Tìm cách đọc một bài thơ lạ (Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 61 - 63)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 61 - 63)
TÌM CÁCH ĐỌC MỘT BÀI THƠ LẠ
NGUYỄN QUANG KHẢI
Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh
Tại phòng ni (trước đây vốn là phòng khách) của chùa Hàm Long xã Nam Sơn thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh có một bài thơ chữ Hán, được viết trên tường vôi, (Xin xem bản chụp).
Đây là một bài thơ rất khó đọc. Chúng tôi xin mô tả chi tiết như sau:
Ngoài tiêu đề là “Xuân”, nếu đọc theo hàng dọc - lối đọc truyền thống của văn bản Hán cổ thì bài thơ được viết thành tám hàng như sau:
Hàng đầu có ba chữ “tỷ càn khôn”, hàng thứ hai có năm chữ “Phong thanh đáo thôi tăng”, hàng thứ ba có bảy chữ “Đán hoa khai quang nhật minh thọ”, hàng thứ tứ có chín chữ “Hòa vật tiện cảnh giai tân tịch nguyệt vực”, hàng thứ năm cũng có chín chữ “Dục hà cung chiếu bất trăn thần trần nhân”, hàng thứ sáu có bảy chữ “Thiên hảo sắc ánh tinh lũy đồng”, hàng thứ bảy có năm chữ “Túy thuyên lai oánh vịnh”, hàng thứ tám có ba chữ “Thi bát cú”.
Xếp lại các con chữ theo trật tự này thì sẽ là:
“Tỷ càn khôn
Phong thanh đáo thôi tăng
Đán hoa khai quang nhật minh thọ
Hòa vật tiện cảnh giai tân tịch nguyệt vực
Dục hà cung chiếu bất trăn thần trần nhân
Thiên hảo sắc ánh tinh lũy đồng
Túy thuyên lai oánh vịnh
Thi bát cú”.
Nếu đọc những con chữ trên đây theo trật tự này thì rõ ràng không phải là một tác phẩm thi ca và cũng không rõ nội dung gì.
Chúng ta lại thử đọc những dòng trên đây theo cách đọc ngang như đọc chữ Quốc ngữ. Nếu theo cách đọc này, thì ngoài đầu đề là chữ “Xuân” bài thơ có chín hàng theo thứ tự như sau:
"Dục hòa
Thiên hà vật đán
Túy hảo cung tiện hoa phong
Thi thuyên sắc chiếu cảnh khai thanh tỷ
Bát lai ánh bất giai quang đáo càn
Cú oánh tinh trăn tân nhật thôi khôn
Vịnh lũy thần tịch mịch tăng
Đồng trần nguyệt thọ
Nhân vực".
Nếu xếp các con chữ theo trật tự này, chúng ta thấy nội dung cũng như cách đọc theo hàng dọc trên đây, đầy bí hiểm như những câu thần chú của Mật giáo.
Chúng tôi nghĩ rằng mấy chục con chữ được viết trên vách một ngôi chùa cổ, chắc chắn tác giả phải gửi gắm một ý tưởng, một tâm sự hay một tình cảm nào đó, không thể nào lại lủng củng, bí hiểm như chúng ta vừa thử đọc theo trật tự truyền thống vốn có của một bài thơ được. Nhưng đọc thế nào để giải mã được những thông tin từ những con chữ trên đây ?
Sau hàng tiếng đồng hồ đánh vật với 49 đơn vị từ, hết đọc từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, lại đọc theo hàng ngang từ trái qua phải, hết dòng trên xuống dòng dưới vẫn chưa hiểu được nội dung của khối chữ này nói gì. Đến gần trưa, vị Hòa thượng trụ trì mới gợi ý: "Ông thử đọc từ giữa ra hai bên, theo thể thất ngôn Đường luật, lấy chữ "xuân" là chữ đứng đầu mỗi câu và mỗi chữ chỉ được đọc một lần xem thế nào”.
Theo lời chỉ dẫn của cụ, chúng tôi đọc câu đầu tiên: “Xuân hòa vật tiện cảnh giai tân” (hàng này còn thừa 3 chữ: tịch, nguyệt, vực).
Hàng thứ hai theo chỉ dẫn của cụ, đọc từ giữa ra là: "Xuân dục hà cung chiếu bất trăn" (hàng này cũng dư ba chữ: thần, trần, nhân).
Hàng thứ ba: “Xuân đán hoa khai quang nhật...” lẽ ra chữ tiếp theo phải là chữ “minh’, nhưng Hòa thượng nói rằng hàng này phải dừng lại ở chữ “nhật” và bắt vào chữ “tịch” còn dư ở hàng thứ nhất (từ giữa ra). Như vậy câu này phải đọc là: “Xuân đán hoa khai quang nhật tịch”.
Hàng thứ tư: "Xuân thiên hảo sắc ánh tinh..." lẽ ra phải đọc liền vào chữ “lũy”, nhưng Hòa thượng cho rằng dòng thứ sáu theo hàng ngang là một dòng hoàn chỉnh, nên câu này phải bắt vào chữ “thần” ở hàng thứ hai tính từ giữa ra. Như vậy, câu này phải đọc là: "Xuân thiên hảo sắc ánh tinh thần".
Câu thứ năm: cứ theo chữ trong hàng, thì đọc là: “Xuân phong thanh đáo suy tăng...” nhưng như thế vẫn còn thiếu một từ và bị thất vận. Vì vậy, câu này phải bắt vào chữ “minh” ở hàng bên cạnh và chữ “nguyệt” ở hàng giữa thì câu thơ mới có nghĩa. Như vậy câu này phải đọc là: "Xuân phong thanh đáo thôi minh nguyệt".
Câu thứ sáu, vẫn theo chỉ dẫn của Hòa thượng, chúng tôi đọc là: "Xuân túy thuyên lai oánh lũy trần" (sau chữ “oánh” thì bắt vào chữ “lũy” ở hàng bên và chữ “trần” ở hàng giữa).
Câu thứ bảy: "Xuân tỷ càn khôn tăng thọ vực" (sau chữ “khôn” bắt vào các chữ “tăng, thọ, vực” là các chữ cuối cùng của các hàng phía trong.
Câu thứ tám: "Xuân thi bát cú vịnh đồng nhân" (sau chữ “cú” bắt vào các chữ “vịnh, đồng, nhân” là những chữ cuối của các hàng phía trong.
Như vậy bài thơ “Xuân” ở chùa Hàm Long phải được đọc là:
XUÂN
Xuân hòa vật tiện cảnh giai tân,
Xuân dục hà cung chiếu bất trăn.
Xuân đán hoa khai quang nhật,
Xuân thiên hảo sắc ánh tinh thần.
Xuân phong thanh đáo thôi minh nguyệt,
Xuân túy thuyên lai oánh lũy trần.
Xuân tỷ càn khôn tăng thọ vực,
Xuân thi bát cú vịnh đồng nhân.
Đọc qua phần phiên âm, chúng tôi thấy đây là bài thơ vịnh cảnh mùa xuân của một tác giả nào đó (có thể là một vị tăng ?) thể hiện cảm xúc của mình về một mùa xuân tươi đẹp tràn đầy sức sống mới. Xin tạm dịch như sau:
XUÂN
Xuân về, cảnh vật đẹp vô ngần,
Xuân ánh dương quang tỏa mọi sân.
Xuân nhuốm muôn hoa màu tựa gấm,
Xuân tô vạn sắc nét như thần.
Xuân gieo gió mát, treo trăng sáng,
Xuân lọc không gian, tẩy lụy trần.
Xuân sánh đất trời, trường cõi thọ,
Xuân thơ mừng bạn đủ năm vần.
Có người dịch sang thể thơ song thất lục bát:
XUÂN
Xuân vật, cảnh trăm ngàn vạn mới,
Xuân quang vinh soi tới mọi nhà.
Xuân sang sớm nở muôn hoa,
Xuân nồng bút sắc mặn pha mực thần.
Xuân gió mát trăng thanh chênh chếch,
Xuân sánh cùng trời đất thọ trường,
Xuân non lọc sạch bụi vương,
Thơ xuân bát cú luật Đường cùng ngâm.
Tôi có thỉnh giáo một vài cụ túc Nho đất Bắc Ninh về bài thơ “Xuân” này, được các cụ cho biết bài thơ này thuộc thể “khoán thủ”. Theo các cụ, thể “khoán thủ” thường thường đầu đề chỉ có một chữ và chữ đầu của mỗi câu đều nhắc lại tên đề bài. Hai là, đây là bài thơ được thể hiện theo lối “doanh xúc”. Lối “doanh xúc” có cách sắp xếp các con chữ của bài thơ theo hình quả trám, đọc từ giữa đọc ra và bài thơ được bọc lại ở hai đầu như chúng ta đã thấy.
Lối chơi thơ của các cụ quả là vô cùng độc đáo.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 61 - 63)