Về hai văn bản Ngọc phả Hùng Vương (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.53 - 59)
VỀ HAI VĂN BẢN NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG
NCS. BÙI QUANG HÙNG
Đại học Quốc lập Thành Công, Đài Loan
Hiện nay ở Đền Hùng còn lưu giữ một bản Ngọc phả Hùng Vương được coi là một trong những bản cổ nhất còn tồn tại ở Việt Nam. Nội dung của cuốn ngọc phả này chủ yếu ghi lại thời gian trị vì cũng như những sự việc xảy ra trong các thời đại của 18 vị vua Hùng. Khi khảo cứu và so sánh văn bản tôi thấy không ít tình tiết sự kiện được ghi chép trong sách này trùng lặp với nội dung trong sách Lĩnh Nam chích quái và bản Ngọc phả Hùng Vương của tỉnh Nam Định.
I. Mở đầu
Bài viết này bước đầu đặt vấn đề về văn bản Ngọc phả Hùng Vương qua đối chiếu hai văn bản trên.
Hiện nay trong khi sưu tầm các văn bản Hán Nôm ở Việt Nam nhất là mảng về thần tích, ngọc phả, thường thấy văn bản này các địa phương có sự trùng lặp về kết cấu nội dung cũng như hình thức trình bày. Xét từ góc độ văn bản học, các bản ngọc phả, thần tích có nội dung giống nhau, thường được sao chép của nhau. Nếu có khác, chỉ là thay đổi một vài văn tự mà thôi, hoặc cố ý ghi không cùng niên đại, không cùng tác giả. Điều này được thể hiện quá rõ qua bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Phú Thọ và bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Nam Định.
Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Phú Thọ hiện đang được lưu giữ tại Cục lưu trữ quốc gia, ký hiệu VHT.99. Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Nam Định hiện đang được lưu giữ tại đình Vân Cù làngVân Cù xã Đồng Sơn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.
Căn cứvào những ghi chép trên văn bản, thì hai bản này có niên đại không giống nhau, nhưng nội dung và văn tự thì lại giống nhau, nên đây cũng là một vấn đề đáng được thảo luận.
II. Đôi nét về bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Phú Thọ và bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Nam Định.
1. Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Phú Thọ
Căn cứ vào nội dung và qua khảo sát về nét chữ của văn bản, thì bản này là bản viết tay (nhưng tên sách lại là bản chữ in) và có thể suy đoán rằng bản này không phải do một người viết, mà có đến 3 người viết. Có thể chia làm ba phần:
Thứ nhất: chép ruộng tế điền, phần này được viết vào năm Minh Mệnh thứ 7, hoặc sau năm Minh Mệnh thứ 7 (tương ứng với năm 1826)
Thứ hai: giới thiệu tổng diện tích tế điền, ngày sinh và ngày kị của Ất Sơn Thánh, Viễn Sơn Thánh. Phần này không ghi mốc thời gian (hai phần này giống như được bổ sung thêm sau này).
Thứ ba: Ngọc phả 18 đời Hùng Vương cổ chuyện. Trang 1 ghi:ngày tốt tháng 10 năm Canh Tý Hoàng triều Hoằng Định nguyên niên (tương ứng với năm 1600) Hàn lâm Thị độc Nguyễn Trọng hiệu đính, Lễ phiên Lê Đình Hoan sao. Ở trang 21 ghi: ngày tốt tháng 3 năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ nhất (tương ứng với năm 1470) Hàn lâm viện Trực học sỹ là Nguyễn Cố phụng mệnh soạn Ngọc phả. Nhưng, Hồng Đức nguyên niên tương ứng với năm Canh Dần chứ không phải năm Nhâm Thìn. Do đó tôi cho rằng bản này không phải là bản sao của bản năm 1470, mà chỉ là sự cố ý tạo ra một bản cổ. Bởi nếu là bản chép của bản năm 1470 thì không bao giờ có sự nhầm lẫn về năm can chi như vậy.
2. Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Nam Định
Bản Ngọc phả của tỉnh Nam Định là bản in (Hiện trang bìa và phần đầu bị mất mấy trang). Nếu đem so sánh bản này với bản của tỉnh Phú Thọ, thì bản này tương đối hoàn hảo, được chia làm 4 phần.
Thứ nhất: giới thiệu thời gian trị vì của 18 đời Hùng Vương, tuổi thọ, thê thiếp và con cháu (do phần đầu bị mất nên trước mắt chỉ còn từ đời Hùng Hi Vương)
Thứ hai: giới thiệu ba ngôi đền thờ Hùng Vương: thượng vị cung điện; trung vị cung điện; hạ vị cung điện.
Thứ ba: Các nơi thờ phụng.
Thứ tư: Thủy tổ Bách Việt
Căn cứ vào nội dung ghi chép thì bản này được in vào đầu xuân, tháng giêng năm Gia Long nguyên niên (1802) do Hàn lâm học sỹ Quốc tử giám Nguyễn Đình Thần phụng mệnh viết.
Về nội dung phần thứ 4 của bản này tức là phần Thủy tổ Bách Việt có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Vấn đề này tôi xin trình bày cụ thể hơn sau đây.
III. Những điểm khác nhau giữa hai văn bản
Những điểm khác nhau giữa hai văn bản được khái quát qua bảng sau đây:
TT | Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Phú Thọ | Bản Ngọc phả Hùng Vương tỉnh Nam Định |
| Các đờivua | Thời gian trị vì | Tuổi thọ | Các đờivua | Thời gian trị vì | Tuổi thọ |
1 | Hùng DươngVương | 215 | 260 | Khuyết | Khuyết | Khuyết |
2 | Lạc Long Quân | 400 | 420 | Khuyết | 221 | Khuyết |
3 | Hùng Quốc Vương | 221 | 260 | Khuyết | Khuyết | Khuyết |
4 | Hùng Hoa Vương | 300 | Không ghi | Khuyết | Khuyết | Khuyết |
5 | Hùng Hi Vương | 200 | Không ghi | Hùng Hi Vương | 200 | 599 |
6 | Hùng Huy Vương | 87 | 100 | Hùng việpVương | 81 | 580 |
7 | Hùng Chiêu Vương | 200 | Không ghi | Hùng HuyVương | 200 | 692 |
8 | Hùng Vĩ Vương | 100 | Không ghi | Hùng NinhVương | 100 | 642 |
9 | Hùng Định Vương | 80 | Không ghi | Hùng Chiêu Vương | 80 | 602 |
10 | Hùng Uy Vương | 90 | Không ghi | Hùng Uy Vương | 90 | 512 |
11 | Hùng Trinh Vương | 107 | Không ghi | Hùng Trinh Vương | 107 | 514 |
12 | Hùng Vũ Vương | 96 | Không ghi | Hùng Vũ Vương | 96 | 496 |
13 | Hùng Việt Vương | 105 | Không ghi | Hùng Việt Vương | 105 | 502 |
14 | Hùng Anh Vương | 99 | Không ghi | Hùng Định Vương | 99 | 386 |
15 | Hùng Triều Vương | 94 | Không ghi | Hùng Triều Vương | 94 | 286 |
16 | Hùng TạoVương | 92 | Không ghi | Hùng TạoVương | 92 | 273 |
17 | Hùng Nghị Vương | 106 | Không ghi | Hùng Nghị Vương | 160 | 217 |
18 | Hùng Duệ Vương | 115 | Không ghi | Hùng Duệ Vương | 150 | 227 |
| Tổng | 2761 | | | 2655 | 8618 |
1. Sự khác biệt về thời gian trị vì và tuổi thọ của các đời vua Hùng
Căn cứ vào bảng đối chiếu ở trên, trước hết chúng ta thảo luận sự khác biệt giữa hai bản về thời gian trị vì của các vị vua Hùng. Ởbản của tỉnh Phú Thọ ghi tổng cộng các đời vua Hùng trị vì là 2761 năm. Ở bản của tỉnh Nam Định thì ghi tổng cộng là 2655 năm, hai bản hơn kém nhau 106 năm. Trong đó ở đời thứ 6 Hùng Hi Vương (bản tỉnh Phú Thọ) hơn Hùng Việp Vương (bản tỉnh Nam Định) 6 năm. Đời thứ 17 Hùng Nghị Vương bản Phú Thọ hơn bản Nam Định 54 năm. Đời thứ 18 Hùng Duệ Vương bản Phú Thọ hơn bản Nam Định 35 năm tổng là 105 năm. Vậy cuối cùng thì 18 đời Hùng Vương trị vì tất cả bao nhiêu năm?
Theoghi chép trong các sách Đại Việt sử ký toàn thưvà Việt Nam sử lượcthì thời đại Hùng Vương bắt đầu từ năm 2879 TCN, kết thúc vào năm 258 TCN, tổng cộng 2622 năm, điều này cũng phù hợp với những ghi chép ở bia đá tại đền Hùng: “Triều đại Hùng Vương tổng 2622 năm”. Có thể nói, 18 đời Hùng Vương là chuyện thần thoại truyền lại, những tư liệu chủ yếu truyền là tư liệu qua truyền khẩu và mang nhiều màu sắc của thần thoại. Ví dụ một người có thể sống được mấy trăm năm, ở ngôi được mấy trăm năm v.v… Truyền thuyết đó đến khoảng thế kỷ thứ XIV mới được ghi lại trong sách Lĩnh Nam chích quái. Nhưng đáng tiếc sách này không ghi rõ thời đại Hùng Vương tồn tại bao lâu. Trước mắt những tư liệu Ngọc phả Hùng Vương được tìm thấy đều ghi lại từ các chuyện lưu truyền trong dân gian, hoặc được chép lại từ một sách nào đó, hoặc sao đi chép lại tạo ra nhiều cách nói khác nhau. Đây là điều thường gặp trong các tư liệu thần thoại.
Về thời gian trị vì của 18 đời vua Hùng, một số học giả dựa vào những tư liệu lịch sử của Trung Quốc để suy luận về thời gian trị vì của 18 đời vua Hùng kéo dài khoảng 300 đến 400 năm, nhưng tôi cho rằng những giả thuyết này chưa có sức thuyết phục.
Bên cạnh đó sự khác biệt giữa 2 văn bản trên cũng rất rõ ràng, đó là trong bản Ngọc phả Hùng Vương của tỉnh Phú thọ không ghi hết tuổi thọ của các vị vua, cũng như số lượng các thê tử, con cháu của vua. Rõ ràng bản tỉnh Phú Thọ có nhiều giản lược, còn nhiều thiếu sót không chi tiết bằng bản tỉnh Nam Định.
2. Sự khác biệt về tên gọi và thứ tự của các đời vua Hùng
Theo tư liệu truyền khẩu cũng như tư liệu được ghi trong các thư tịch của Việt Nam, chúng ta có thể suy đoán xã hội Hùng Vương đã bước vào xã hội phụ hệ, đó là hình thức cha truyền con nối tất cả 18 đời. Do các bản ghi chép không giống nhau, khiến cho chúng ta khó xác định được 18 đời vua Hùng là những ai? Tên của mỗi vị và thứ tự ra sao? Trong phần này tôi không chú trọng vấn đề tính chân thực của nó, mà chủ yếu muốn tìm hiểu sự khác biệt giữa hai văn bản.
Trước mắt, Đại Việt sử kí toàn thư và Lĩnh Nam chích quái là hai tài liệu ghi chép về Hùng Vương sớm nhất ở Việt Nam, điều đáng tiếc là hai tài liệu này chủ yếu ghi chép về nguồn gốc và diễn biến của các đời vua Hùng, mà không ghi rõ có bao nhiêu đời và tên các vị vua Hùng là gì? Nhưng trong bản ngọc phả tỉnh Phú Thọ và tỉnh Nam Định thì ghi rất rõ ràng, có điều giữa hai bản có sự mâu thuẫn với nhau. Ví dụ cùng một thời đại nhưng mỗi bản lại ghi tên các vị vua Hùng khác nhau hoặc cùng tên một vị vua Hùng nhưng lại không cùng thời đại. Xin xem bảng đối chiếu dưới đây.
Các đời | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 |
Bản Phú Thọ | H Dương V | Lạc Long Quân | H Quốc V | H Hoa V | H Việp V | H Huy V | H Chiêu V | H Vĩ V | H Định V | H Uy V | H Trinh V | H Vũ V | H Việt V | H Anh V | H Triều V | H Tạo V | H Nghị V | H Duệ V |
Bản Nam Định | Khuyết | Khuyết | Khuyết | Khuyết | H Hi V | H Việp V | H Huy V | H Ninh V | H Chiêu V | H Uy V | H Trinh V | H Vũ V | H Việt V | H Định V | H Triều V | H Nghị V | H Nghị V | H Duệ V |
| | | | | | | | | | | | | | | | | | |
Từ bản đối chiếu trên, chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai bản. Ví dụ Hùng Huy Vương, trong bản tỉnh Phú
Thọ thì ghi ở đời thứ 6, bản tỉnh Nam Định thì ghi ở đời thứ 7, Hùng Chiêu Vương ở bản tỉnh Phú Thọ ghi ở đời thứ 7, ở bản tỉnh Nam Định thì ghi ở đời thứ 9. Cũng giống như vậy, Hùng Định Vương bản tỉnh Phú Thọ ghi ở đời thứ 9 bản tỉnh Nam Định ghi ở đời thứ 14. Ngoài ra, ở bản tỉnh Nam Định ở đời thứ 8 là Hùng Ninh Vương, nhưng ở bản Phú Thọ không có. Và ngược lại trong bản Nam Định không có Hùng Vĩ Vương và Hùng Anh Vương. Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta thử xem các học giả ngày nay có những giả thuyết nào về tên và thứ tự các vua Hùng.
Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, viết:
1.Kinh Dương Vương Lộc Tục, tôn dâng miếu hiệu là Hùng Dương.
2.Lạc Long Quân Sùng Lãm, thụy hiệu Hùng Hiền.
3.Hùng Lân
4.Hùng Việp
5.Hùng Hi(1)
6.Hùng Huy
7.Hùng Chiêu
8.Hùng Vĩ
9.Hùng Định
10.Hùng Hi(2)
11.Hùng Trinh
12.Hùng Võ
13.Hùng Việt
14.Hùng Anh
15.Hùng Triều
16.Hùng Tạo
17.Hùng Nghị
18.Hùng Duệ.
Có thể nói, giả thuyết này có phần giống với bản tỉnh Phú Thọ, ngoài đời thứ 3 và đời thứ 4 hai bản không giống nhau, những đời khác đều giống nhau. Rất có thể các tác giả đã sử dụng một bản khác để làm tư liệu nên có sự khác biệt này.
3. Sự kiện phát sinh không cùng thời đại
Ngoài những vấn đề nêu trên, giữa hai bản còn có điểm khác nhau nữa đó là cùng một sự kiện (câu chuyện) nhưng hai bản lại ghi vào hai thời điểm khác nhau, ví dụ cũng là chuyện Phù Đổng Thiên Vương, nhưng bản Phú Thọ thì lại ghi ở đời Hùng Vương thứ 5 bản Nam Định thì ghi ở đời thứ 6 Hùng Việp Vương.
Chuyện Phù Đổng Thiên Vương là một trong những chuyện không chỉ lưu truyền rộng rãi trong dân gian, mà còn được ghi chép trong các thư tịch cổ kim của Việt Nam. Ví dụ sách về thần thoại truyền thuyết có: Lĩnh Nam chích quái; Sách về lịch sử có Đại Việt sử kí toàn thư, Việt Nam sử lược, Việt sử tiêu án v.v... trong đó ngoài quyển của Ngô Thì Sỹ là Việt sử tiêu án không ghi rõ chuyện này xảy ra ở thời điểm nào, còn các sách khác đều ghi rất rõ ràng. Ví dụ:
Lĩnh Nam chích quái viết: thời Hùng Vương (quyển hai “thế” là chỉ đời thứ 6)…(3)
Lĩnh Nam chích quái ngoại truyện: Hùng Vương đời thứ 6…(4)
Tân biên Thiên Nam lục liệt truyện (từ Lĩnh Nam chích quái): Hùng Vương đời thứ 6…(5)
Đại Việt sử ký toàn thư: Hùng Vương đời thứ 6(6).
Việt Nam sử lược: Hùng Vương đời thứ 6…(7)
Có thể nói, các thuyết ghi chép Phù Đổng thiên vương xảy ra vào Hùng Vương đời thứ 6 được các nhà nghiên cứu xưa nay tán đồng nhiều hơn, cũng như được ghi lại nhiều trong các thư tịch của Việt Nam. Rất có thể họ đã căn cứ vào một bản nào đó rồi coi nó là bản chính. Còn cách ghi như bản Phú Thọ là rất hiếm thấy, nhưng đây cũng là điều chúng ta cần suy nghĩ tại sao lại có cách nói vậy?
IV. Mối liên hệ giữa bản Ngọc phả tỉnh Phú Thọ và bản Ngọc phả tỉnh Nam Định
Nếu như chỉ căn cứ vào những ghi chép ở hai bản về thời điểm chép, tên soạn giả, sự khác nhau về nội dung, và nơi cất giữ của hai bản, rất có thể chúng ta sẽ cho rằng hai bản này không có mối liên hệ gì với nhau, nhưng qua khảo sát, có thể chứng minh được rằng hai bản này có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Có hai nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: từ góc độ nội dung của hai bản, mặc dù nội dung giữa hai bản có những chỗ không giống nhau về trình tự các chuyện, nhưng hầu hết các chuyện được ghi trong bản tỉnh Phú Thọ thì cũng được ghi trong bản tỉnh Nam Định như: Nguồn gốc bách Việt, Nữ thầy bói, Phù Đổng Thiên Vương, An Dương Vương v.v…
Thứ hai, từ góc độ văn bản học, hai bản sử dụng các văn tự giống nhau đến hơn 90%. Hầu như mỗi đoạn văn chỉ có cải đổi một vài chữ hoặc thêm vào một vài chữ mà thôi, còn lại thì giống nhau y hệt. Tham khảo bản kèm theo dưới đây:
Những chỗ khoanh ở trên là những văn tự khác nhau hoặc được viết thêm vào giữa hai bản, còn lại là những đoạn văn tự giống nhau. Đây chính là minh chứng quan trọng để chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa hai bản với nhau. Những trường hợp như thế này, hiện nay trong khi tiến hành thu thập tư liệu Hán Nôm ở Việt Nam là những trường hợp thường hay gặp (ví dụ các bản Lĩnh Nam chích quái cũng có sự thêm bớt văn tự). Mặc dù các bản đã cố tình ghi rõ tên soạn giả là các Hàn lâm học sỹ Quốc tử giám, hoặc do các Lễ phiên v.v… ghi chép lại, khiến cho chúng ta có nhiều khó khăn trong việc giám định sự chân giả. Nhưng nếu dùng phương pháp so sánh đối chiếu giữa các bản theo góc độ văn bản học, thì rất dễ dàng nhận được ra mối liên hệ giữa các bản cũng như sự ngụy tạo của chúng.
V. Kết luận
Tóm lại việc thêm bớt sửa đổi nội dung, văn tự để cố tình tạo ra một bản mới là hiện tượng thường gặp trong các văn bản Hán Nôm hiện đã sưu tầm được, nhất là các bản thần tích ngọc phả thường gặp nhiều hơn. Các bản mới tạo này thường có một điểm chung đó là cố tình ghi rõ đầy đủ thời gian và họ tên, chức vụ của soạn giả, khiến cho người đọc rất dễ tin rằng đó là bản chính, hoặc là bản đáng được tin cậy, nhưng khuyết điểm của các bản này thường ở chỗ hình thức văn bản, nội dung, đặc biệt là văn tự và kết cấu ngữ pháp
Từ những vấn đề được nêu trên tôi tạm đưa ra kết luận sau:
Thứ nhất hai bản này không thuộc dạng bản cùng tác giả và được sửa lại cho hoàn thiện hơn, vì nếu là bản chỉnh sửa lại của cùng một người thì thông thường sẽ có cùng tên tác giả, và chỉ có khác về thời gian ghi chép cũng như hình thức và nội dung. Trong trường hợp hai bản này, nếu như soạn giả như nhau thì có thể khẳng định đây là bản sửa lại cho hoàn chỉnh. Nhưng ở đây không đáp ứng được yêu cầu này.
Thứ hai, về sự giống và khác nhau giữa hai bản có những giả thiết sau:
1, Đây là hai bản sao chép lẫn nhau, nhưng lại cố tình tạo ra sự khác biệt bằng cách thay đổi những tình tiết, thay đổi văn tự, thay đổi tên soạn giả cũng như thay đổi mốc thời gian;
2, Có thể hai bản này thuộc bản chép lại của những bản từng sao chép của nhau (nghĩa là hai bản này thuộc đời F1, hoặc F2, hoặc FX) và bản mà chúng chép từng có bản gốc do một soạn giả viết sau đó cố ý tạo ra bản mới.
Như vậy có thể nói, việc đem những bản ngọc phả Hùng Vương đối chiếu để phân loại theo nội dung, hình thức văn tự để tìm ra những mối liên hệ của các bản là việc làm hết sức quan trọng, để từ đó đi đến xác định tìm ra bản gốc, cũng như minh chứng việc sao chép, tái tạo của các văn bản Hán Nôm trước đây.
Chú thích và tài liệu tham khảo
() Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược《越南史略》, ( bản điện tử), p 9./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.53 - 59)