VI | EN
Vị thế của Thăng Long - Hà Nội với nền giáo dục và khoa cử Nho học Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Số 4(101) 2010; Tr. 13-20)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 4(101) 2010; Tr. 13-20)

VỊ THẾ CỦA THĂNG LONG - HÀ NỘI

VỚI NỀN GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ NHO HỌC VIỆT NAM

BÙI XUÂN ĐÍNH

PGS.TS. Viện Dân tộc học

Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước từ buổi đầu thời phong kiến tự chủ, Thăng Long - Hà Nội luôn có một vị trí rất trọng yếu trên tất cả các mặt: chính trị - kinh tế - văn hóa - giáo dục. Đối với nền giáo dục và khoa cử Nho học - nền giáo dục giữ một vị trí rất quan trọng trên nhiều phương diện: đào tạo con người, hình thành đội ngũ trí thức, tuyển bổ quan lại, tạo lập nền hành chính và nền văn học bác học trong hơn 1000 năm tồn tại của chế độ phong kiến Đại Việt, vùng đất Thăng Long - Hà Nội luôn giữ là vị trí trung tâm.

I. THĂNG LONG - HÀ NỘI, TRUNG TÂM GIÁO DỤC CỦA CẢ NƯỚC QUA CÁC THỜI KỲ

1. Quốc tử giám - Trường công lập lớn nhất, trường đại học duy nhất, cơ sở giáo dục lớn nhất của cả nước

Tháng tám năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ (tháng 9 năm 1070) - tròn một “hội” kể từ khi vua Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long (năm 1010), vua Lý Thánh Tông cho dựng nhà Khổng miếu (tiền thân của Văn miếu - Quốc tử giám sau này) ở phía nam Kinh thành để Hoàng thái tử đến học. Sáu năm sau - năm Bính Thìn niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng (năm 1076), vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc tử giám, tuyển các văn thần, lấy những người có văn học bổ vào đó [3, tr.353].

Hai sự kiện trên đây là mốc đánh dấu sự tôn vinh Nho giáo và nền giáo dục Nho học của Nhà nước phong kiến Đại Việt. Quốc tử giám là trường thuộc hệ giáo dục công lập, là trường đại học đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam. Trong gần 800 năm của các vương triều Lý - Trần - Hồ - Lê (Lê sơ và Lê - Trịnh) - Mạc, Thăng Long không chỉ là trung tâm mà còn là đỉnh cao của nền giáo dục Nho học Việt Nam vì những lý do sau:

- Được học tại Văn miếu - Quốc tử giám lúc đầu chỉ là các Hoàng thái tử, về sau được mở rộng tới con em của các gia đình quan lại cao cấp, quý tộc. Đến thời Lê sơ, triều đình cho phép các địa phương được chọn những Phủ sinh xuất
sắc nhất, bất kể là con em quan lại hay dân thường được vào Quốc tử giám học. Suốt mấy trăm năm, Quốc tử giám là nơi học tập của biết bao thế hệ học trò ưu tú, tài giỏi nhất của các địa phương trong cả nước.

- Khi nhà Nguyễn được thiết lập, Kinh đô đặt tại Huế, Văn miếu - Quốc tử giám cũng được dựng tại đây, song Văn miếu - Quốc tử giám ở Thăng Long vẫn được coi là trung tâm văn hóa, giáo dục của các trấn Bắc Thành. Mặc dù vào thời Nguyễn, các phủ huyện của vùng đất Hà Nội và các tỉnh lân cận đều có trường học riêng, song Thăng Long, đặc biệt là khu vực quanh Văn miếu - Quốc tử giám vẫn là một trung tâm học tập lớn, sau trung tâm Hồ Gươm. Học trò các nơi vẫn về đây học tập, luyện thi, chuẩn bị cho các kỳ thi Hương, thi Hội. Phía đông của Hồ Văn, có người yêu thơ văn là Phủ Hào đã lập một Nho sinh quán (Quán anh đồ) làm nơi trú ngụ cho học trò các tỉnh về thi cử. Đã có biết bao người nhận được những danh hiệu học vị cao của trường thi phong kiến sau một thời gian tu luyện tại Quốc tử giám để sau đó, đem tài năng, kiến thức học được ra thi thố với đời.

- Tham gia giảng dạy tại Quốc tử giám đều là các vị đỗ đại khoa, những người văn hay chữ tốt, có kinh nghiệm nghề nghiệp, có uy tín, có đức độ bậc nhất cả nước.

- Văn miếu - Quốc tử giám với hàng loạt bia ghi danh những người đỗ đạt qua các kỳ thi Hội, thi Đình là biểu tượng cho nền giáo dục khoa cử Nho học, cho truyền thống văn hóa của nước Đại Việt. Thăng Long là nơi chứng kiến bao biến cố của lịch sử đất nước, trong đó có cả những biến cố đau buồn sau những cuộc tranh chấp, nội chiến giữa các phe phái, những cuộc tàn phá của bọn phong kiến xâm lược phương Bắc. Văn miếu - Quốc tử giám cũng bao lần chịu chung số phận đó. Song, như một quy luật, sau khi can qua binh hỏa lắng dịu, các vương triều đều phải lo tu bổ lại di tích là biểu tượng cho truyền thống giáo dục và văn hóa này của đất nước.

2. Thăng Long - Hà Nội, nơi tập trung đông nhất hệ thống trường tư

Vị trí là trung tâm của nền giáo dục Nho học nước nhà của Thăng Long - Hà Nội còn thể hiện đây là nơi tập trung đông nhất hệ thống các trường tư thục. Việc hình thành các trường này xuất phát từ yêu cầu học chữ cao hơn, cần thiết so với vùng nông thôn vì những lý do sau:

- Dường như là một quy luật, chữ Hán được đưa về đô thị đầu tiên, rồi mới lan về nông thôn.

Thăng Long là một đô thị cổ. Muộn nhất là vào giữa thế kỷ VIII, với việc bọn đô hộ nhà Đường xây La thành, đô thị Đại La đã thành hình. Lúc đầu Đại La mang tính chất một "đô thị quân sự", nhằm phục vụ cho các yêu cầu của bọn đô hộ; về sau được mở mang ngoài ý muốn khách quan của bọn xâm lược, đáp ứng được một phần yêu cầu sống của các tầng lớp cư dân quanh thành, dần dần trở thành một đô thị kết hợp hai yếu tố quân sự và dân sự. Đô thị Đại La giữ một vị thế quan trọng về mọi mặt nên sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ với tầm nhìn xa trông rộng đã cho dời đô từ Hoa Lư về đây và đổi tên thành “Thăng Long”.

- Thăng Long cũng như các đô thị khác ở nước ta thời phong kiến trước hết và chủ yếu là đô thị hành chính (nơi đóng của cơ quan hành chính của một địa phương). Việc bảo đảm cho sự hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính cũng như phục vụ cuộc sống của quan lại, viên chức, binh lính thu hút kéo các tầng lớp cư dân về sinh sống, phát triển buôn bán, làm các nghề thủ công. Yêu cầu giải quyết các công việc hành chính của các cơ quan nhà nước, giữa nhà nước với các tổ chức dân sự rất lớn. Bên cạnh đó, các mối quan hệ xã hội, mua bán và giao dịch dân sự giữa những người thuộc các thành phần cư dân khác nhau, không thân quen ở phố phường đô thị thường “đậm đặc” và phức tạp hơn, nên nảy sinh nhu cầu dùng văn tự, khế ước lớn hơn so với cư dân nông thôn (vì cư dân làng xã thân quen nhau từ tấm bé và truyền đời, ràng buộc nhau bền chặt bằng các quan hệ huyết thống kết hợp với quan hệ láng giềng theo kiểu “trong họ ngoài làng”, nên trong giao dịch tài sản ít dùng đến văn tự, khế ước).

- Là trung tâm hành chính nên đô thị tập trung đông đảo những người có trình độ cao (quan chức và lại viên). Họ mong muốn con cái kế tục sự nghiệp của mình nên đã truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm cho con em và những người thân thuộc. Do vậy, các lớp học tư xuất hiện đầu tiên từ những gia đình này.

- Nhu cầu học tập để hiểu biết, phục vụ cho việc xử lý các mối quan hệ của cư dân đô thị lớn hơn so với cư dân nông thôn.

Thăng Long là Kinh đô của cả nước, là đô thị lớn nhất nước nên các yêu cầu trên đây đương nhiên cũng lớn hơn hẳn so với các đô thị khác và với vùng nông thôn. Đó là cơ sở làm cho giáo dục ở Thăng Long phát triển hơn, do vậy, sớm xuất hiện và xuất hiện “đậm đặc” hơn các trường tư, khi mà hệ thống trường công của Nhà nước không đáp ứng được. Thực tế chứng minh rằng, từ thời Lý đến thời Nguyễn, Thăng Long và vùng phụ cận có hệ thống trường tư lớn nhất và tương đối dày đặc.

Việc mở trường, lớp dạy học ngày xưa không bị ràng buộc chặt chẽ. Bất kỳ nho sĩ nào, đỗ đạt hay không đỗ đạt, đỗ thấp hay đỗ cao, đang làm quan hay đã về hưu cũng có thể mở lớp. Những gia đình coi trọng việc học thường khi con lên 7, 8 tuổi đã đón thầy về nhà dạy chữ cho con, thu hút con em của các gia đình khác trong làng, cả các làng bên đến học. Lớp học tư gia trở thành lớp học, trường học chung cho cả làng, cả xã, thậm chí của cả một vùng nhiều làng xã.

Từ đầu thời Lý, trường tư thục đầu tiên đã xuất hiện ở Kinh đô Thăng Long, đó là trường của Lý Công Ẩn.

Thời Trần, những trường tư nổi tiếng được sử sách ghi chép lại là trường của Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc và trường Huỳnh Cung của Chu Văn An. Từ ngôi trường Huỳnh Cung, nhiều học trò của ông đã trở thành những vị đại quan, có tiếng nói quan trọng trong triều đình, tiêu biểu trong số họ là Phạm Sư Mạnh và Lê Quát.

Ngoài ra còn có các trường nhỏ hoặc các lớp học tại gia, chẳng hạn, lớp học của Tư đồ Trần Nguyên Đán, có nhiều nhà giáo đến dạy học, trong đó có Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh) và Nguyễn Hán Anh - hai người thầy trẻ đã được hai cô con gái của quan Tư đồ đem lòng yêu mến, gả con gái cho. Cảm tạ tấm lòng bao dung của quan Tư đồ, hai thầy giáo trẻ đã gắng chí dùi mài kinh sử, về sau đều thi đỗ. Kết quả của mối tình đó là đã sản sinh ra một con người về sau đã trở thành vị Thái học sinh, có tài đức, có công lớn trong việc phò giúp Bình Định vương Lê Lợi đánh đuổi nhà Minh lập ra Vương triều Lê. Ông trở thành người anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới: Nguyễn Trãi.

Thời Lê -Trịnh, Thăng Long tập trung rất nhiều trường nổi tiếng của các vị đại khoa, như :

- Trường của Tiến sĩ Nguyễn Đình Trụ (đầu thế kỷ XVIII) - một “bậc khuôn mẫu trong làng Nho”[1, tr.387]; “(Ông) ham khuyến dụ bọn hậu tiến, tác thành nhiều người, có mấy nghìn môn sinh, thi đậu rất nhiều, làm mực thước trong rừng Nho, người ta xưng là tôn sư” [4, tr.260].

- Trường Hào Nam của Thám hoa Vũ Thạnh “Tác thành rất nhiều, đỗ đại khoa đến hơn 70 người. Về sau có nhiều người làm quan có tiếng tăm”[1, tr.387].

- Ngoài ra còn có các trường ở vùng ven đô như Trường Quan Hoa của Hương cống Nguyễn Công Thịnh ở làng Thượng Yên Quyết (nay thuộc quận Cầu Giấy); trường Phương Am của họ Nguyễn làng Phú Thị (huyện Gia Lâm).

Ngoài các trường lớn, có tiếng trên đây, Thăng Long và vùng phụ cận còn có nhiều trường hoặc lớp có quy mô nhỏ hơn, song đã góp công lớn vào việc dạy dỗ các lớp học trò. Có trường, lớp, giáo viên là các bậc Tiến sĩ, như lớp của Tiến sĩ Đỗ Văn Luân ở làng Thượng Yên Quyết (nay thuộc quận Cầu Giấy) dạy 2 con đỗ Tiến sĩ và 2 con đỗ Hương cống; song nhiều trường hợp, thầy là người cha đi thi không đỗ, hoặc đỗ ở mức thấp, đã dồn tâm huyết để dạy con đỗ Tiến sĩ, được vua tặng biển gỗ sơn son thếp vàng "Phụ giáo tử đăng khoa" (cha dạy con đỗ đạt); hoặc lớp học của một ông đồ ở làng Thịnh Quang (nay thuộc quận Đống Đa), từng dạy Nguyễn Huy Mãn (làng Phú Thị) và nhiều người khác đỗ Tiến sĩ.

Thời Nguyễn, khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ nhiều trường tư Nho học được mở ở Hà Nội với những hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục nhằm chấn hưng văn hóa Thăng Long sau một thời gian bị mai một. Một loạt những trường tư nổi tiếng đã được mở ở Hà Nội thời kỳ này. Những trường tiêu biểu phải kể đến trường của Tiến sĩ Phạm Quý Thích, trường của Giải nguyên Phạm Hội, trường của Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Trường Phương Đình của Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, Trường Cúc Hiên của Hoàng giáp Lê Đình Diên. Điều đáng lưu ý là, nếu như vào thời Lê - Trịnh, các trường tư nằm phân tán ở nhiều nơi thì đến thời Nguyễn, các trường tư đều tập trung ở khu vực Hồ Gươm, làm cho khu vực này trở thành trung tâm giáo dục lớn nhất, có uy tín nhất Hà Nội. Các trường này đã đào tạo được nhiều thế hệ học trò thành đạt.

- Như vậy, Thăng Long là nơi quy tụ chất xám: không chỉ tập trung đông nhất về số lượng mà còn thu hút những học trò giỏi nhất từ các địa phương (không chỉ vùng “Tứ trấn” bao quanh Kinh đô, mà cả ở các làng quê vùng Thanh - Nghệ) về học và phần lớn các học trò các địa phương thường phải qua “lò luyện” ở Thăng Long mới đỗ đạt hoặc nhanh chóng đỗ đạt. Việc tập trung đông đảo người học kéo theo hệ quả : Thăng Long thu hút đông đảo những người thầy giỏi nhất ở các bậc học, nhất là bậc cao học (học để đi thi Hương, thi Hội), có uy tín nhất từ các địa phương về dạy.

III. THĂNG LONG - HÀ NỘI, TRUNG TÂM THI CỬ CỦA CẢ NƯỚC

Với vị thế là Kinh đô của cả nước trong gần 800 năm (1010 - 1789), Thăng Long không chỉ là nơi thử nghiệm tài năng dạy học của các bậc thầy, là nơi học tập, rèn luyện khoa cử của biết bao lớp học trò ham học mà còn là nơi tổ chức các kỳ thi Hội và thi Đình - các kỳ thi tuyển chọn nhân tài ở bậc học vị cao nhất của cả nước.

Trong 779 năm trên đây, các vương triều: Lý - Trần - Hồ - Lê (Lê sơ và Lê - Trịnh) và Mạc đã tổ chức 145 khoa thi Hội (phần lớn các khoa thi gắn với thi Đình), có 10 khoa không được tổ chức ở nội đô Thăng Long:

- Khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh đời vua Trần Duệ Tông (năm 1374), thi Đình ở Thiên Trường, do Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đang ngự tại đây (có 3 người đỗ).

- Năm Giáp Tý niên hiệu Xương Phù đời vua Trần Phế đế (năm 1384), Thượng hoàng ở chùa Vạn Phúc núi Tiên Du (nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) nên thi Thái học sinh tại đây, có 2 người đỗ [3, tr. 154].

- Khoa Bính Ngọ (năm 1426), thi khoa Hoành từ tại Bồ Đề do nhà Minh còn chiếm đóng Thăng Long, có 3 người đỗ.

- 7 khoa tổ chức ở Thanh Hóa do lúc này (1533 - 1592) nhà Lê mới được trung hưng nhờ các quan lại trung thành, có tất cả 45 người đỗ.

Còn lại 135 khoa được tổ chức ở nội đô Thăng Long, lấy đỗ 2279/ 2889 Tiến sĩ (Những người đỗ hai lần chỉ được tính là một người) của cả nước thời phong kiến. Trước mỗi khoa thi, một lượng lớn sĩ tử (cùng người nhà họ) từ tứ xứ đổ về Thăng Long “lều chõng”. Những khoa có ít người dự thi mà sử cũ ghi lại cũng đến 3000 người (khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức - 1475), các khoa đông người lên đến 5000 người (như khoa Mậu Ngọ, khoa Nhâm Tuất cùng niên hiệu Cảnh Thống (1498, 1502); đặc biệt khoa Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận (năm 1514) lên đến 5700 người.

Mỗi kỳ thi đặt ra cho chính quyền Thăng Long nhiều vấn đề phải giải quyết:

- Trước hết, là phối hợp với quân đội triều đình bảo đảm an ninh trước kỳ thi (nhất là việc bảo đảm chỗ ở tạm thời cho sĩ tử và người nhà đi theo), trong kỳ thi và sau kỳ thi. Chỉ có Thăng Long với đội ngũ quân đội (cả quân thường trực và quân địa phương) cùng lực lượng dân phòng đông và mạnh; với cuộc sống đô thị, cuộc sống ở Kinh đô ít nhiều có nền nếp mới đủ sức bảo đảm được vấn đề an ninh (an ninh chung và an ninh trường thi).

- Hai là, chỉ có Thăng Long mới đủ điều kiện để tiếp nhận nguồn của cải, vật chất từ các địa phường chuyển về theo lệ cung đốn trường thi.

- Ba là, bảo đảm nguồn hàng hóa, bình ổn giá các mặt hàng liên quan đến đời sống của cư dân sở tại và sĩ tử các nơi đổ về trước, trong và sau mỗi kỳ thi.

Chỉ có Kinh đô Thăng Long với cơ sở vật chất “bề thế” hơn, với tiềm lực kinh tế dồi dào hơn, an ninh nghiêm ngặt hơn mới tổ chức được các kỳ thi như vậy. Điều này càng thể hiện rõ hơn ở chỗ:

+ Trong những thời điểm “loạn ly” vào cuối giai đoạn Lê sơ (1505 - 1526), dưới các triều vua: Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông, các kỳ thi Hội, thi Đình vẫn được tổ chức. Vương triều Mạc sau khi thiết lập được 2 năm, đã tổ chức kỳ thi Hội (gắn với thi Đình) đầu tiên vào năm Kỷ Sửu - 1529 và cứ đều đặn 3 năm tổ chức một khoa thi, ngay cả giai đoạn cuối (1586 - 1593), khi quân đội của nhà Lê Trung hưng dồn dập tấn công ra Bắc, Thăng Long chịu ảnh hưởng rất nặng nề của các đợt tấn công này. Đấy không chỉ là do nhà Mạc gắng sức nhằm tạo ra được đội ngũ trí thức đông đảo đủ tài năng giữ được cơ đồ nhà Mạc, mà còn vì muốn khẳng định sự ổn định, sự “trường tồn” của vương triều và điều quan trọng nhất là, Kinh đô Thăng Long là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố để tổ chức thành công các kỳ thi Hội,

+ Thời Mạc, ngoài Kinh đô Thăng Long, nhà Mạc còn xây dựng Dương Kinh (nay thuộc địa phận xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) là quê gốc của nhà Mạc làm Kinh đô thứ hai. Chắc hẳn nhà Mạc cũng muốn “kéo” cả kỳ thi Hội về Kinh đô - quê hương mình để gây thanh thế, song Dương Kinh không có được những điều kiện cần thiết để tổ chức thi, vì thế các khoa thi Hội vẫn được tổ chức ở Thăng Long.

+ Nhà Lê bắt đầu sự nghiệp trung hưng do một số cựu thần khởi xướng, đóng đô ở cung An Trường - Thanh Hóa (khoảng sau năm Quý Tỵ - 1533 ít lâu), song mãi đến năm Giáp Dần - 1554, nghĩa là 21 năm sau mới tổ chức được kỳ thi đầu tiên gọi là Chế khoa và 11 năm sau - năm Ất Sửu, 1565 mới tổ chức được kỳ thi thứ hai và 12 năm sau nữa - năm Đinh Sửu, 1577 mới tiến hành kỳ thi thứ ba. Từ sau kỳ thi này, mới ấn định được 3 năm một lần (song năm Bính Tuất lại không tổ chức được). Trong khi đó, chỉ hai năm sau Thăng Long, vào năm Ất Mùi (năm 1595), nhà Lê Trung hưng đã tổ chức khoa thi đầu tiên tại đây, không chỉ thi Hội mà còn lại tiến hành thi Đình như thường lệ. Các kỳ thi sau đều được tổ chức 3 năm một lần.

+ Trong 7 khoa thi ở Thanh Hóa, chỉ tổ chức được các kỳ thi Hội, những người đỗ ở kỳ thi này được phân thành hai hạng: Nhất giáp, Nhị giáp và Tam giáp Tiến sĩ, không có các học vị thuộc hàng “Tam khôi” do kỳ thi Đình không tổ chức được. Trong khi đó, nhà Lê Trung hưng ngay từ khoa đầu tiên mở lại ở Thăng Long đã có chủ trương lấy Tam khôi, nên tổ chức thi Đình; song do những điều kiện khách quan nên trong 10 khoa thi đầu tiên, không chọn được những người thuộc diện này.

Những cứ liệu trên đây cho thấy, Thăng Long có lợi thế và có vị thế đặc biệt quan trọng đối với các kỳ thi Hội, thi Đình của cả nước thời Lý - Trần - Mạc và Lê - Trịnh.

Ngoài các kỳ thi Hội, Thăng Long còn là một trung tâm của các kỳ thi Hương. Từ thời Lê trở về trước, Thăng Long là một trường thi lớn, các sĩ tử không chỉ của phố phường Thăng Long mà còn ở vùng phụ cận (vùng giáp ranh các xứ Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam) đến dự thi. Song trường thi không cố định: phần lớn được tổ chức ở Quảng Bá (ven Hồ Tây), song nhiều khoa thi diễn ra trong Văn miếu, có khoa ở khu vực Cầu Giấy hiện nay, có khoa ở bến Thảo Tân, thậm chí khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên (tháng 4 năm 1523) tổ chức ở bãi dâu xã Xuân Đỗ (huyện Gia Lâm, nay thuộc quận Long Biên)…

Sang thời Nguyễn, khoa thi đầu tiên (năm Đinh Mão, 1807), sĩ tử thuộc địa bàn Hà Nội ngày nay thi ở ba trường: Sơn Tây, Kinh Bắc và Sơn Nam. Đến khoa Quý Dậu (năm 1813), hai trường Kinh Bắc và Sơn Tây bị bãi bỏ, thay bằng trường Thăng Long, sĩ tử phủ Hoài Đức và các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa và Cao Bằng thi chung tại trường này.

Đến khoa Giáp Ngọ đời vua Minh Mệnh (năm 1834), trường thi Hà Nội là trường thi lớn, dành cho sĩ tử của các tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn [2, tr.182]. Như vậy, trường thi Hà Nội là trung tâm thi Hương của thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh và hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay (trừ tỉnh Quảng Ninh).

Trường thi đặt tại phố Tràng Thi hiện nay. Lúc đầu chỉ bằng tre, nứa lá; đến năm Thiệu Trị thứ 5 (Ất Tỵ, 1845), có hàng rào xây bằng gạch, chu vi 182 trượng 1 thước; bên trong có 21 tòa đường viện [4, tr.204]. Trường thi này ổn định trong 50 năm (1834 - 1884).

Khoa thi năm Giáp Thân (Ân khoa, 1884), do thực dân Pháp gây hấn, trường Hà Nội không thể tổ chức được kỳ thi Hương như thường lệ. Về sau, trường thi phải chuyển vào Thanh Hóa, Phủ Lý và đổi thành trường Hà Nam và trường này bị đình bãi ở khoa thi cuối cùng (năm Mậu Ngọ đời vua Khải Định - 1918). Như vậy, có thể thấy, chỉ từ khi thực dân Pháp gây hấn ở Hà Nội, tình hình an ninh không được bảo đảm cho các kỳ thi, Thăng Long mới mất dần vị thế là trung tâm các kỳ thi Hương.

Với vị trí là Kinh đô, Thăng Long còn có yếu tố “địa lợi” khác là được bao quanh bởi “Tứ trấn” của thời Lê, trong đó có ba trấn (Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây) bao bọc trực diện. Một bộ phận lớn diện tích ba trấn này chính là một phần nội thành và toàn bộ vùng ngoại thành Thủ đô Hà Nội được mở rộng hiện nay. Mỗi trấn có những đặc điểm riêng về “địa linh, nhân kiệt”, giữ một vị thế rất quan trọng riêng đối với Kinh đô.

Về phương diện giáo dục, giữa Kinh đô Thăng Long với các trấn phụ cận có mối quan hệ rất khăng khít. Các trấn này sớm hình thành một truyền thống hiếu học và khoa bảng. Rất nhiều làng xã từ lâu đã trở thành những trung tâm giáo dục với các trường lớp có quy mô khác nhau. Các trấn này cũng là nơi tổ chức các kỳ thi Hương để tuyển chọn các Hương cống dự các kỳ thi Hội ở Kinh đô Thăng Long vào các năm tiếp theo. Nhiều vị quan - Tiến sĩ và cả những thầy đồ không may mắn trên con đường cử nghiệp của vùng đất ngoài Thăng Long đã góp phần to lớn vào việc bồi đắp cho vị thế của Thăng Long trên bình diện giáo dục, đào tạo nhân tài, tạo nên vùng văn hóa Thăng Long và phụ cận rất phong phú và rõ nét, nhất là về mặt giáo dục và khoa cử.

Trong hơn 850 năm tồn tại của nền khoa cử Nho học, vùng đất Hà Nội ngày nay đứng đầu cả nước về số người đỗ đạt, với 666 người đỗ đại khoa, gồm 8 Trạng nguyên, 10 Bảng nhãn, 19 Thám hoa, 9 Đệ nhị giáp Tiến sĩ, 130 Hoàng giáp, 464 Tiến sĩ, 26 Phó bảng (tổng hợp theo sách Các nhà khoa bảng Việt Nam). Hà Nội còn có 563 người đỗ Hương cống thời Lê (thống kê chưa đầy đủ từ gia phả một số dòng họ, văn bia các văn chỉ...), 752 Cử nhân thời Nguyễn (tổng hợp theo sách Quốc triều hương khoa lục).

Truyền thống giáo dục và khoa cử, truyền thống hiếu học và khoa bảng của Thăng Long - Hà Nội còn thể hiện ở một bộ phận đông đảo các nhà khoa bảng, tập trung ở một số gia đình, dòng họ, gọi là gia đình và dòng họ khoa bảng. Các họ Phạm, Hoàng (làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm), Bùi (làng Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai), Ngô Vi, Ngô Thì (làng Tả Thanh Oai), các họ Nguyễn ở làng Vân Điềm (huyện Đông Anh), làng Nguyệt Áng (huyện Thanh Trì), làng Phú Thị (huyện Gia Lâm)... và rất nhiều dòng họ khác nối đời có người đỗ đạt, trở thành các “danh gia cự tộc”. Sự hình thành các gia đình, dòng họ khoa bảng tạo tiền đề để hình thành 24 làng khoa bảng, gồm 6 làng có 10 Tiến sĩ trở lên (trong 21 làng của cả nước) và 18 làng có từ 5 - 9 Tiến sĩ; ngoài ra các làng còn nhiều Hương cống, Cử nhân.

Cuối cùng, Thăng Long là nơi phát huy chất xám của cả nước: phần lớn những người đỗ đạt sau đó ở lại Thăng Long làm việc và Thăng Long là môi trường nâng đỡ, phát huy cao độ tài năng của họ. Rất nhiều người sau đó đã đem hết tài năng để phục vụ triều chính, xây dựng đất nước, có nhiều đóng góp trên các mặt : chính trị, quân sự, văn hóa với Thăng Long và với đất nước (trong 666 Tiến sĩ có 17 người làm Tể tướng, 19 người làm Phó Tể tướng, 67 Thượng thư, 106 người phụng mệnh đi sứ, 32 người làm Tế tửu và Tư nghiệp Quốc tử giám, 12 người giữ chức đứng đầu chính quyền Thăng Long - Hà Nội)... Một số đông các nhà khoa bảng chọn phương châm sống “Tiến vi quan, thoái vi sư” (đất nước hưng thịnh, bản thân còn trẻ, có năng lực thì ra làm quan; đất nước suy vi hoặc bản thân, gia đình có chuyện riêng, ảnh hưởng đến việc làm quan, hoặc không muốn ở lại quan trường; hoặc có lỗi bị giáng, cách quan chức thì về dạy học; khi về hưu vẫn tiếp tục sự nghiệp trồng người), truyền dạy cho các thế hệ học trò những kiến thức tích lũy được. Nhiều người trong thời gian làm quan ở Thăng Long vẫn mở lớp dạy học, đào tạo được rất nhiều học trò đỗ đạt. Nhiều người còn được tôn vinh là biểu tượng cho những giá trị của văn hóa Thăng Long, là niềm tự hào của không chỉ làng quê họ mà còn của cả một vùng rộng lớn. Đó là, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quốc Trinh, Ngô Thì Nhậm v.v… và về phương diện nào đó, các danh nhân khoa bảng này là đại diện xuất sắc cho văn hiến Việt Nam và văn hiến Thăng Long.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1992, tập 1.

2. Cao Xuân Dục: Quốc triều hương khoa lục, bản dịch, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1993.

3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2004, tập 1.

4. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tập 3.

5. Tây Hồ chí (khuyết danh), bản dịch, Bộ Giáo dục quốc gia Sài Gòn xuất bản, 1962.

6. Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H. 2006./.

                                                                                (Tạp chí Hán Nôm, Số 4(101) 2010; Tr. 13-20)
                                                                

Bùi Xuân Đính
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm