1. Khai mạc Hội nghị thông báo Hán Nôm 2007
KHAI MẠC HỘI NGHỊ THÔNG BÁO HÁN NÔM HỌC 2007
TRỊNH KHẮC MẠNH
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Kính thưa Quí vị đại biểu !
Kính thưa Hội nghị !
Như thường lệ hàng năm, hôm nay những người say mê với sự nghiệp Hán Nôm lại có mặt tại đây để tham dự Hội nghị Thông báo Hán Nôm học do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức. Thay mặt lãnh đạo Viện và cán bộ công chức Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tôi xin chân thành cảm ơn quí vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình và không quản đường xá xa xôi về dự Hội nghị trong không khí đông vui nhộn nhịp, tràn đầy thành tích đã đạt được trong năm qua và ấp ủ bao điều suy tư để ngành Hán Nôm ngày một phát triển bền vững.
Trước hết, nhân Hội nghị này, tôi xin vui mừng thông báo, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong năm qua, cũng đạt được những thành tích nhất định trên các lĩnh vực công tác, như sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác, chỉnh lý xuất bản và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu Hán Nôm.
Nghiên cứu khoa học
Đề tài cấp Bộ, Viện triển khai thực hiện 3 đề tài: Nghiên cứu cách chuyển dịch tên gọi cây thuốc từ tiếng Hán cổ ra tiếng Việt, Chế độ khoa cử thời Lê, Các thể văn chữ Hán Việt Nam. Đặc biệt Viện đã được Viện KHXH Việt Nam đưa vào kế hoạch năm 2008 với 5 đề tài cấp Bộ là: Ấn chương trong hệ thống hành chính Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Diễn ca lịch sử Nôm - văn bản và tác phẩm, Nghiên cứu thể tài văn học Nôm, Nghiên cứu chữ Nôm cổ, Địa danh hành chính Thăng Long Hà Nội qua tư liệu văn khắc Hán Nôm.
Đề tài trọng điểm cấp Viện, trong năm 2007, Viện tiếp tục triển khai thực hiện các đề tài như: Thư mục y dược cổ truyền Việt Nam, Tổng tập Văn học Nôm Việt Nam (Phần truyện Nôm), Thư mục văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Từ điển quan chức Việt Nam, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Địa phương chí Hán Nôm.
Đề tài cấp Viện, Các đề tài đang triển khai, như Bút tích nhân vật lịch sử thời Nguyễn, Thư mục sách Hán Nôm ở các địa phương, Văn Nôm hành chính, Thi kinh giải âm, Đại Nam quốc ngữ, Từ thường dùng Nôm Tày, Thư mục sách Nôm dân tộc, Văn bia Thanh Hóa, Văn bia Lê Trung hưng, Văn bia Thăng Long - Hà Nội, Nam hành thi tập, Gia phả họ Trịnh, Quốc sử di biên, Vân Khê y thư yếu lược, Nghiên cứu Trạng Quỳnh, Tuyển tập thơ văn Cao Xuân Dục, Hương ước Hà Nội, Tuyển tập văn bản luật thời Nguyễn. Các Phòng phục vụ nghiên cứu khoa học thực hiện tốt nhiệm vụ để nâng cao nghiệp vụ.
Các Đề tài, Dự án hợp tác trong nước và ngoài nước, như cùng với E.F.E.O tại Hà Nội thực hiện số hóa kho thác bản Văn khắc Hán Nôm, đến nay đã thực hiện đến số ký hiệu thác bản 50.000 và 434 thác bản bia Chăm với 58.156 file. Phối hợp với Đại học Sư phạm Thượng Hải hiệu chỉnh và xuất bản bộ Tổng tập tiểu thuyết Hán văn Việt Nam. Cùng với Viện Nghiên cứu Khổng Tử thuộc Trường Đại học Nhân dân Trung Hoa nghiên cứu về Nho điển Việt Nam. Cùng với Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nghệ An tiến hành biên soạn và chỉnh lý các tư liệu Hán Nôm ở các địa phương. Cùng với Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phúc tổ chức Hội thảo khoa học về Văn miếu và truyền thống khoa bảng tỉnh Vĩnh Phúc.
Hội thảo khoa học
Năm 2007, Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với Harvard-Yenching (Hoa Kì) tổ chức Hội thảo quốc tế với chủ đề: Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam theo hướng tiếp cận liên ngành, Hội thảo đã thu hút nhiều học giả trong nước và quốc tế tham dự (gồm 8 nước và khu vực) với 47 tham luận khoa học. Hội thảo được dư luận đánh giá có chất lượng cao.
Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm
Viện tiếp tục thực hiện nhiệm vụ điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở các tỉnh và thành phố, như: Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa.Kết quả như sau: Lập phiếu điều tra tư liệu Hán Nôm ở 52 xã. Sao chép được 2347 đôi câu đối và 1054 hoành phi. In dập được 1732 mặt văn bia, biển gỗ và chuông. Mua được 4.001 cuốn sách Hán Nôm dân tộc.
Bảo quản và tu bổ tư liệu Hán Nôm
Viện đã tổ chức photocopy gần xong kho sách Hán Nôm và thực hiện bồi vá, tu bổ, đóng sách cho hàng trăm cuốn sách với chất lượng đảm bảo, không ảnh hưởng đến nguyên bản.
Ứng dụng công nghệ tin học
Tiếp tục lưu quét tài liệu Hán Nôm trên đĩa CD-ROM và xây dựng cơ sở dữ liệu, hoàn chỉnh việc ghi lưu 284 sách với 35.779 trang ảnh, ghi được 35 đĩa CD-ROM (cho tới cuối năm 2007 tổng cộng đã ghi lưu được 235 đĩa CD-ROM). Nâng cấp CSDL hiện có. Xây dựng CSDL với 4.800 biểu ghi (trong đó: điều tra sưu tầm hoành phi câu đối Hán Nôm ở các địa phương với 500 biểu ghi, CSDL di tích lịch sử văn hóa 1.070 biểu ghi, CSDL tạp chí trước giải phóng 3.426 biểu ghi). Xây dựng CSDL gồm 136 biểu ghi cho Tạp chí Hán Nôm, 514 biểu ghi sách tiếng Việt mới nhập, 2.076 biểu ghi sách Nôm. Tiếp tục hoàn thiện và cải tiến trang Web của Viện và đưa vào phục vụ, được nhiều người đánh giá cao và rất đông độc giả truy cập.
Công tác thư viện
Bổ sung cho kho sách 857 đầu sách mới và tạp chí các loại, trong đó sách là 514, tạp chí tiếng Việt và tiếng Anh là 235, tiếng Trung là 108. Đã vào sổ tổng quát, sổ đăng ký cá biệt, dán nhãn, làm phiếu biên mục cho số sách, tạp chí mới bổ sung. Công tác phục vụ bạn đọc tốt. Trong năm đã phục vụ 2.035 lượt độc giả với 6343 sách Hán Nôm và 4.000 thác bản văn bia.
Công tác đào tạo
Năm 2007, Viện tiếp tục mở lớp chữ Nôm Tày nâng cao, lớp tiếng Nhật. Cán bộ công chức của Viện bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ 01 học viên; bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Nhà nước 02 Nghiên cứu sinh. Đặc biệt, năm 2007 Viện đã ký kế hoạch hợp tác đào tạo với Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc Trường Đại học Thành Quân Quáncủa Hàn Quốc, sẽ cử cán bộ sang học các chương trình sau đại học trong năm 2008.
Tạp chí Hán Nôm
Đảm bảo định hướng khoa học của Tạp chí chuyên ngành, có nhiều cố gắng để đảm bảo chất lượng nội dung và hình thức Tạp chí. Năm 2007, Tòa soạn nhận được 105 bài của các cộng tác viên, đã đăng 76 bài. Tạp chí Hán Nôm ra đúng hạn, gồm 6 số/năm.
Hợp tác quốc tế
Trong năm 2007 Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã cử 14 lượt cán bộ đi công tác ở nước ngoài tại các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Viện đã tiếp và làm việc với nhiều chuyên gia nước ngoài, như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan.
Công tác xuất bản
Năm 2007, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản 07 cuốn: Văn bản học Hán Nôm, Tổng mục lục Tạp chí Hán Nôm, Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm tập 7-10, Thư mục Nho giáo Việt Nam, Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam (4 tập), Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (tái bản), Thông báo Hán Nôm học 2006. Nhiều cán bộ của Viện đã hợp tác với các cơ quan và nhà xuất bản để giới thiệu công trình nhân của mình và viết nhiều bài cho các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. Năm 2008, Viện sẽ xuất bản các sách: Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tổng tập văn học Nôm các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Một số văn bản điển chế pháp luật Việt Nam (Tập II), Tài liệu địa phương chí, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Các tác gia Hán Nôm Thăng Long - Hà Nội, Hán Nôm học trong nhà trường, và nhiều tác phẩm khác.
Kính thưa Hội nghị
Năm 2007, Ban tổ chức Hội nghị nhận được 134 bài tham luận của 139 tác giả, so với năm 2006 tăng 30 bài, số tác giả tham luận tăng 33 người, điều này chứng tỏ Hán Nôm học ngày càng được quan tâm, đặc biệt là ở các địa phương. Các tham luận gửi đến Hội nghị đã tập trung vào các vấn đề sau đây:
Một là, thông báo, giới thiệu những phát hiện mới trong công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm hiện còn nằm rải rác ở các địa phương và ở các kho tư liệu trong nước và quốc tế. Bài loại này chiếm khoảng 50% trong tổng số bài của Hội nghị, ví dụ như các bài: Sách dạy về sự đánh giặc thiêng liêng (Nguyễn Hồng Dương), Một cuốn sách dùng trong nghi lễ của người Dao Quần Chẹt (Hoàng Thị Thu Hường), Thêm một tác phẩm Hán Nôm của Phan Bội Châu mới phát hiện (Chương Thâu), Về bài lượn cọi “Chúa bản cảm ơn khách đến mừng” (Lưu Đình Tăng), Về quả ấn hành chính cấp tỉnh đời Minh Mệnh mới tìm thấy (Nguyễn Công Việt) và nhiều bài khác.
Hai là, giới thiệu các tác gia, tác phẩm Hán Nôm và tư liệu về các nhân vật lịch sử đem đến nhiều thông tin mới, bổ ích góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về các lĩnh vực này; cung cấp những tư liệu Hán Nôm có giá trị khi nghiên cứu những giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam. Các bài loại này chiếm khoảng 30% trong tổng số bài của Hội nghị, ví dụ như các bài: Về các di vật văn hóa và bản Truyện Kiều ở gia đình anh trai Nguyễn Du (Nguyễn Khắc Bảo), Lý Công Uẩn đến Nguyễn Phi Khanh (Trần Bá Chí), Về dòng sông cổ Ngọc Hà trong Hoàng thành Thăng Long (Nguyễn Xuân Diện - Bùi Quốc Hùng), Nguyễn Quang Bích - tiểu sử và bút tích (Phạm Đức Duật), Trương Hán Siêu - Một số tư liệu về cuộc đời và tác phẩm (Nguyễn Đăng Na), Vị trí đàn Xã Tắc qua tư liệu văn bia thế kỷ XVII (Phạm Thùy Vinh) và nhiều bài khác.
Ba là, thông tin những kết quả nghiên cứu lý luận bổ sung cho tri thức cơ bản của ngành Hán Nôm và đặt vấn đề trao đổi khoa học tạo nên bầu không khí học thuật sôi nổi và lành mạnh. Các bài loại này chiếm khoảng 15% trong tổng số bài của Hội nghị, ví dụ như các bài: Vài nét về Hán học ở Hoa Kỳ (Phan Văn Các), Một số đặc điểm chính của văn bia thời Trần (Phạm Văn Ánh), Sơ bộ khảo sát các sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam (Nguyễn Thị Hường), Nhìn lại và nghĩ tới giải pháp nâng cao hiệu quả sưu tầm, quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Chu Tuyết Lan), Từ giả thiết về việc du nhập Kim Vân Kiều truyện đến giả thiết về nhân vật Duy Minh Thị (Đào Thái Tôn) và nhiều bài khác.
Bốn là, những nghiên cứu về ngôn ngữ văn tự, góp phần nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Các bài loại này chiếm khoảng 2% trong tổng số bài của Hội nghị, ví dụ như các bài: “Thiết tha” hay “Thướt tha”? (Trần Trọng Dương), Tác giả Lê Quý Đôn với văn chương chữ Nôm (Nguyễn Thị Lâm)Góp phần tìm hiểu chữ nghĩa Truyện Kiều đọc theo âm tiếng Huế cổ qua một số bản Kiều chữ Nôm (Nguyễn Thế) và một số bài khác.
Còn lại khoảng 3% trong tổng số bài của Hội nghị, bàn về một số vấn đề thuộc lĩnh vực thường thức Hán Nôm.
Sau đây là danh mục các bài viết của các tác giả gửi Ban tổ chức Hội nghị.
DANH MỤC THAM LUẬN THÔNG BÁO HÁN NÔM 2007
TT | Họ và tên | Tiêu đề bài viết |
1 | Trần Thị Kim Anh | Kim Vân Kiều lục - Truyện Kiều văn xuôi chữ Hán của Việt Nam |
2 | Lan Anh - Văn Quý | Giới thiệu cuốn Đồ chú bản thảo cương mục cầu chân |
3 | Phạm Thị Lan Anh - Nguyễn Văn Quý | Khảo cứu về văn bia thời Cảnh Trị thứ 3 tại chùa Hoàng Trung, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây |
4 | Phùng Thị Mai Anh | Di sản Hán Nôm trong khu di tích đình, đền, chùa Phú Khê |
5 | Thế Anh | Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của nhà biên khảo Bùi Kỷ (1887 - 2007) |
6 | Đỗ Tuấn Anh | Về bài thơ Nam quốc sơn hà |
7 | Phạm Văn Ánh | Một số đặc điểm chính của văn bia thời Trần |
8 | Nguyễn Gia Bảo | Tìm hiểu thêm về quê hương Lý Nam Đế qua các tư liệu Hán Nôm mới phát hiện tại huyện Hoài Đức (Hà Tây) |
9 | Nguyễn Khắc Bảo | Về các di vật văn hóa và bản Truyện Kiều ở gia đình anh trai Nguyễn Du |
10 | Phan Văn Các | Một số ý kiến về Hán học ở Hoa Kỳ |
11 | Hoàng Hồng Cẩm | Vũ Đình Nguyệt Viên ký sự - Một thiên ký sự chữ Hán thời kỳ cận đại đáng chú ý |
12 | Lê Quang Chắn | Một số tư liệu về Hưng Yên lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
13 | Trần Bá Chí | Lý Công Uẩn đến Nguyễn Phi Khanh |
14 | Nguyễn Văn Chiến | Hai bức di bút của Chu Mạnh Trinh tại Phố Hiến |
15 | Lý Xuân Chung | Về văn bản thơ xướng họa giữa Nguyễn Công Hãng (Việt Nam) với Du Tập Nhất, Lý Thế Cấn (Hàn Quốc) trong chuyến đi sứ Trung Quốc năm 1718 |
16 | Nguyễn Xuân Diện - Bùi Quốc Hùng | Về dòng sông cổ Ngọc Hà trong hoàng thành Thăng Long |
17 | Phạm Đức Duật | Nguyễn Quang Bích - tiểu sử và bút tích |
18 | Đoàn Ánh Dương | Về con người cá nhân trong phú Nôm thời Nguyễn |
19 | Nguyễn Hồng Dương | Về cuốn Sách dạy về sự đánh giặc thiêng liêng |
20 | Nguyễn Thị Dương | Giới thiệu một số Châu bản thời Nguyễn với việc chăm sóc sức khỏe vua Gia Long |
21 | Phạm Thùy Dương | Chùa Báo Ân và tư liệu Hán Nôm |
22 | Trần Trọng Dương | “Thiết tha” hay “Thướt tha”? |
23 | Phan Đăng | Tác phẩm của Tự Đức và các nhà thơ hoàng tộc triều Nguyễn - đề tài cần quan tâm nghiên cứu |
24 | Nguyễn Văn Đáp | Bia Văn chỉ tổng Tỳ Bà |
25 | Bùi Xuân Đính | Tài liệu Hán Nôm ở xã Vân Canh (huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây) |
26 | Phạm Minh Đức | Hai tấm bia của Lê Quý Đôn và Nguyễn Nghiễm ở Sinh từ của Quận công Phạm Huy Đĩnh |
27 | Nguyễn Mộc Đức | Hệ thống bia đá đình Trung Đồng |
28 | Phạm Hoàng Giang | Về một bài văn chuông ở thế kỉ XIX |
29 | Lâm Giang | Tìm hiểu thêm về các tác phẩm y học của Tuệ Tĩnh |
30 | Hoàng Giáp | Tìm hiểu về Hồng Bạc Đại vương Nguyễn Thế Địch - Một vị tướng, một trung liệt thời Lý |
31 | Nguyễn Thanh Hà | Thêm một bài văn chữ Hán của Bùi Huy Bích mới được phát hiện |
32 | Nguyễn Quang Hà | Về nhân vật Hồ Tông Thốc và tấm bia Phổ thành tự bi |
33 | Mai Văn Hải | Giải nhất cuộc thi “Hoàn chỉnh một bài văn từ chỉ sưu tầm được đoạn giữa” |
34 | Nguyễn Văn Hải | Động Hồ Công và một số bài thơ khắc trên vách đá |
35 | Mai Xuân Hải - Nguyễn Quang Trung | Bước đầu tìm hiểu tập văn tế đền thờ Đức Vua Bà thôn Quả Cảm, xã Hòa Long, Tp. Bắc Ninh |
36 | Đỗ Thị Hảo | Bước đầu tìm hiểu di sản văn bia tỉnh Hải Dương |
37 | Trần Đình Hằng - Lê Đình Hùng - Nguyễn Thăng Long | Ghi chép điền dã từ một ngôi mộ cổ ở phía tây nam thành phố Huế |
38 | Ngô Vũ Hải Hằng - Võ Thị Phương Thúy | Về hai tấm bia ở đình Đông Ngạc |
39 | Lã Minh Hằng | Về khúc ngâm Một trăm chữ “Nhịn” |
40 | Quách Thu Hiền | Những vấn đề văn bản, tác gia, tác phẩm của Vịnh sử thi quyển |
41 | Vũ Xuân Hiển | Vài nét về kinh tế xã hội được phản ánh qua luật pháp thế kỷ XI-XIV |
42 | Trần Thị Giáng Hoa - Cao Việt Anh | Khái lược tư liệu Hán Nôm có nội dung luật pháp thời Pháp thuộc |
43 | Nguyễn Thị Kim Hoa | Về bài văn bia Thủy lập ngoại đồng bi ở Hải Phòng |
44 | Nguyễn Văn Hoa | Bước đầu tìm hiểu văn bia làng Tháp Dương |
45 | Lê Thị Thanh Hòa | Tìm hiểu và giới thiệu các sắc phong về sự nghiệp làm quan của Lê Duy Di dưới vương triều Nguyễn |
46 | Đỗ Danh Huấn | Viên gạch in chữ “Thu Vật huyện”, “Thu Vật hương” phát hiện tại khu di tích hoàng thành Thăng Long |
47 | Trần Minh Huệ - Phạm Hương Lan | Về bài Quan chiếu tu từ trong ngôn ngữ của Khổng Tử ở sách Luận ngữ của học giả Trung Quốc. |
48 | Phạm Thị Huệ | Tổng quan tài liệu mộc bản triều Nguyễn bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và việc ứng dựng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu |
49 | Lê Đình Hùng | Tiếp cận hai chữ “Việt cố” trên bia mộ thời chúa Nguyễn (Dẫn liệu từ vùng Trị-Thiên) |
50 | Bùi Quốc Hùng - Nguyễn Xuân Diện | Xung quanh tấm bia trong khu mộ dòng họ Vi Văn Định ở Lạng Sơn |
51 | Trương Đức Hùng | E. Nodermann và việc phiên chuyển Truyện Kiều sang quốc ngữ |
52 | Trương Sĩ Hùng | Phật giáo Việt Nam trong một số sách Hán Nôm |
53 | Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Văn Hải | Văn bia Tiên hiền hàng huyện Phụ Dực |
54 | Thích Minh Huyền | Chuông chùa Bàn Long |
55 | Chu Huy | Sự dị kỳ, huyền bí của các vị Thành hoàng, phải chăng là đặc trưng trong thi pháp thần phả, ngọc phả? |
56 | Nguyễn Đình Hưng | Về quê quán, thân thế, sự nghiệp Tiến sĩ Nguyễn Cấu qua gia phả dòng họ và di tích -đôi điều cần trao đổi. |
57 | Hoàng Thị Mai Hương | Long Thành qua ngòi bút của Tạ Ngọc |
58 | Lê Thị Thu Hương | Bước đầu tìm hiểu về chức Tổng đốc qua ghi chép của một số văn bản chức quan triều Nguyễn |
59 | Phạm Ngọc Hường | Về cuốn Vu Đan Luận ngữ tâm đắc của một học giả Trung Quốc |
60 | Nguyễn Thị Hường | Sơ bộ khảo sát các sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam |
61 | Hoàng Thị Thu Hường | Thêm một cuốn sách dùng trong nghi lễ của người Dao Quần Chẹt |
62 | Trần Thị Thu Hường | Giới thiệu thư tịch thần tích Hà Nội tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
63 | Vương Hường | Về bài thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích |
64 | Đặng Quốc Khánh | Những đặc điểm cơ bản của Y học cổ truyền |
65 | Nguyễn Quốc Khánh | Tính nhân quyền trong bộ luật Hồng Đức |
66 | Dương Văn Khoa | Một bản dịch Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu còn ít người biết |
67 | Hoàng Ngọc Khuyến | Xin đừng quảng bá những từ nửa Hán nửa Việt như vậy |
68 | Phạm Thị Hương Lan | Về bài văn tán họ Phạm ở xã Thượng Cầm huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình |
69 | Nguyễn Tô Lan | Về những bản tuồng hiện lưu giữ tại Viện Sân khấu, Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội |
70 | Chu Tuyết Lan | Nhìn lại và nghĩ tới giải pháp nâng cao hiệu quả sưu tầm, quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
71 | Nguyễn Thị Lâm | Tác giả Lê Quý Đôn với văn chương chữ Nôm |
72 | Ngô Thế Lân | Chữ Nôm thành quả của quá trình giao lưu văn hóa |
73 | Lê Liêm | Về tấm bia ghi lại việc hưng công đình Dương Liễu, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây |
74 | Ngô Đăng Lợi | Tìm thấy bộ kinh của Thiện đàn làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. |
75 | Đặng Văn Lộc | Văn bia ghi sự nghiệp Phạm Công Trứ |
76 | Nguyễn Công Lý | Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân |
77 | Hoàng Phương Mai | Giới thiệu tư liệu về thơ An Nam thời Nguyễn |
78 | Vũ Duy Mền - Phạm Quế Liên | Giới thiệu về tấm bia khoa bảng làng Tam Sơn (xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) |
79 | Vũ Duy Mền - Nguyễn Hữu Tâm | Giới thiệu tấm bia nhà thờ họ Nguyễn Khắc thôn Đức Diễn xã Phú Diễn huyện Từ Liêm Hà Nội |
80 | Dương Kiều Minh | Cuộc vận động sưu tầm câu đối cổ Hà Tây và tập sách Câu đối cổ Hà Tây vừa hoàn thành ra mắt bạn đọc - Một chủ trương chấn hưng chữ Hán Nôm của hội văn học nghệ thuật Hà Tây được thực thi. |
81 | Tì Khiêu Thích Thiện Minh | Bài văn phát thệ bằng chữ Nôm của họ Nguyễn Đức ở xã Hữu Hòa |
82 | Nguyễn Hữu Mùi | Phan Đình Phùng và tác phẩm Việt sử địa dư |
83 | Nguyễn Đăng Na | Trương Hán Siêu: một số tư liệu về cuộc đời và tác phẩm |
84 | Nguyễn Văn Nghi | Phát hiện một cuốn sách đồng |
85 | Thích Minh Nghiêm | Vài nét về văn bia tôn bầu Hậu Phật ở chùa Yên Khê, xã Yên Thường |
86 | Lê Quý Ngọ | Bi ký quán Cốc Trại, thôn Cốc Trại, xã Kim Quan, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây |
87 | Hoàng Thị Ngọ | Nhị độ mai tinh tuyển - một bản dịch có giá trị |
88 | Lương Huyền Ngọc | Phát hiện bản thần tích Đức Vua Bà thờ trong đền Xuân An |
89 | Bảo Nhân | Một số đặc điểm mang tính dân tộc trong Khóc Dương Khuê qua đối sánh với Vãn đồng niên Vân Đình Tiến sĩ Dương Thượng thư |
90 | Nguyễn Thị Nhi | Đề tài người phụ nữ trong thơ Đoàn Nguyễn Tuấn |
91 | Nguyễn Tá Nhí | Bài văn tế cô hồn trong tiết thanh minh |
92 | Nguyễn Ngọc Nhuận - Nguyễn Thị Thảo | Sĩ hoạn châm quy một văn bản liên quan đến điển chế thời Lê sơ |
93 | Nguyễn Thị Oanh | Bước đầu tìm hiểu Nghệ An tỉnh khai sách qua bản khai của một số làng xã tỉnh Nghệ An |
94 | Nguyễn Văn Phong | Những thông tin mới về Tiến sĩ Trịnh Ngô Dụng |
95 | Trương Quang Phúc | Có một giai đoạn lịch sử như thế ở triều Lê Trung hưng (qua tiểu sử các đời trong gia phả của họ Nguyễn Cảnh ở Châu Hoan) |
96 | Trần Xuân Phương | Giới thiệu văn bia có nội dung khoa cử của huyện Thượng Phúc |
97 | Trương Đức Quả | Thông tin về quan hệ hôn nhân “môn đăng hộ đối” từ một cuốn gia phả |
98 | Nguyễn Minh Quý | Giới thiệu thân thế sự nghiệp của thiền sư Chân Lý Viên Thông qua văn bia Tông sư bi kí trí vu am tháp |
99 | Nguyễn Đăng Sơn | Các đạo sắc văn của bản bộ Lê Tố Uẩn |
100 | Lê Sơn | Gôlu - “Ông Tây” gốc Nga đầu tiên ở Hà Nội |
101 | Lê Văn Sự | Sự nghiệp Tĩnh Quốc công Phạm Đốc qua bi ký |
102 | Lưu Đình Tăng | Về bài lượn cọi Chúa bản cảm ơn khách đến mừng (Cung khác chồm mà chúa bản) ở Bắc Kạn |
103 | Nguyễn Thị Thanh - Vương Thanh Nga | Bước đầu tìm hiểu 12 bài thơ tụng đức tổ tiên của anh em Hoàng giáp Lê Huy Trâm - Lê Huy Thân |
104 | Trần Thị Thanh | Bài văn bia ngự chế Tứ Thọ Xuân vương thất thập thọ tự tịnh ca |
105 | Nguyễn Văn Thanh | Cát thiện tam thế thực lục và việc nghiên cứu đạo Mẫu |
106 | Nguyễn Hoàng Thân | Từ góc độ Hán Nôm học, suy nghĩ về phương pháp giảng dạy thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh |
107 | Chương Thâu | Thêm một tác phẩm Hán Nôm của Phan Bội Châu mới được phát hiện |
108 | Phạm Văn Thắm | Tìm hiểu danh hiệu Hoàng đế và danh vị Hoàng đế ở Việt Nam |
109 | Nguyễn Thế | Góp phần tìm hiểu chữ nghĩa Truyện Kiều đọc theo âm tiếng Huế cổ qua một số bản Kiều chữ Nôm |
110 | Đinh Khắc Thuân | Văn bia quán Huyền Thiên (Hà Nội) |
111 | Trương Thị Thủy | Bài ký về từ đường gia môn họ Trịnh ở An Chân Bái Khê |
112 | Phạm Tân Tiến | Hệ thống bi ký dòng họ Phạm, thôn Trinh Lương, thành phố Hà Đông |
113 | Đỗ Thị Bích Tuyển | Tư liệu Hán Nôm trong cuốn gia phả họ Bùi ở Đức Thọ - Hà Tĩnh |
114 | Nguyễn Đức Toàn | Lời bàn về Thái hậu Ỷ Lan qua biển gỗ đền Phú Thị |
115 | Đào Thái Tôn | Từ giả thiết về việc du nhập Kim Vân Kiều truyện đến giả thiết về nhân vật Duy Minh Thị |
116 | Nguyễn Thị Trang | Về tấm bia của gia tộc họ Nguyễn Danh ở Đô Lương Nghệ An |
117 | Nguyễn Quang Trung - Mai Xuân Hải | Tìm hiểu vị thành hoàng làng qua ba đạo sắc phong được lưu giữ tại xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình |
118 | Nguyễn Hải Trừng | Những tấm bia ẩn nhiều thông tin ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh |
119 | Lê Quang Trường | Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức |
120 | Nguyễn Minh Tuân | Thêm một tấm bia thời Mạc mới sưu tầm tại Tiên Lãng - Hải Phòng |
121 | Phạm Tuấn | Chân Phúc thiền sư và mối giao duyên từ Phật Tích đến Bút Tháp |
122 | Nguyễn Thanh Tùng | Giới thiệu bài tự Tự minh đô thi vựng của Bùi Nhữ Tích mới phát hiện |
123 | Nguyễn Minh Tường | Phan Huy Chú với sự nghiệp văn học |
124 | Đình Tưởng - Đông Hào | Văn bản Trương tộc chúc từ |
125 | Phạm Thị Nghĩa Vân | Tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật tác phẩm Đại Nam kỳ truyện |
126 | Nguyễn Công Việt | Về quả ấn hành chính cấp tỉnh đời Minh Mệnh mới tìm thấy |
127 | Nguyễn Thị Việt | Tìm thấy văn bản thần tích về thủ lĩnh Dương Tự Minh thời Lý ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên |
128 | Đào Thị Vinh | Về bài châm tại nhà thờ họ Hoàng |
129 | Phạm Thị Thùy Vinh | Vị trí đàn Xã Tắc qua văn bia thế kỉ XVII |
130 | Hoàng Thế Xương | Một hiện tượng đặc biệt: Một làng có 5 nhân thần được các làng thờ làm thành hoàng |
131 | Nguyễn Thị Yên | Văn bản lời hát nghi lễ trong đám tang qua sách Nôm Tày ở vùng Hồ Ba Bể |
132 | Văn Yên | TiÕn sü Vò C«ng §¹t víi bµi minh chu«ng chïa Hoa S¬n (B¾c C¹n) |
133 | Trần Hải Yến | Hồ Phi Huyền và trước thuật Hán văn của ông |
134 | Nguyễn Thị Hoàng Yến | Việc học và khuyến học trong hương ước Hán Nôm Hà Nội |
Kính thưa Hội nghị
Với tư cách là cơ quan chủ trì Hội nghị Thông báo Hán Nôm học hàng năm của ngành Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, xin chân thành cảm ơn sự công tác của các Quí vị trong thời gian qua và mong muốn trong thời gian tới Quí vị sẽ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành Hán Nôm.
Xin chân thành cảm ơn./.