên bia đá hiện còn là đoạn sắc chỉ bằng chữ Nôm trên bia Ngự chế 御 製 [4]. Cuối thế kỷ XVIII, Quang Trung - Nguyễn Huệ chủ trương dùng chữ Nôm trong các lĩnh vực chính trị xã hội. Hiện nay, chúng ta đã tìm được một số bức thư viết bằng chữ Nôm của ông. Khi phân tích những bức thư này, chúng tôi nhận thấy bên cạnh các câu văn Nôm, tác giả vẫn còn cần phải mượn rất nhiều câu văn Hán và cụm từ Hán. Mặc dù vậy, ảnh hưởng của thời đại đã dẫn đến sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá, chứng cứ còn lại là sự ra đời bài ký Nôm của Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim vào năm 1780. Bài văn của Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim là bài văn bia đầu tiên có tính chất một bài văn xuôi Nôm trên bia đá, với nội dung bầu Hậu. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, văn xuôi Nôm đã thực sự phát triển. Các truyện ngắn, truyện dân gian bằng chữ Nôm xuất hiện rất nhiều, những bản dịch có tính chất văn chương cũng liên tục ra đời (như đã dẫn ở đầu bài viết này). Văn xuôi Nôm trên bia đá nở rộ và phát triển phong phú cả về phong cách lẫn nội dung biểu hiện. Nó không còn là những lời thệ văn, những lời tranh biện, là sắc chỉ, là bia gửi giỗ, bia ghi công mà còn là ký sự, là văn vịnh cảnh v.v... Qua những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy, mặc dù còn một số hạn chế, nhưng văn xuôi Nôm trên bia đá là những tài liệu có giá trị góp phần vào việc phác họa quá trình phát triển của văn xuôi Nôm nói chung. Ngoài ra, nó còn có giá trị nhất định về mặt ngôn ngữ, phản ánh sự phát triển về khả năng diễn đạt của người Việt trong mỗi thời kỳ lịch sử; đồng thời, cũng phản ánh quá trình muốn tách mình ra khỏi sự lệ thuộc Hán văn, hình thành nên một phong cách viết văn riêng của người Việt. Chú thích: (1) Chúng tôi coi từ này là từ cổ mặc dù đến nay nó vẫn được dùng trong tiếng Việt hiện đại vì cách dùng của nó ở đây là cách dùng đặc biệt của thời đó, hiện nay chúng ta không dùng "đôi" trong trường hợp này. (2) Niên sinh vu tuế: sinh vào năm. (3) Thệ văn: lời thề. (4) Duy: kính. (5) Niệm cập: nghĩ đến. (6) /u xung: thơ bé. (7) Đệ niên: hàng năm. (8) Tất nhiên, chúng ta cần phân biệt một số hiện tượng ngữ pháp đối xứng trong văn xuôi với văn biền ngẫu. (9) Chú ý: đối với các hư từ có cách dùng rất thông dụng hiện nay, chúng tôi không nêu ví dụ; đối với các hư tư có cách dùng đặc trưng cho thời đại này, chúng tôi sẽ nêu ví dụ. TÀI LIỆU THAM KHẢO TT | Tênbia | Năm tạo | Địađiểm | Kí hiệu | 1. | Đỗ Xá xã bi ký 杜 舍 社 碑 記 | 1652 | Đỗ Xá, Chí Linh, Hải Dương | 19513 -15 | 2. | Tân tạo bi ký các bức đẳng từ 新 造 碑 記 各 幅 等 詞 | 1657 | Tiên Lữ, Quốc Oai, Hà Tây | 1938-39 | 3. | Bản xã tạo lập lệ tịch khoán ước các điều bi văn 本 社 造 立 例 席 券 約 各 條 碑 文 | 1693 | Tam Đa, Yên Phong, Bắc Ninh | 3961-62 | 4. | Ngự chế 御 製 | 1730 | Thụy Hương, Chương Mỹ, Hà Tây | 24388-89 | 5. | Hậu thần bi ký 后 神 碑 記 | 1780 | Hữu Hòa, Thanh Trì, Hà Nội | 2140 | 6. | Vô đề | 1914 | Phụng Châu, Chương Mỹ, Hà Tây | TS. Trương Đức Quả | 7. | Đồng Quang tự bi ký 同 光 寺 碑 記 | 1916 | Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội | 21096 | 8. | An Duyên xã đại bi 安 沿 社 大 碑 | 1916 | Tô Hiệu, Thường Tín, Hà Tây | 26429 | 9. | Thụy Phương đình bi ký 瑞 芳 亭 碑 記 | 1917 | Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội | | 10. | Khải Định thất niên nhuận ngũ nguyệt thập nhất nhật bi kí 啟 定 七 年 閏 五 月 十 一 日 碑 記 | 1922 | Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội | 21526 | 11. | Khải Định bát niên nhị nguyệt thập nhật lập bi ký 啟 定 八 年 二 月 十 日 立 碑 記 | 1923 | Bồ Đình, Gia Viễn, Ninh Bình | 19457 | 12. | Công đức bi ký 功 德 碑 記 | 1924 | Phụng Châu, Chương Mỹ, Hà Tây | | 13. | Trùng tu Hương Tích tự bi 重 修 香 跡 寺 碑 | 1924 | Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Tây | 34457 | 14. | Kỷ niệm bi kí 紀 念 碑 記 | 1924 | Hà Cầu, Hà Đông, Hà Tây | | 15. | Danh phương thiên tải 名 方 千 載 | 1925 | Vân Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên | 18485 | 16. | Di chúc bi văn 遺 囑 碑 文 | 1927 | Phạm Lâm, Thanh Miện, Hải Dương | 19736 | 17. | Lê Thị Quyên thư bi ký 黎 氏 娟 姐 碑 記 | 1928 | Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây | 24084 | 18. | Công đức nghìn năm 功 德 懯 璏 | 1930 | Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội | | 19. | Ký kỵ bi ký 寄 忌 碑 記 | 1931 | Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội | | 20. | Công đức kỷ niệm bi 功 德 紀 念 碑 | 1932 | Kim An, Thanh Oai, Hà Tây | | 21. | Vô đề | 1933 | Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội | | 22. | Bia ký công 碑 記 功 | 1935 | Hàng Đậu, Hoàn Kiếm Hà Nội | 17080 | 23. | Công tộc 1939 公 族 1939 | 1939 | Minh Tân, Yên Lạc, Vĩnh Phúc | 34670 | 24. | Bia ký công 碑 記 功 | 1939 | Yên Phụ, Long Biên, Hà Nội | 21232 | 25. | Đại Bi tự điều lệ chí 大 悲 寺 ±ø 例 誌 | 1939 | Cát Quế, Hoài Đức, Hà Tây | 40323 | 26. | Nam mô A di đà Phật 南 無 阿 彌 陀 佛 | 1940 | Minh Cường, Thường Tín, Hà Tây | 26113 | 27. | Hậu kỵ bi ký 后 忌 碑 記 | 1943 | Trung Hòa, Yên Mỹ, Hưng Yên | 27768 | 28. | Kỷ niệm kị nhật bi kí / 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 2 | 29. | Kỉ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 3 | 30. | Kỉ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 4 | 31. | Kỉ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 5 | 32. | Kỉ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 10 | 33. | Kỉ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1943 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 12 | 34. | Bia truyền đăng chùa Linh Ứng 碑 傳 燈 廚 靈 應 | 1944 | Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Tây | 36067 | 35. | Kỷ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | 1945 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 7 | 36. | Lập bi kí kị 立 碑 寄 忌 | 1945 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 16 | 37. | Lập bi kí kị 立 碑 寄 忌 | 1945 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 15 | 38. | Lập bi kí kị 立 碑 寄 忌 | 1945 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 17 | 39. | Vĩnh Ninh xã Phật giáo hội kỷ niệm công đức bi kí 永 寧 社 佛 教 會 紀 念 功 德 碑 記 | 1950 | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 30 | 40. | Công đức bi ký 功 德 碑 記 | | Phụng Châu, Chương Mỹ, Hà Tây | 31502 | 41. | Kỷ niệm bi kí 紀 念 碑 記 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 1 | 42. | Kỷ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 8 | 43. | Kỷ niệm kị nhật b i 紀 念 忌 日 碑 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 9 | 44. | Hậu kị bi kí 后 忌 碑 記 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 22 | 45. | Kỷ niệm kị nhật bài 紀 念 忌 日 牌 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 24 | 46. | Kỷ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 27 | 47. | Kỷ niệm kị nhật bi kí 紀 念 忌 日 碑 記 | | Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội | Phật giáo 28 | 48 | Hoàng Thị Ngọ: Vài nét về văn xuôi Nôm trong nền văn học dân tộc, Tác phẩm mới, số 8 - 1996. | | 49 | Trương Đức Quả - Nguyễn Hữu Tưởng: Văn bia họ Nguyễn ở thôn Cổ Nhuế, tài liệu đánh máy lưu hành nội bộ, KH: D.1184. | | | | | | | |
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (74) 2006; Tr.52-62)
Nguyễn Thị Hường
Tin liên quan
-
Văn bia thời Trần ở Ninh Bình (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (118) 2013; tr. 50-57)
-
Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2013) (Hà
-
Phát biểu của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 -
-
Minh Mệnh với cải cách hành chính ở các cơ quan trung ương thời Nguyễn - Nhìn từ lịch sử và ấn chương hành chính (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121),
-
Bồng Châu thi văn tập của Bảng nhãn Vũ Duy Thanh - Một tác phẩm giá trị trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XIX(Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.29-42)
-
Về tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lý (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.43-50)
-
Bia chí - Nguồn sử liệu quý cần gìn giữ ở Lăng Ông Biên Hòa (Đồng Nai) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.51-57)
-
Mã chữ Nôm trong Châu bản thời Gia Long (1802-1819) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.58-65)
-
Nghiên cứu tư liệu gia lễ Việt Nam: Từ sơ đồ ngũ phục đến phục chế (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.66-78)
-
Nghĩ thêm về Việt Nho (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 3-13)
|