VI | EN
Một số bài từ trong Đồng song ký (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.64 - 68)
Một số bài từ trong Đồng song ký (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.64 - 68)

MỘT SỐ BÀI TỪ TRONG ĐỒNG SONG KÝ

PGS. TRẦN NGHĨA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

vừa qua, nhân đọc tác phẩm Đồng song ký in ở Tập 4 của bộ sách Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành gồm 20 tập, do Tôn Tốn, Trịnh Khắc Mạnh, Trần Ích Nguyên đồng chủ biên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản năm 2010, tôi thấy có một số bài từ khá hay, xin trích ra để giới thiệu cùng bạn đọc.

Trước khi đến với những bài “từ” vừa đề cập, hãy nói một chút về Đồng song ký như là “cận cảnh” của các bài từ.

Đồng song ký là một tác phẩm tiểu thuyết cổ viết về tình bạn giữa Trần Học Sĩ tự Cảnh Vân và Nguyễn Lương Năng tự Chương Đài.

Cảnh Vân và Chương Đài quen nhau từ thuở cùng theo học một nhà Nho ẩn dật. Đang cặm cụi đèn sách thì Nguyễn Lương Năng được thư nhà gọi về tham gia kỳ thi ở tỉnh. Trên đường về, chàng gặp một cô gái xinh xắn ngỏ ý muốn kết duyên cùng chàng sau khi chàng thi đỗ. Không may kỳ thi này chàng bị trượt, buồn tình trở lại mái trường xưa…

Để giúp bạn khuây khỏa nỗi lòng, Cảnh Vân đề nghị Chương Đài cùng đi dạo chơi các danh lam thắng cảnh cho hết những ngày nghỉ còn lại. Họ vào thăm một Đạo quán và đề thơ. Họ qua phố chợ Tràng An và “ăn nằm” với Kiều Dung, Kiều Nương, hai cô con gái “rượu” của một vị hào trưởng trong xóm, hẹn ngày trở lại cưới các cô khi Cảnh Vân cũng như Chương Đài đã trở thành những “Thám hoa lang”…

Năm sắp hết, đôi bạn chia tay nhau về quê. Vừa đến nhà, Cảnh Vân bị mẹ ép lấy Dương Bích Đào, một cô gái cùng thôn, chàng bất đắc dĩ phải nhận lời để vui lòng mẹ.

Sau Tết, nghe nói ở phủ Khánh Long có trường ông Bảng nhãn họ Hồ rất nổi tiếng, Chương Đài và Cảnh Vân bèn tới đó xin thụ nghiệp. Kết quả sau nửa năm dùi mài kinh sử, Chương Đài đã đỗ đầu và Cảnh Vân đỗ thứ hai trong kỳ thi Hương. Mùa xuân năm sau, cả hai người cùng về kinh thi Hội. Chương Đài đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Thái sư Bình chương Quân quốc trọng sự. Cảnh Vân lần này thi trượt, trở về quê đóng cửa ôn tập ròng rã trong hai năm, cuối cùng thi đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Thái sư kiêm Tả hữu Thừa tướng, truy phong Vệ Quốc công. Làm quan không bao lâu, cả hai người đều xin về trí sĩ, tình bạn giữa họ vẫn khăng khít như ngày nào…

Câu chuyện dàn dựng trên đây thực ra chỉ là cái cớ để tác giả Đồng song ký, thông qua các nhân vật trong truyện, phô bày những vần thơ thanh tân, những bài từ duyên dáng… của chính mình và đây mới là chỗ dụng công của người viết tiểu thuyết.

Về mặt văn bản, Đồng song ký hiện còn một bản sao duy nhất đặt ở cuối sách Kim Vân Kiều lục, được tàng trữ tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, mang ký hiệu R.422. Văn bản không đề tên tác giả, cũng không ghi năm biên soạn. Căn cứ vào câu “ngô châu văn vật bất giảm ư thiên triều” (văn vật ở châu ta không kém thiên triều) có thể khẳng định đây là tác phẩm của Việt Nam chứ không phải của Trung Quốc. Trong văn bản có sử dụng những cụm từ như “phó tỉnh ứng thí” (đến tỉnh để thi), “tỉnh thí thời” (lúc thi ở tỉnh) v.v. cho thấy Đồng song ký không thể xuất hiện trước thời điểm 1831 là năm vua Minh Mạng thiết lập đơn vị hành chính tỉnh để thay cho trấn, doanh trước đó.

Sau đây là nguyên văn chữ Hán cùng phần phiên âm, dịch nghĩa (in tiếp ngay dưới mỗi bài từ) và chú thích (in gộp chung ở cuối bài viết) về 6 bài từ trong Đồng song ký.

1. ()

宿

便

 

Phiên âm:

Nhất tịch tương phùng (Nhất tiễn mai)

Như kim hà tịch ngẫu tương phùng,

Nhất tịch tương phùng,

Nhất dạ tương thông.

Phương dung tương đối ngũ canh phong,

Mộng đáo Vu Phong,

Mộng hội Vu Phong.

Tố Nga kim nhật đáo thiềm cung,

Cộng túc đông song,

Cộng ngọa đông song.

Tài phùng đáo biệt tiện thông thông,

Không ức kiều dung,

Sạ ức kiều dung.

 

Dịch nghĩa:

Một tối gặp nhau (theo điệu Nhất tiễn mai)(1)

Đêm nay đêm gì mà tình cờ gặp nhau,

Một tối gặp nhau,

Một đêm hiểu nhau.

Gió mát năm canh bên người đẹp,

Mộng tới non Vu(2),

Mộng gặp non Vu.

Hôm nay Hằng Nga tới cung nguyệt,

Cùng ta ngủ cạnh cửa sổ phía đông,

Cùng ta nằm cạnh cửa sổ phía đông.

Vừa gặp đã chia tay, sao vội vã,

Để ai luống nhớ dáng yêu kiều,

Để ai chạnh nhớ dáng yêu kiều.

 

2. ()

()

()

()

()

 

Phiên âm:

Tiểu thần tiên (Chiết dương liễu)

Giai cảnh hiên tiền bất quyển liêm: cảnh u nhiên (Nguyễn),

Kiều hồng nộn lục trứ tiên nghiên: sắc liên thiên (Trần).

Mục hướng hoa tiền, thùy thị bạn ? - Tú thuyền quyên (Nguyễn),

Đối hoa chước tửu, lạc vô biên ! - Tiểu thần tiên (Trần).

 

Dịch nghĩa:

Phút thần tiên (theo điệu Chiết dương liễu)(3).

Trước hiên cảnh thắng, rèm chẳng cuốn: đầy u nhã (Nguyễn Lương Năng),

Hồng lục đan chen sánh tươi non : điệp sắc trời (Trần Học Sĩ).

Trong số hoa kia ai là bạn ? - Đấng thuyền quyên (Nguyễn Lương Năng),

Ngắm hoa rót rượu, thú vô biên ! - Phút thần tiên (Trần Học Sĩ).

 

3. (西)

 

Phiên âm:

Tống tình nhân (Tây Giang nguyệt)

Thiên Thai khách phùng du khách,

Chương Đài nhân tống tình nhân.

Ân cần tạ để tư ân cần :

Xác bả phương tâm hưu phóng !

Vĩnh đối thiên trường địa cửu,

Tu ngôn mộ Tấn triêu Tần !

Biệt quân thử khứ thặng tư quân,

Nhất đoạn phương linh chiến muộn !

 

Dịch nghĩa:

Đưa tiễn người yêu (theo điệu Tây Giang nguyệt)(4)

Khách Thiên Thai(5) gặp khách lãng du,

Người Chương Đài(6) đưa tiễn người yêu.

Ân cần từ tạ, mong ghi nhớ :

Đừng để tim vàng trượt khỏi tay !

Tình ta lâu dài như trời với đất,

Thẹn nhắc chuyện tối Tấn sáng Tần(7) !

Chia biệt, chàng đi, tràn thương nhớ,

Một trái tim yêu đang quặn đau !

 

4. ()

 

Phiên âm:

Vấn quân (Nhất tiễn mai)

Cử mục quy yên lệ ám thùy

Phương dữ quân kỳ

Hốt biệt quân quy

Nhất triêu hoa thảo tạm phân kỳ

Nguyệt hạ tương ti (tư)

Hoa hạ tương ti (tư)

Sầu tụ my phong xúc ngọc my

Loan tự cô thê

Phượng tự cô phi

Vấn quân thử biệt kỷ đa thì (thời)

Tái hợp giai kỳ

Tái hội giai kỳ

 

Dịch nghĩa:

Hỏi chàng (theo điệu Nhất tiễn mai)(8)

Nhìn chàng về mà nước mắt thầm rơi !

Mới vừa hò hẹn,

Chốc đã chia tay,

Cỏ hoa một sáng tạm phân ly.

Dưới trăng nhớ nhau,

Bên hoa nhớ nhau.

Mày ngọc(9) đọng sầu nhăn nhíu,

Loan lẻ loi đậu lại,

Phượng côi quạnh bay đi.

Hỏi chàng lần xa cách này kéo dà bao lâu

Rồi mới đến ngày vui sum vầy ?

Rồi mới tới dịp vui hội ngộ ?

 

5. ()

 

Phiên âm:

Tư tình nhân (Trường tương tư)

Hoa hữu hương,

Nguyệt hữu âm,

Hoa ảnh trùng trùng, nguyệt ảnh trầm.

Tương tư chỉ lãng ngâm.

Sầu nan câm (cấm),

Hận nan câm (cấm),

Nhất ban sầu hận, nhất ban tâm,

Vị ngã đạo tri âm.

 

Dịch nghĩa:

Nhớ người yêu (theo điệu Trường tương tư)(10)

Hoa đưa hương,

Trăng lồng bóng,

Bóng hoa lớp lớp, bóng nguyệt trầm.

Nhớ nhau, chỉ biết vịnh ngâm.

Sầu khó ngăn,

Hận khó ngăn,

Hận sầu một thức cả hai đằng,

Giúp ta nhắn với tri âm.

 

6. ()

 

Phiên âm:

Ức tri âm (Ức Tần Nga)

Ức tri âm,

Ức tri âm,

Vô ngữ, chỉ cuồng ngâm.

Mộ yên thảm đạm

Trịnh trọng tình thâm

Yếm khan dã điểu đề âm,

Tần phong, Sở vũ bội thương tâm.

Sầu giã nan câm (cấm),

Hận giã nan câm (cấm) !

 

Dịch nghĩa:

Nhớ bạn tri âm (theo điệu Ức Tần Nga)(11)

Nhớ bạn tri âm,

Nhớ bạn tri âm,

Không nói không rằng, chỉ thả sức ngâm.

Khói chiều ảm đạm,

Trân trọng tình thâm !

Chim nội kêu đêm trông ngao ngán,

Gió Tần, mưa Sở dạ thêm đau.

Sầu cũng khó ngăn,

Hận cũng khó ngăn !

Chú thích:

(1)Đây là bài từ do Nguyễn Lương Năng thốt ra (khẩu chiêm) để nói về niềm vui khi được nằm kề một cô gái mới quen trong dịp về tỉnh nhà ứng thí. Trong nguyên bản chữ Hán “Nhất tiễn mai” bị chép nhầm thành “Tiễn mai nhất”, ở đây chỉnh lý lại. Đầu đề bài từ do chúng tôi đặt.

(2)Non Vu: lời Tựa bài Phú Cao Đường của Tống Ngọc có nói: “Xưa, Tiên vương nước Sở từng dạo chơi nơi Cao Đường, mộng thấy thần nữ đến dâng chăn gối. Lúc sắp chia tay, nàng cho biết mình ở phía nam non Vu”. Về sau, người ta thường dùng hai chữ “Non Vu” (Vu Sơn, Vu Phong) để chỉ sự hẹn hò giữa đôi trai gái.

(3)Giữa tiệc rượu do thân sinh của Kiều Dung và Kiều Nương tổ chức, Nguyễn Lương Năng và Trần Học Sĩ đã cùng làm bài từ này để dâng lên “ông bố vợ tương lai”. Trong nguyên bản chữ Hán, “Chiết dương liễu” bị chép nhầm thành “Chiết liễu từ”, ở đây chỉnh sửa lại. Đầu đề bài từ do chúng tôi đặt.

(4)Bài từ của Kiều Dung tiễn Nguyễn Lương Năng. Đầu đề do chúng tôi đặt.

(5)Thiên Thai: tên một quả núi ở phía bắc huyện Thiên Thai thuộc tỉnh Chiết Giang của Trung Quốc, tương truyền đây là nơi Lưu Thần và Nguyễn Triệu người đời Hán vào hái thuốc gặp tiên nữ.

(6)Chương Đài: tên một con đường ở kinh đô Trường An đời nhà Hán.

(7)Tối Tấn sáng Tần: vào thời Xuân Thu, vua nước Tần thường cưới công chúa nước Tấn và ngược lại, chữ “Tấn, Tần” do vậy mang nghĩa “kết duyên” (như câu: Kết duyên Tấn Tần chớ phai đá vàng). Cụm từ “tối Tấn sáng Tần” ở đây nói về sự thay lòng đổi dạ, thiếu chung thủy trong tình yêu.

(8)Bài từ của Kiều Nương tiễn Trần Học Sĩ. Đầu đề do chúng tôi đặt.

(9)Mày ngọc: nguyên bản chữ Hán viết là “ngũ mi” (五眉), tối nghĩa. Có thể chữ “ngũ” () vốn là chữ “ngọc” (), do tự dạng giống nhau nên chép nhầm. Vậy tạm chữa lại như thế, chờ tra cứu thêm.

(10) Bài từ của Nguyễn Lương Năng. Trong nguyên bản chữ Hán, tên làn điệu viết nhầm thành “Đồng tương tư”, đây chỉnh sửa lại. Đầu đề bài từ do chúng tôi đặt.

(11) Bài từ của Trần Học Sĩ. Đầu đề bài từ do chúng tôi đặt./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 4(113) 2012; Tr.64-68)

Trần Nghĩa
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm