Tấm bia ký lăng mộ ở Đa Căng, xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 64 - 67)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 64 - 67)
LÃNG MỘ BI KÝ Ở ĐA CĂNG, XÃ VẠN HÒA,
HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
VŨ DUY MỀN
TS. Viện sử học
Với sự tài trợ của Tiến sỹ Võ Văn Hồng, Hội đồng dòng họ Vũ (Võ) Việt Nam đã tổ chức một đoàn khảo sát di tích lịch sử, vãn hóa của họ Vũ (Võ) ở một số địa phýõng thuộc ba tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa từ ngày 2 tháng 7 đến ngày 5 tháng 7 năm 2008. Phụ trách đoàn gồm hai Phó Chủ tịch là Võ Vãn Liên và Vũ Hữu Sâm. Các thành viên gồm: PGS. Vũ Ngọc Khánh, Vũ Xuân Hỷ, Vũ Huynh, Võ Tá Cần, Võ Tá Hải, Phạm Vãn Sửu; ThS. Nguyễn Hữu Tâm, TS. Vũ Duy Mền Viện Sử học. Kết quả chuyến khảo sát nhanh thành công ngoài sự mong đợi. Đoàn đã thu về tài liệu khá phong phú, gồm ảnh các nhà thờ, lăng mộ của họ Vũ, đặc biệt tài liệu văn tự Hán Nôm bi ký, câu đối, gia phả, sắc phong. Trong đó phản ánh về một số nhân vật lịch sử nổi tiếng như Vũ Uy, một trong 18 tướng từng tham gia Hội thề Lũng Nhai, một khai quốc công thần trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhân dân ta hồi thế kỷ XV và về Định Quốc công (Vũ Văn Mật?), từng làm chủ một vùng rộng lớn, lấy Tuyên Quang làm đại bản doanh gần sánh ngang với nhà Mạc từ giữa thế kỷ XVI v.v... Những tài liệu quý này sau khi khảo cứu sẽ lần lượt được công bố. Trước hết chúng tôi giới thiệu về tấm bia - Lăng mộ bi ký ở Đa Căng, thuộc xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Theo tài liệu thư tịch cho biết trước đây ở Đa Căng có miếu thờ và lăng mộ của Vũ Uy. Nhưng khi đến khảo sát thực tế chỉ còn thấy khu đất được gọi là mộ của Khai quốc công thần Vũ Uy; mặc dù đã được xếp hạng cấp Quốc gia từ năm 1992. Trên đó còn 3 bát hương đá cỡ lớn và 3 tấm bia đá được chôn xuống đất. Theo phát hiện của chúng tôi ba tấm đó thuộc hai bia. Tấm bia thứ nhất (từ trái sang phải) có tiêu đề: Chư tộc bi chí. Tấm bia thứ 2 và thứ 3 thuộc cùng một bia có tiêu đề: Vũ tộc bi ký. Chúng tôi đã in dập cả hai tấm bia này.
Theo di cảo của Lương y Vũ Duy Chức (thôn Đồng Minh, xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa; người có nhiều công sưu tầm tài liệu về Vũ Uy) cho biết về Đa Căng miếu bi (Bia miếu Đa Căng), hiện để tại nhà ông Tập (chúng tôi chưa có thời gian để kiểm tra), đội 15 xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống. Bùi Xuân Vỹ, chuyên gia Hán Nôm, nguyên Trưởng phòng Địa chí, Thư viện tổng hợp Thanh Hóa đã phiên âm, dịch nghĩa, chú thích; Cụ Nguyễn Hữu Chế hiệu đính.
Sau đây xin giới thiệu về Lăng mộ bi ký (Bia ký lăng mộ).
Hiện nay ở Đa Căng tấm Bia ký lăng mộ đã mất (không rõ mất từ bao giờ?). May thay ông Vũ Trọng Kiều, Phó chủ tịch Hội đồng dòng họ Vũ tỉnh Thanh Hóa đã cho chúng tôi mượn cuốn Thanh Hóa chý trang Vũ tộc thế phả (chữ Hán Nôm). Cuốn tộc phả này được “tiền tổ bá phụ hiệu Ông Nho Hai Hóa” soạn vào tháng 9 năm Hoàng triều Cảnh Trị thứ 2 (1664) đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671). Cháu trực hệ thuộc bản chi là Vũ Trọng Túc tục biên. Sau đó cháu đời sau thuộc chi thứ hai là Vũ Trọng Bồi tục biên vào ngày tốt, tháng 8 năm Bảo Đại thứ 11 (1936). Đây là cuốn tộc phả ghi chép về Vũ Uy và con cháu ở trang Đa Căng, cùng 45 trang khác trong 10 huyện thuộc Thanh Hóa. Trong tộc phả có chép toàn vãn Lăng mộ bi ký dưới đây xin phiên âm và dịch nghĩa Lăng mộ bi ký.
Phiên âm:
Lăng mộ bi ký
Hoàng triều Tự Đức niên gian đồng chư trang đẳng thiết niệm.
Mộc chi thiên kha vạn diệp, tài bồi bản tự khôn nguyên. Nhân chi thiên tử vạn tôn, phù trực thực do tổ ấm; phàm vi nhân tử giả, thành đương thâm niệm chi, huống linh ý vạn vật, cảm vong kỳ bản hồ. Tư giả Vũ tộc chư trang sở hữu lăng mộ (nhất mẫu ngũ cao, ngũ xích, ngũ thốn); mộc điều sâm mậu, lục trúc y y, chi diệp yêu trăn, thùy hưu điệp điệp, tiền hữu lộ quá; vũ bộ hân hân, hậu hữu khê lưu, văn ba cổn cổn, kỳ tại Nông Cống huyện, Vạn Thiện tổng, Đa Căng trang.
Quyết sơ thiết lập bi chí, thùy dụ hậu côn. Cửu kinh đồi tích, tự tự ám hôn. Đệ niên hội tế sự vong như tồn, thận chung truy viễn, vấn tổ tầm tôn, nãi giả đồng hội, tướng dữ mưu viết. Bất nhất lao giả, bất cửu dật, bất tạm phí giả, bất vĩnh ninh, miễn nhi hành chi, tồn hồ nhân nhĩ; phù tệ hữu khả cách nhi cách chi. Lợi hữu khả hýng nhi hưng chi, huống truy sự tích; lục phổ thư khảo, thế hệ tri chung thủy; bản chi bất khả vong dã, ninh khả tích nhất thời phương tiện, nhi bất vi trường viễn chi kế hồ; ý thị hiếu tâm nhất phát thuận chỉ các chi tạo bồi phúc địa, tráng chí tự nghi, hậu nhân vĩnh mộ, tiên triết lýu huy, đồng tâm hòa mục Lại. Đức phù trì bản chi phất thế, tiên hậu bất di, cố đỉnh tân hĩ. Thần chi cách tư, kim nhi hậu bất duy lăng mộ bi chí, xán nhiên hữu chýõng trật nhiên hữu tự nhi phàm chý trang chi bách tính, nội ngoại hội tế chi liệt vị hýõng đãng, viễn cận chi tử, giai kỳ tử hậu bạc chi hằng quý hồ hằng, nhân đinh chi phồn đa niên xỉ. Hộ khẩu chi phụ nhập tuế tãng; vãn tử chi danh tiêu giáp bảng; Vũ biền chi lộc hưởng vinh thăng dữ phù, nông thương chi phụ, thông hóa hối dĩ chí bách nghệ chi quy củ, tài nãng, hy hy nhiên hàm mông.
Tị tổ âm phù chi đại đức, đãng đãng hồ; giai tổ Đa Căng thịnh mậu chi trường lãng tắc thứ cõ hồ, tại bản bất vong, tầm nguyên bất ngộ vân nhĩ. Toại minh dĩ vi chí.
Viên thuật cổ thi vân.
Ngã Vũ duy dương tự Việt Thành.
Hữu công ý quốc các thành danh.
Bình khai thủ xuất tài chinh phạt.
Doanh lập hiệu công lực khẩn canh.
Tứ thập dư trang mông quốc sủng.
Tài dý thập huyện chấn gia thanh.
Đa Căng lăng mộ yên bàn thạch.
Thế thế tự thừa vĩnh bất canh.
Dịch nghĩa:
Văn bia lăng mộ
Thời vua Tự Đức (1848-1883) các trang cùng nhau lập (bia) kỷ niệm. Cây kia muôn cành vạn lá do được bồi đắp vun trồng; con người ta có muôn vạn con cháu do được phúc ấm tổ tiên vun đắp phù trợ (đó là lẽ thýờng vậy). Vạn vật hữu linh, phàm làm con cháu lòng thành nên ghi nhớ sâu sắc đâu dám quên công õn đó.
Nay các trang (ấp) của họ Vũ sở hữu lăng mộ (diện tích 1 mẫu 5 sào 5 thước, 5 tấc) cây cối rủ xuống tốt tươi mơn mởn. Phía trýớc (lăng mộ) có con đường chạy qua, đi lại dễ dàng; phía sau (lăng mộ) có khe nước cuộn chảy. Lăng mộ đó ở trang Đa Căng, tổng Vạn Thiện, huyện Nông Cống.
Mới đầu lập bia ghi lại cho con cháu đời sau được biết. Trải qua thời gian đã lâu chữ (trên bia) bị mờ; hàng năm (con cháu) tụ hội vấn tổ tầm tông, kính cẩn làm lễ tế vong linh tổ tiên, cùng lo gìn giữ lâu dài; cho nên không phải là kẻ khó nhọc, vất vả thì khó mà được hưởng an nhàn lâu dài; không phải là người tạm thời hưởng sự giàu có thì khó mà được sống yên ổn; cố gắng noi theo việc đó; cuộc sống là vậy. Những điều xấu có thể thay đổi, khuyến khích làm những điều tốt nhý truy tìm sự tích, ghi chép gia phả, khảo cứu sách vở các thế hệ; biết được nguồn gốc tổ tiên và con cháu ngày nay, không có thể quên được. Có lẽ nào lại tiếc sự thuận tiện nhất thời, mà lại không vì kế lâu dài sao? Đối với kẻ có lòng hiếu thuận nên theo các chi tạo bồi đất phúc, trang hoàng, ghi chép lại việc thờ tự theo đúng nghi lễ. Đối với tổ tiên minh triết, rực rỡ con cháu đời sau mãi mãi mến mộ. Đồng tâm hòa mục, đức phù trì cho họ ta trýớc sau không gì thay thế được vậy; thần cũng cảm về cách suy nghĩ, hành xử đó. Từ nay về sau duy chỉ có bài bia ký lăng mộ chữ nghĩa sáng rõ, rực rỡ mà các trang trong đó bách tính nội ngoại hương đăng hội tế liệt vị; con cháu xa gần, lễ tế hậu bạc, lấy điều quý làm lâu dài vậy. Người thọ và nhân đinh ngày càng nhiều thêm. Hộ khẩu kèm theo tuổi tác tăng lên, những người có danh tiêu biểu về bảng giáp, võ biền, người hưởng lộc được vinh thăng cùng kẻ (làm nghề) nông, thưởng của cải nhiều; đến bách nghệ đều quy củ, tài năng đều được phát huy.
Thủy tổ (Vũ Uy) âm phù, đại đức lớn thay, cả Đa Căng đều gội ơn mưa móc; lăng mộ trường tồn mãi thì ngõ hầu tựa như không quên tổ tiên, tìm nguồn không lầm vậy; bèn làm bài minh ghi lại rằng:
Thuật lại thơ cổ nơi lăng mộ.
Duy họ Vũ ta phát tích tự Việt Thành. (?)
Có công với nước đều đã thành danh.
Thời bình khai hoang, thời chiến có tài dẫn đầu chinh phạt.
Dồn công sức lập doanh trấn, mở rộng việc khẩn hoang cày cấy.
Hơn bốn mươi trang ơn nước trọng.
Còn hơn mười huyện tiếng nhà vinh.
Đa Căng lăng mộ yên bàn thạch.
Đời đời thừa tự lâu dài không thay đổi.
Nhận xét: Qua nội dung Lăng mộ bi ký cho thấy bia này được các trang tộc họ Vũ lập vào thời vua Tự Đức (1848- 1883), không ghi cụ thể ngày tháng năm nào.
Lý do lập bia vì chữ trên bia cũ nõi lăng mộ đã mờ không đọc được, nên các trang tộc họ Vũ thuộc dòng con cháu Vũ Uy đã lập Lăng mộ bi ký để ghi dấu, nhắc nhở con cháu hậu duệ không quên công ơn của tổ tiên.
Các trang (ấp) của họ Vũ sở hữu lãng mộ diện tích 1 mẫu 5 sào, 5 thước, 5 tấc. Vị trí lăng mộ rất thuận tiện cho việc đi lại viếng thăm; trên đó Lăng mộ bi ký được dựng ở trang Đa Căng, tổng Vạn Thiện, huyện Nông Cống, (Thanh Hóa).
Nội dung bài văn bia ca ngợi công đức của tổ tiên xây nền đắp móng, phù trì; là con cháu không được quên công ơn đó. Đạo lý uống nước nhớ nguồn còn sáng rõ trên bia và trong tâm khảm cũng nhý trong việc làm của con cháu hậu duệ họ Vũ.
Tấm bia là một tư liệu quý giúp hiểu biết thêm về danh tướng Vũ Uy và con cháu hậu duệ của ngài ở xứ Thanh.
Tiếc thay Lăng mộ bi ký và lăng, miếu nay không còn, nhưng với văn bản giới thiệu trên hoàn toàn có cơ sở để tạo dựng lại bia và lăng, miếu (cần khảo cứu kỹ thêm) ngay trên khu di tích Vũ Uy, tại xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Theo Luật di sản thì khu di tích lăng, mộ, miếu thờ Vũ Uy cần được Nhà nước quan tâm giúp đỡ, cùng với sự đóng góp tích cực của nhân dân trong đó có con cháu hậu duệ họ Vũ; nhằm phục nguyên di tích đã xếp hạng cấp Quốc gia xứng với tầm công lao khai quốc của Vũ Uy.
Nhân dịp tấm bia được công bố xin được cảm ơn TS. Võ Văn Hồng, Hội đồng dòng họ Vũ Việt Nam, Hội đồng dòng họ Vũ tỉnh Thanh Hóa và ông Vũ Trọng Kiều đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp tài liệu, ThS. Nguyễn Hữu Tâm đã xem lại bản phiên âm và dịch nghĩa.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 64 - 67)