Về bản gia phả chữ Hán của Vũ Phạm Hàm Mộng Hồ gia tập (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.24-31)
VỀ BẢN GIA PHẢ CHỮ HÁN CỦA VŨ PHẠM HÀM
MỘNG HỒ GIA TẬP 夢 湖 家 集
NGƯT. VŨ THẾ KHÔI
TP. Hà Nội.
1. Xuất xứ của tư liệu
Gia phả là loại thư tịch “tam sao thất bản” nhiều nhất, đặc biệt từ đời Tự Đức trở đi, khi noi gương “tập đại toàn” của triều đình, người ta bắt đầu “hợp biên” tộc phả, thêm thắt, móc nối, tô vẽ để tôn vinh tổ tiên, làm sai lệch hiện thực lịch sử các dòng họ Việt Nam, vốn dĩ đã phức tạp(1). Bởi vậy trước khi khai thác, sử dụng loại tài liệu này, nhất thiết phải thẩm định văn bản về lai lịch, tác giả, niên đại(2).
Trong trường hợp Mộng Hồ gia tập chúng tôi đã gặp may. Khi mang bản photocopy quyển tộc phả do Thám hoa Vũ Phạm Hàm soạn bằng chữ Hán, đến nhờ chúng tôi dịch sang tiếng Việt, ông Phạm Vũ Úy, hậu duệ của dòng họ này, cho biết rành mạch: bản gốc của bộ tộc phả Phạm - Vũ làng Đôn Thư huyện Thanh Oai, do chính cụ Thám Hàm biên soạn năm 1888, đã mất tiêu trong cải cách ruộng đất. Bản ông Úy cung cấp, không phải là bản biên tập lại mà là bản sao từ bản gốc, do con trai thứ hai của cụ Thám hoa là ông Vũ Phạm Thảng, người giữ việc thờ cúng, thực hiện năm 1930, tức từ 25 năm trước biến cố trên, về sau “bằng một cách nào đó” được gửi vào viện Viễn đông Bác cổ trước năm 1943, là năm cụ Thảng mất. Theo sự tìm hiểu của chúng tôi về gia phả học Việt Nam, khoảng những năm 30-40 của thế kỷ trước, Viễn đông Bác cổ có chủ trương sưu tầm các phả cổ. Chẳng hạn, năm 1942, cụ Trần Văn Giáp, thành viên của cơ quan khoa học này, đã về tận “tiến sĩ sào” là làng Mộ Trạch khảo sát và nhờ sao lục bộ Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích nổi tiếng.
Do một người nhà công tác tại Viện Thông tin Khoa học xã hội cho biết ở Viện Sử học có 01 bản Mộng Hồ gia tập chép tay trên giấy bản, ông Úy, vốn từ lâu đã quan tâm sưu tầm và làm phả dòng họ mình, đã nhờ làm cho một bản photocopy để khảo cứu.
Tại kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội hiện lưu trữ đại bộ phận gia phả viết bằng chữ Hán - Nôm, chỉ có Mộng Hồ thi tập. Tại sao Mộng hồ gia tập lại “lưu lạc” sang Viện Sử học? Có lẽ nguyên do là như sau: trên trang thứ nhất của Mộng Hồ gia tập có đóng con dấu hình chữ nhật: “Đảng Lao động Việt Nam - Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa. Thư viện”. Chúng ta biết Ban Văn-Sử-Địa, tiền thân của Viện KHXH ngày nay, được thành lập trong núi rừng chiến khu Việt Bắc năm 1953, so với Viện Nghiên cứu Hán Nôm sớm hơn rất nhiều, và trực thuộc Trung ương Đảng, do đó các tài liệu liên quan đã từ trường Viễn đông Bác cổ chuyển giao về Thư viện của Ban Văn - Sử - Địa.
Khi tự tay làm lại bản photocopy bị hiện chữ ở mặt sau do giấy bản sao lục quá mỏng, ông Phạm Vũ Úy, một người đã nhiều năm sưu tầm và khảo cứu các bản gia phả của dòng họ mình, vốn có ý thức về văn bản cổ nên đã đối chiếu với bản sao gốc ở Viện Sử học, chú ý giữ lại bố cục và số trang của nó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu.
2. Bố cục Mộng Hồ Gia tập
Mộng Hồ gia tập là một sách 29 tờ, 58 trang, mỗi trang 8 cột, mỗi cột 18 chữ Hán, kiểu chữ chân phương đẹp. Ở góc trên lề phải trang thứ nhất là đề sách: 夢湖家集 cột tiếp theo viết: 河内省應和府青威縣方中總敦書范武氏普圖 (Hà Nội tỉnh Ứng Hòa phủ Thanh Oai huyện Phương Trung tổng Đôn Thư Phạm - Vũ thị phổ đồ)
Chúng tôi không ngẫu nhiên in đậm nét ba chữ “Phạm - Vũ thị”, lí do sẽ xin nói rõ dưới đây.
Sau dòng trên sách chép liên tục 58 trang, với những đề mục sau:
-序 (Tựa). Ở lạc khoản viết: 歲在戊子夏四月第九孫諴拜識 (Tuế tại Mậu Tý [1888] Hạ tứ nguyệt. Đệ cửu tôn Hàm bái chí.
-例言 (Lệ ngôn)
-譜圖 (Phả đồ)
(bỏ trống một trang mặt sau)
-先祖行狀 (Tiên tổ hành trạng). Ở lạc khoản viết: 先祖行狀乙酉年起草丁亥年屬藁奉原吏部尚書榆林雲麓阮公思僩潤正戊子年謹書庶孫諴拜識 (Tiên tổ hành trạng Ất Dậu niên [1885] khởi thảo, Đinh Hợi niên [1887] chúc cảo. Phụng nguyên Thượng thư Lại bộ Du Lâm Vân Lộc Nguyễn công Tư Giản nhuận chính. Mậu Tý niên [1888] cẩn thư, thứ tôn Hàm bái chí.
-先母傳 (Tiên mẫu truyện). Ở lạc khoản viết: 先母傳丁亥年起草戊子年屬藁奉原吏部尚書俞林雲麓阮公思僩潤正五月諱日半一夜焚香然臘謹書嗣子諴泣識 (Tiên mẫu truyện Đinh Hợi niên [1887] khởi thảo Mậu Tý niên [1888] chúc cảo. Phụng nguyên Lại bộ Thượng thư Du Lâm Vân Lộc Nguyễn công Tư Giản nhuận chính. Ngũ nguyệt húy nhật bán dạ phần hương nhiên lạp cẩn thư, tự tử Hàm khấp chí.
-先考事寔記 (Tiên khảo sự thực kí). Ở lạc khoản viết: 保大五年十月初十日後學辛丑庭元進士巡撫致仕鄒江友梅阮廷詢恭正次南淌焚香泣誌門人翰林院待詔秀才陳文爵拜攷 (Bảo Đại ngũ niên [1930] thập nguyệt sơ thập nhật. Hậu học Tân Sửu đình nguyên tiến sĩ tuần phủ chí sĩ Trâu Giang Hữu Mai Nguyễn Đình Tuần cung chính. Thứ nam Thảng phần hương khấp chí. Môn nhân Hàn lâm viện Đãi chiếu Tú tài Trần Văn Tước bái khảo).
Lướt qua các đề mục với những dòng lạc khoản trên đây, có thể xác định được ngay là trừ 8 trang cuối cùng “Tiên khảo sự thực kí” là bản tiểu sử Vũ Phạm Hàm do người con trai thứ viết năm 1930, tất cả các phần còn lại của bản tộc phả họ Phạm - Vũ làng Đôn Thư là do chính Vũ Phạm Hàm, cháu đời thứ 9, khởi thảo từ năm 1885, khi mới 22 tuổi, đến năm 1888 thì hoàn thành. Có 50 trang với khoảng ngót chín trăm chữ mà Giải nguyên tài hoa của khoa thi Hương 1884 viết ròng rã 3 năm, chứng tỏ một sự làm việc cẩn trọng như thế nào. Vũ Phạm Hàm, theo chính lời cụ viết trong lời Tựa: “... đã tìm kiếm di cảo, khảo cứu thế hệ, lập thành phả đồ, bổ túc mà viết nên phả”. Những phả ký (về nội tổ và thân mẫu) là phần người soạn gia phả dễ mất khách quan và thiếu chừng mực trong xu hướng tôn vinh tổ tiên, Vũ Phạm Hàm lại trình nhà khoa bảng và là vị quan nổi tiếng thanh liêm chính trực, sống đồng thời và làm quan đồng triều với các nhân vật trong bài ký, xin được nhuận chính. Vì vậy Mộng Hồ gia tập là một phả liệu đáng tin cậy.
3. Nội dung Mộng Hồ gia tập
Mộng hồ gia tập cho chúng ta những thông tin gì xác thực?
3.1. Về nguồn gốc dòng họ Thám hoa Vũ Phạm Hàm
Ở ngay cột chữ đầu tiên của bài Tựa, vị Thám hoa họ Vũ khẳng định cụ là hậu duệ của dòng họ Phạm-Vũ làng Đôn Thư: “Đôn Thư Phạm-Vũ thị phổ đồ”. Cuối bài Tựa lại ghi rõ: “Cháu đời thứ chín Hàm cúi lạy viết” - tức xác nhận mình nguồn gốc họ Phạm - Vũ. Về ông nội Vũ Đăng Dương, đỗ Hương cống khoa thi Hương 1821 và làm quan đến Tế tửu Quốc tử giám, Thám hoa họ Vũ cũng ghi rõ ràng: “Ông họ Phạm - Vũ, tên húy là Cát, về sau khi đi thi viên Thủ bạ viết họ là Vũ, húy Đăng Dương”. Chúng tôi không ngẫu nhiên nhấn mạnh điều này. Vấn đề là ở chỗ một số người họ Vũ mong muốn quy tất tật danh nhân mang họ Vũ xưa nay ở Việt Nam về một Thủy tổ Vũ Hồn, viên An Nam Kinh lược sứ (841 - 843) triều Đường, người từ Trung Hoa(3), nên đã có vị họ Vũ, không nêu một căn một nào, viết trên Bản tin của Hội đồng dòng họ Vũ (Võ) Việt Nam rằng: Mộng Hồ gia tập là “gia phả họ Vũ - Phạm Đôn Thư”(4). Thực ra, theo bản “Họ Phạm - Vũ Đôn Thư - Biểu đồ 64 phân chi hiện hữu” do cháu đời thứ 12 Phạm Vũ Úy lập, thì Vũ - Phạm chỉ là một “biệt chi trong dòng họ Phạm - Vũ Đôn Thư”, mới hình thành được hơn 100 năm nay, từ khi cụ Hàm đỗ Thám hoa, tức từ năm 1906, cũng như trong dòng họ này còn các biệt chi Lê - Phạm và Trần - Phạm.
Về cội nguồn của dòng họ Phạm mình, Thám hoa Vũ Phạm Hàm, với thái độ nghiêm cẩn của các nhà Nho xưa khi làm phả, đã viết trong bài Lệ ngôn (thể lệ viết phả): “Tổ tiên dòng họ ta không biết từ đâu tới, cũng có lời truyền rằng từ Thanh Hóa ra, nay với [họ Phạm] Tế Tiêu(5), Đông Ngạc(6) lại cũng nhận là cùng họ, nhưng không có bằng cứ để khảo nghiệm cho nên không dám lấy làm đích thực” (chúng tôi nhấn, - VTK). Họ Phạm làng Đông Ngạc, nay thuộc huyện Từ Liêm, là một danh gia vọng tộc với 11 Tiến sĩ, nhưng đến đời cụ Thám Hàm mới chỉ có “lời truyền”, mà lời truyền thì, theo cụ, “không dám lấy làm đích thực” để móc nối phả, hẳn liêm sỉ của Nho gia khiến Cụ e mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”. Riêng đối với làng Phương Trung cùng tổng, đời cụ Thám chứng kiến vẫn qua lại trong những dịp giỗ chạp, nên cụ khẳng định “đích xác là một chi phái gần”, “thực quả là những người trong một dòng họ”(7), nhưng vì chưa tìm được phả, chỉ có những lời lược ghi theo lời truyền lại, nên cụ vẫn không ghi vào “Phổ đồ” do cụ lập cho dòng họ Phạm - Vũ Đôn Thư. Quả là một thái độ trung thực và cẩn trọng của Nho gia trong việc viết gia sử, đáng nêu gương cho những người cầm bút viết phả ngày nay! Ngót một thế kỷ sau, các hậu duệ của Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã tìm được căn cứ để chắp nối phả với họ “Phạm Tam chi” làng Phương Trung, chép phả đồ dòng họ Phạm này ngược lên được 5 đời nữa trước vị Khởi tổ ở Đôn Thư, cộng với 9 đời trong “Phổ đồ” của cụ Thám là 14 đời, lại chép nối được 6 đời nữa đến tận ngày nay, tổng cộng là 20 đời, khoảng năm trăm năm (theo Phạm Vũ úy).
3.2. Lý do xuất hiện chữ “Vũ”, tạo thành các họ kép“Vũ-Phạm” và “Phạm-Vũ”
Về Khởi tổ của dòng họ mình, Thám hoa Vũ Phạm Hàm viết: “Cụ Trực Hiền(8) họ Phạm” Đến đời thứ hai, con của cụ Phạm Trực Hiền là Phúc Trạch, được Triêu Ba hầu Vũ Khang Chính (cũng gọi là Cương Chính) nhận làm con nuôi, “bèn đổi sang họ Vũ, dọn đến ở xã nhà, đời sau noi theo đấy mà lấy Vũ làm họ, kèm thêm chữ Phạm”. Như vậy đời thứ hai là Vũ - Phạm Phúc Trạch, theo cách tính niên đại tương đối của chúng tôi, việc này xảy ra khoảng 1684 + 10, tức vào nửa sau thế kỷ XVII. Cụ Thám Hàm viết tiếp: “Cụ Triêu Ba hầu sinh con trai, đặt tên là Trực Tâm, bị chết sớm, nên lại nhận con trai của Phúc Trạch là Phúc Quý làm con nuôi”. Vậy là đời thứ ba là Vũ - Phạm Phúc Quý. Và lý do đổi sang họ Vũ, lấy Phạm làm đệm (để khỏi quên cội nguồn!), đều là vì trả ơn nuôi dạy, chứ hoàn toàn không có quan hệ huyết thống, dẫu là về đằng mẹ như trong một số trường hợp khác (trong dòng họ Tiến sĩ Vũ Tông Phan, chẳng hạn). Từ đời thứ 4 trở xuống đến đời thứ 6 không thấy cụ Thám ghi họ gì trước tên húy các vị tiên tổ, đến đời thứ 7 là đời ông nội Vũ Đăng Dương của mình mới thấy Vũ Phạm Hàm ghi rõ trong bài phả kí: “họ Phạm - Vũ, tên húy là Cát, khi đi thi viên Thủ bạ viết họ là Vũ, húy Đăng Dương”. Tuy nhiên vị tiên tổ ở đời trên là đời thứ 6 mà Thám Hàm chỉ ghi: “Dư, tên cũ là Sùng, đỗ Hương cống khoa Đinh Mão [1807]” thì sách Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục ghi rõ ràng: “Phạm Đình Dư, người xã Đôn Thư huyện Thanh Oai”. Cùng đỗ khoa thi này còn có người cháu họ của ông Dư, cụ Thám cũng chỉ ghi: “Quyền, còn có tên là Phác, đỗ Hương cống khoa Đinh Mão [1807], làm quan đến chức Tế tửu Quốc tử giám” thì sách trên đây ghi danh tính đầy đủ là Phạm Vũ Phác. Tuy khoa thi Hương năm 1813, do đầu đời Gia Long, sau cuộc nội chiến kéo dài hai chục năm với Tây Sơn, việc kiểm soát hộ tịch chưa chặt chẽ, em ruột cụ Phạm Đình Dư, lại lấy họ Vũ đi thi, đỗ Hương cống, danh tính ghi trong sách của Cao Xuân Dục là Vũ Đình Bách, nhưng trong “Biểu đồ 64 phân chi” vẫn chép cụ và các hậu duệ của cụ với họ Phạm-Vũ. Vậy là sau 4 đời mang họ Vũ - Phạm để trả ơn dưỡng dục, dòng họ này ở Đôn Thư đã lấy lại họ gốc của Khởi tổ Trực Hiền là Phạm, chỉ thêm chữ đệm Vũ, thành họ kép Phạm - Vũ Đôn Thư, như Thám Hàm ghi ở cột đầu tiên trang thứ nhất của Mộng Hồ gia tập.
Vậy tại sao chàng Nho sĩ Hàm đi thi lại ghi họ Vũ - Phạm chứ không phải là Phạm - Vũ?
Đó là vì theo thể lệ thi cử xưa phải khai danh tính đến ông tam đại. Ông nội của Nho sĩ Hàm, như cụ Thám viết, khi đi thi Thủ bạ ghi danh tính là Vũ Đăng Dương, đã đỗ Hương cống nên cái tên với họ Vũ ấy đã ghi vào bảng Đăng khoa lục, rồi lại vào sổ Quan trường trải nhiều chức vụ đến Tri phủ. Việc quản lý hộ tịch từ đời Minh Mạng về sau rất chặt chẽ, không thể tùy tiện đổi lại, nên cháu nội là Vũ Đăng Ngạn đi thi có thể đổi tên là Hàm, nhưng cái họ Vũ thì không được phép đổi, chỉ có thể lại một lần nữa lấy Phạm làm chữ đệm. Thế là sau 4 đời đã đứt đoạn, cái họ kép Vũ - Phạm trong dòng họ Phạm làng Đôn Thư xuất hiện lần nữa ở đời thứ 9, và vì người mang họ ấy đã cao khoa hiển hoạn, nên từ đấy, 1906, hình thành một biệt chi “Vũ trong Phạm”, tính đến nay là 103 năm, còn nếu tính từ năm 1821 khi cụ Phạm Vũ Cát đi thi “Thủ bạ ghi” là Vũ Đăng Dương thì đã được 188 năm.
3.3. Một cách lập phả đồ tiện lợi
Bản “Phổ đồ” 9 đời 2 chi, 7 tiểu chi họ Phạm - Vũ làng Đôn Thư của Vũ Phạm Hàm thiết kế kết hợp trục ngang với trục dọc khá tiện lợi. Nó cho phép người đọc xác định nhanh chóng và chính xác quan hệ hàng ngang và hàng dọc trong gia tộc Phạm - Vũ. Nhìn vào “Phổ đồ” ấy, đọc theo hàng ngang từ phải sang trái, chúng ta có thể xác định được ngay các vị tiên tổ bằng vai nhau và thứ tự của họ trong gia tộc (ai trưởng, ai thứ, ai út); đọc theo hàng dọc, ta thấy ngay ai là con, cháu, chắt, chút, chít của ai. Đối việc viết phả, lập lược đồ gia hệ rất quan trọng cho sự miêu tả chính xác chi phái trong nội tộc, thế thứ và danh xưng của từng vị tiên tổ. Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng tuy cha không đỗ đạt gì, nhưng chàng Nho sinh Hàm vẫn được thừa hưởng một truyền thống thi thư, khoa bảng nhiều đời trong gia tộc, dẫu chưa có người đỗ đại khoa, nhưng không thiếu Hương cống, Cử nhân, Tú tài, mà xưa kia “đè” 4-5 nghìn người trong một trường thi Hương khó không kém so với chuyện vượt lên trên chỉ vài ba trăm người trong kỳ thi Hội. Dựa vào “Phổ đồ” của cụ Thám Hàm, với trợ giúp của các sách tra cứu, chúng ta cũng dễ dàng tính ra, chẳng hạn, niên đại tương đối (+ 10) của từng thế hệ và dựa vào đó xác định niên đại tuyệt đối của một số vị tiên tổ cùng những sự kiện đề cập trong cổ phả - điều rất quan trọng đối việc khai thác một cách không lầm lẫn các thông tin từ những bản phả cổ(9). Việc không xác định được niên đại tương đối từng đời do không có phả đồ (hoặc người đọc/dịch không tự tái lập được phả đồ đó) có thể dẫn đến những nhầm lẫn rất phi lí về thế hệ và niên đại của sự việc như kiểu một số vị đời nay biên tập phả họ Vũ làng Mộ Trạch cho một vị tiên tổ trong họ mình nếu tính theo niên đại tương đối chỉ mới khoảng 3 tuổi là cùng, mà đã có con trai làm tướng tham gia năm 1460 vào vụ chém đầu bọn phản nghịch Phạm Đồn, Phạm Ban để phò tá Lê Thánh Tông lấy lại ngôi báu(10), hoặc như một vị Tiến sĩ sử học nọ cho người sinh ra năm 1763 lại biên soạn quyển phả vào năm 1664, tức hàng trăm năm trước!(11)
Chúng tôi nghĩ rằng phải chăng do có tiếp cận “Tân thư” nên Thám Hoa Vũ Phạm Hàm mới lập được một “Phổ đồ” tân tiến, với trục ngang và trục dọc chuẩn xác như vậy.
3.4. Một tấm gương liêm chính quyết liệt chống thượng cấp tham nhũng
Trong bài ký Tiên tổ hành trạng Thám hoa Vũ Phạm Hàm chẳng những ghi lại quá trình học hành, thi cử và làm quan của ông nội Vũ Đăng Dương mà ở mức độ nhất định còn tái hiện được “ảnh hưởng”, tức hình ảnh và âm hưởng của một Nho sĩ có khí phách. Khi còn dùi mài kinh sử thì thông minh nhưng phóng khoáng, đọc sách chỉ lướt mắt lược lấy ý, làm văn cũng không khổ tâm khổ tứ, vậy mà vẫn thi đỗ. Khi ra làm quan thì tỏ ra văn võ song toàn, cương trực và dũng cảm. Vốn mưu lược, lại cường tráng ,“bụng lớn như cái nia..., tóc dài đến gối, tay chân nhanh nhẹn, con ngươi to đen tuyền, khi ngủ thở ù ù như sấm động”, Tri huyện Đăng Dương dám một mình một côn xông vào giữa đám cướp hàng trăm tên, và chỉ với hơn chục lính lệ đã bắt chúng phải quỳ gối chịu trói.
Nhưng khí phách của nhà Nho thanh liêm, uy vũ bất năng khuất này, bộc lộ đầy đủ nhất trong vụ Tri phủ Vũ Đăng Dương vạch mặt quan tham cấp trên là Hộ đốc (tức Phó tổng đốc) Ninh - Thái Phạm Thế Trung ăn chặn thóc gạo triều đình xuất kho lương cứu trợ cho dân đói. Như trên đã nói, bài ký này đã được Nguyễn Tư Giản, Thượng thư Bộ Lại (bộ đảm trách vấn đề nhân sự!) nhuận chính. Ông là vị Trưởng môn trường Hồ đình của Tiến sĩ Vũ Tông Phan, đỗ Hoàng giáp năm 1844, nổi tiếng về liêm chính và như gần đây, cả về tư tưởng canh tân và tinh thần yêu nước chống xâm lăng. Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản đương chức tại Nội các đúng thời gian (1852 - 1853) ông nội Vũ Đăng Dương của Vũ Phạm Hàm phải vào Kinh đô Huế trình diện Nội các để họ xét hỏi theo các mật báo vu khống của Hộ đốc họ Phạm. Bởi vậy những sự việc ghi trong bài phả ký “Tiên tổ hành trạng” của Vũ Phạm Hàm có thể coi đã được đóng con dấu “xác nhận đúng sự thật”.
Đoạn văn này trong Mộng Hồ gia tập có lẽ là một trong những thiên phóng sự đầu tiên về chống tham nhũng trong giới quan chức cao cấp, cũng là trận địa để ngòi bút của Tam nguyên Thám hoa tung hoành. Mượn lời thầy học là Phó bảng Phạm Hy Lượng, tác giả lột tả thực chất của cuộc đấu tranh chống tham nhũng là sự đối đầu một mất một còn giữa cá nhân trung trinh với cả một thế lực hắc ám: “Người ta thì thiên hạ ngửa trông miệng đón ý, cúi nhìn chân tránh đường, lại luôn luôn sẵn sàng vào hùa với nhau. Thế mà dám chọc giận mũi dùi đã chĩa ra, đối đầu với thế lực riêng đen tối! Quê ta quả là có một vĩ nhân như vậy đó!” Tấm gương khí phách của Tri phủ Vũ Đăng Dương hiển hiện sáng chói trong hành động đứng giữa tỉnh đường trực diện (tuy không chỉ tên) vạch trần sự ăn bẩn của quan tham họ Phạm trước văn võ bá quan: “Quan ăn nhiều là quan ô trọc - lời dân gian ấy tuy thô thiển nhưng thiết tha, chân thành về ý tứ. Bọn ta đều được nhận chức tước của triều đình, phải ngẫm nghĩ về câu ấy. Phàm những đồ ô uế, lũ chó lợn mới ăn. Người làm quan, thân đã vận gấm vóc, miệng nếm cao lương mĩ vị, mà sao mắt còn để vào những chỗ ô uế vậy?” Và ông chỉ rõ thế nào là “ăn bẩn: “Ăn cái không đáng ăn, rồi biến cong thành thẳng, thẳng thành cong, đúng thành sai, sai thành đúng, bóc lột đến tận xương máu kẻ khốn cùng để bỏ vào miệng vào bụng mình, sinh đủ ngón độc ác, cốt nuôi béo lũ thê thiếp. Những kẻ như vậy, sống lòng không trong sạch, không bằng loài chó lợn, nên dẫu thân xác không bẩn như chó lợn, thì vẫn không tránh được cái tiếng nhơ nhuốc”. Thiết nghĩ, những lời đanh thép ấy của của ông cháu Thám Hàm chống tham những vẫn còn nóng hổi hôm nay!
Gây áp lực không xong, cầu cạnh làm thân chẳng được, Hộ đốc Phạm Thế Trung mật thảo đơn từ, tận dụng “thế lực riêng đen tối”, lén lút gửi vào cơ quan Liêm phóng trong triều để vu cáo Tri phủ Vũ Đăng Dương. Đến khi ông có Chỉ dụ gọi về Kinh kiểm tra thì hắn lại trì hoãn việc làm giấy tờ và giở giọng mật ngọt khuyên ông về quê dưỡng sức đã, đợi ra Giêng hãy lai Kinh, cốt lừa ông vào tội chậm trễ. Cây ngay không sợ chết đứng, Vũ Đăng Dương kiên quyết không giấy tờ cũng vào Kinh đối diện với các cơ quan khảo hạch của Bộ Hình và Nội các. Chân lý cuối cùng được làm sáng tỏ, Phạm Thế Trung bị cách chức, Tri phủ Dương được minh oan cho về quê chờ hậu bổ. Tuy nhiên, có lẽ hơn một năm hao tổn tâm trí và sức lực đã khiến vị quan vốn cường tráng, nổi tiếng thanh liêm và thân dân, đã qua đời ngay mấy tháng sau khi về đến quê nhà, hưởng dương 59 tuổi.
Mộng Hồ gia tập dẫu chỉ còn lại bản sao năm 1930, nhưng cả về nội dung, phương pháp biên soạn, tư cách của tác giả và văn phong, vẫn là một di sản quý hiếm trong kho tàng gia phả Việt Nam.
Chú thích:
(Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.24-31)