VI | EN
6. Về tên tác phẩm Thoái thực kí văn của Trương Quốc Dụng (TBHNH 2012)
6. Về tên tác phẩm Thoái thực kí văn của Trương Quốc Dụng (TBHNH 2012)

VỀ TÊN TÁC PHẨM THOÁI THỰC KÍ VĂN CỦA

TRƯƠNG QUỐC DỤNG

NGUYỄN THỊ ANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 2 quyển 29 thì Trương Quốc Dụng hồi nhỏ tên là Khánh, tự Dĩ Hành, Nhu Trung, thụy Văn Nghị, hiệu Phong Khê. Ông sinh ra ở xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà tỉnh Nghệ Tĩnh. Ông sinh năm Đinh Tị (1797). Theo gia phả, Trương Quốc Dụng sinh ngày 1 tháng 12 năm Tân Dậu (1802). Ông xuất thân trong một gia đình Nho học. Cha là Trương Quốc Bảo (còn gọi là Trương Quốc Hiền) là học trò xuất sắc của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, đỗ Tú tài khoa thi năm Ất Dậu (1825) được phong hàm Trung thuận đại phu - Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ. Ông nội là Trương Quốc Kì, đỗ đầu Hương cống khoa thi Quý Dậu (1753) đời Lê Hiển Tông làm quan Thị nội, được vào dạy học cho Thái tử. Trương Quốc Kì là người có khí tiết, không chịu luồn cúi. Vì vậy sau một thời gian ra làm quan ông về quê mở trường dạy học.

Năm 25 tuổi Trương Quốc Dụng thi đỗ Hương cống, làm quan dưới 3 triều vua Nguyễn: Thiệu Trị, Minh Mệnh, Tự Đức. Cuộc đời làm quan có lúc thăng giảm nhưng những đóng góp của ông thì không ai có thể phủ nhận được.

Ngoài là vị tướng chỉ huy quân sự, Trương Quốc Dụng còn có những sáng tác văn học viết bằng cả chữ Hán chữ Nôm. Trong số lượng các tác phẩm còn lại của ông đáng chú ý hơn cả là tác phẩm Thoái thực kí văn, có dị bản có tên là Công hạ kí văn. Tác phẩm này đã được giới nghiên cứu quan tâm và từ khá sớm.

Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có 9 kí hiệu chép tay với 2 tên gọi:

1. Thoái thực kí văn gồm 5 sách với các kí hiệu VHv. 1274, VHv.1805, VHv.1806, A.104, VHv.36.

2. Công hạ kí văn gồm 4 sách với các kí hiệu: A. 1499, VHt.4, A.45, VHv.1265.

- Về tên “Thoái thực kí văn” trong bài Mục dẫn kí hiệu VHv.1274, tác giả đã đặt tên cho tác phẩm của mình là 退食記聞Thoái thực kí văn. Như vậy từ bài mục dẫn này, có thể xác định tên chính thức là Thoái thực kí văn. Về ý nghĩa của “Thoái thực kí văn”, xin được nêu rõ như sau: 記聞- Kí văn là ghi chép những điều mình thấy. Còn 退食- Thoái thực cũng đã được lí giải trong một số bộ từ điển. Để hiểu rõ về từ này chúng tôi đã tiến hành tra tìm trong các bộ từ điển lớn như Từ hải, Từ nguyên.

Trong Từ hải, bản hợp đính, trang 1314, quyển 1 trọn bộ do Trung Hoa thư cục tái bản năm 1948 giải thích từ “thoái thực” dựa vào điển cố trong Kinh Thi và truyện của Chu Hy:

退食謂退朝而食也.詩召南羔羊:“退食自公.朱傳:“退朝而食於家也 - thoái thực vị thoái triều nhi thực dã. Thi Thiệu Nam Cao Dương: thoái thực tự công. Chu truyện: thoái triều nhi thực ư gia dã”.Có nghĩa là: thoái thực là nghỉ ở triều về nhà ăn cơm, phần Cao Dương trong thơ Thiệu Nam của Kinh Thi có câu: “Từ triều đình cửa công về nhà mà ăn cơm”. Trong truyện của Chu Hy: “Từ triều đình về nhà ăn uống”.

Sau này Từ điển Từ hải, Thượng Hải, 1999, tr.1271 bổ sung thêm, ngoài lấy chữ trong Kinh Thi ra còn lấy thêm ý thơ của Tống Chi Vấn thời Sơ Đường: 退 食: 臣 子 退 朝 后在 家 就 膳.詩 召 南 羔 羊: 退 食 自 公, 委蛇 委 蛇. 宋 之 問 奉 和 幸 韦 嗣 立 山 庄 詩 宴 应 制 : 入 朝 榮 剑 履, 退 食 偶 琴 歌 (Thoái thực: Thần tử thoái triều hậu tại gia tựu thiện. Thi - Thiệu Nam - Cao Dương: “Thoái thực tự công, uy đà uy đà ”. Tống Chi Vấn - Phụng Hoa hạnh vi tự lập sơn trang thị yến ứng chế: “Nhập triều vinh kiếm lí, thoái thực ngẫu cầm thư”. Có nghĩa là: thoái thực: Bề tôi từ triều đình về nhà ăn cơm. Thơ Cao Dương phần Thiệu Nam trong Kinh Thi có câu: “Từ triều đình cửa công về nhà mà ăn cơm. Dáng ung dung tự đắc”. Phụng họa hạnh vi tự lập sơn trang thị yến ứng chế của Tống Chi Vấn có câu: “Vào triều vẻ vang với cung kiếm. Về nhà kết bạn vui cùng đàn sách”.

Trong Từ nguyên chính tục biên bản hợp đính, quyển 4, Thương vụ ấn thư quán năm 1947, trang 3053, có đưa ra định nghĩa về chữ “thoái thực” như sau:

膳 以 示 節 約. 詩 召 南 羔 羊 : “退 食 自 公, 蛇 委 蛇”. : “退 食, 減 膳 也”. 後 漢 書 四 三 何 敝 傳 奏 記 宋 由 : “宜 先 正 己 以 率 ,…使 百 姓 歌 誦, 史 官 紀 , 子文 逃 祿, 退食 之比哉! - 為退食 朝而進食. 參閱清馬瑞辰毛詩傳 箋通釋(Giảm thiện dĩ thị tiết ước. Thi Thiệu Nam Cao Dương: “Thoái thực tự công, uy xà, uy xà”. Tiên: “Thoái thực, giản thiện dã”. Hậu Hán thư tứ tam Hà Xưởng truyện tấu kí Tống Do: “Nghi tiên chính kỉ dĩ suất quần hạ,… sử bách tính ca tụng, sử quan kỉ đức. Há đan Tử Văn đào lộc, Công Nghi thoái thực chi bỉ tai!”. Nhất thuyết vi thoái thực triều nhi tiến thực. Tham duyệt Thanh Mã Đoan Thìn Mao thi truyện tiên Thông thích). Có thể hiểu: thoái thực có nghĩa là “Giảm ăn uống để biểu thị tiết kiệm. Thơ Cao Dương phần Thiệu Nam trong Kinh Thi có câu: “Từ triều đình cửa công về nhà ăn cơm, dáng ung dung tự đắc”. Lời tiên có giải thích: “Thoái thực là giảm cỗ bàn vậy”. Truyện Hà Xưởng tập 43 trong Hậu Hán Thư có tâu với Tống Do rằng: “Nên trước tiên chính bản thân mình để dẫn dắt kẻ dưới, khiến trăm quan ca tụng, sử quan chép đức hạnh, há chẳng phải là so sánh với Tử Văn trốn bổng lộc, Công Nghi thoái thực hay sao?”. Một thuyết khác nữa là thôi làm quan, ăn cơm ở nhà”- tham khảo phần tiên trong Mao thi truyện của Mã Thụy Thần thời nhà Thanh.

Qua hai bộ từ điển là Từ nguyênTừ hải, chúng ta có thể hiểu Thoái thực là lúc từ triều về nhà nghỉ ngơi. Điều đó tác giả cũng nói rõ trong bài tựa (xem phần sau). Vậy Thoái thực kí văn có thể hiểu là “ghi chép những điều nghe thấy khi nghỉ việc quan ở nhà”.

- Về tên 公 暇 記 聞 Công hạ kí văn. Khi khảo sát nội dung chúng tôi thấy về cơ bản chúng có cùng nội dung với Thoái thực kí văn nên có thể xem là những dị bản. Về ý nghĩa chúng tôi cho rằng: Công hạ kí văn - có thể là tên do người sao chép sau này đặt, có thể hiểu là “ghi chép những điều nghe thấy lúc việc công nhàn rỗi”.

Như vậy dù có 2 tên nhưng về nghĩa thì “Thoái thực kí văn” hay “Công hạ kí văn” cơ bản đều có cùng một nghĩa. Dựa vào bài dẫn trong kí hiệu VHv.1274 thì có thể kết luận Thoái thực kí văn mới là tên nguyên thủy.

 

Tài liệu tham khảo:

a. Tiếng Việt

1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (bản dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007.

2. Trần Hồng Đức, Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999.

3. Trần Nghĩa - Françoi Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

4. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 1990.

5. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 2003.

6. Trương Quốc Dụng, Danh tướng nhà văn hóa lớn, Nxb. Văn hóa thông tin, 2010.

7. Từ điển Từ hải, Nxb. Trung Hoa thư cục tái bản, 1948.

8. Từ điển Từ hải, Nxb. Thượng Hải, 1999.

9. Từ điển Văn học, Nxb. Giáo dục, 1995.

10. Từ điển Văn học Việt Nam, Nxb. Tân Việt, 1994.

11. Từ nguyên chính tục biên, Thương vụ quán, 1947.

b. Hán Nôm

1.公 暇 記 聞,VHv. 1274

2. 退食記聞, VHv. 1805

3. 公 暇 記 聞, A. 1499

4. 公 暇 記 聞, VHt. 4

5. 公 暇 記 聞, A. 45

6. 公 暇 記 聞, VHv. 1265

7. 退食記聞, A, 1806

8. 退食記聞, A. 104

9. 退食記聞, VHv. 36./.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.45-50)

Nguyễn Thị Anh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm