3. Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở và bài kí trên chuông chùa Cổ Am (TBHNH 2012)
3. Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở và bài kí trên chuông chùa Cổ Am (TBHNH 2012)
HOÀNG GIÁP NGUYỄN ĐĂNG SỞ VÀ BÀI KÍ
TRÊN CHUÔNG CHÙA CỔ AM
NGUYỄN VĂN AN
Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh
Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở (1754-1840) người xã Hương Triện, huyện Gia Định (nay là thôn Hương Triện, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Năm 34 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa thi Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Ông làm quan nhà Lê Trung hưng đến chức Hàn lâm viện Hiệu lý tước Hương Lĩnh bá. Vì nhà Lê mất ông về quê dạy học, một thời gian sau lại ra làm quan triều Tây Sơn đến chức Lại bộ Tả Thị lang, tước Gia Định hầu. Năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh nguyên niên (1820) ông được bổ chức Quốc tử giám Tư nghiệp. Đến năm Minh Mệnh thứ 8 (1827) ông về trí sĩ và tiếp tục mở trường dạy học, học trò bốn phương kéo về theo học rất đông. Ông tạ thế năm Canh Tý niên hiệu Minh Mệnh thứ 21 (1840) thọ 87 tuổi.
Thời gian gần đây sư thầy Thích Thiện Minh trụ trì chùa làng Do Tràng (xã Giang Sơn, huyện Gia Bình) tình cờ đọc bài kí khắc trên chuông chùa nên phát hiện ra người soạn bài kí này là Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở. Sau đó sư thầy thông báo cho dòng họ Nguyễn Đăng làng Hương Triện biết, dòng họ tiến hành in dập lại và phiên dịch ra chữ quốc ngữ làm tài liệu lưu giữ tại nhà thờ.
Chùa làng Do Tràng nằm ở trên sườn núi có địa thế đẹp. Chùa được xây dựng từ lâu đời, trải qua nhiều lần tu sửa đến nay quy mô khá khang trang. Chuông chùa treo ở gian ngoài tòa nhà Tam bảo. Chuông cao khoảng 70cm, đường kính miệng 50cm, quai cao 20cm hình đôi rồng đấu lưng vào nhau. Chuông chia làm 4 múi, mỗi múi phía trên khắc từng chữ to “Cổ Am tự chung”, phía dưới khắc toàn văn bài kí bằng chữ Hán do Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở soạn, Cử nhân Trần Văn Châu viết chữ, thợ đúc đồng Đoàn Bá Ý khắc chữ. Chuông đúc năm Ất Dậu (1825), khắc bài kí năm Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh thứ 7 (1826). Ngoài phần luận nói về cảnh chùa Cổ Am và việc đúc chuông, nội dung chủ yếu của bài kí ghi chép tên tuổi, quê quán những người công đức tiền của đúc chuông. Tuy nhiên bài kí cho chúng ta biết nhiều thông tin quý khác về thời kỳ đúc chuông. Cụ thể như sau:
Trước hết về phần luận thấy rõ Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở tuy viết ngắn nhưng đủ để nói lên vẻ đẹp của ngôi chùa và ý nghĩa việc đúc chuông: “chùa thì phải có chuông, gõ chuông để cảnh tỉnh giấc u mê, tuyên dương giáo hóa của nhà Phật và làm cho tiếng mõ đỡ đơn độc khua vang ngày ngày.
Huyện ta ở xã Do Tràng có chùa Cổ Am núi non bao bọc thật đáng là danh lam chốn sắc sắc không không luân hồi đạo pháp. Có sắc mà không có tiếng chuông thì làm sao có được sự từ không đến sắc. Tiếng chuông vang lên từ cửa thiền mang theo đạo pháp lan đến từng làng xóm đâu phải chuyện nhỏ.
Năm Ất Dậu (1825) ông Cử nhân làng ta đề tiến với làng vào dịp tháng 9 việc học trò xin nhận làm việc tốt là đúc chuông to. Tháng 12 lò nấu đồng được dựng lên, vật liệu quý đúc chuông cũng đã đủ. Việc đúc chuông vốn muốn làm từ lâu, nay mới tiến hành cũng là vừa dịp vì có cơ duyên mới thành. Thế là từ nay sớm thỉnh chiều khua, tiếng chuông ngân vang lên tới tận chín tầng mây, đến tận trời và khắp núi cùng sông càng thêm điều mừng càng thêm phúc lớn. Làng ta được văn minh, dân ta tăng hiểu biết, thắng tích càng nổi danh hơn. Tiếng chuông báo trước điềm lành rộng khắp quê hương. Với lòng kính ái sâu sắc xin ghi lại việc đúc chuông cho mai sau cùng biết”.
Về dòng đại tự trên chuông cho biết vào đầu thời Nguyễn chùa có tên “Cổ Am tự”, ngày nay chùa được đổi tên là “Linh Ứng tự”. Việc đổi tên này đến nay chưa biết diễn ra chính thức vào thời điểm nào?
Về khoa bảng được biết làng Do Tràng vào thời điểm đúc chuông có một người đỗ Tú tài nhiều lần là Nguyễn Vĩnh Căn, một người mới đỗ Cử nhân năm 1825 là Trần Văn Châu. Ngay sau khi đỗ ông hô hào dân làng tổ chức quyên tiền đúc chuông vào tháng 9 năm đó. Đến tháng 12 thì tiến hành đúc chuông.
Về dòng họ trong làng Do Tràng, chỉ tính trong danh sách những người góp tiền đúc chuông được biết thời kỳ này các dòng họ đã có ý thức giữ nguyên tên đệm để phân biệt với các dòng họ khác không cùng huyết thống. Các dòng họ có tên trong bài kí này gồm: Trần Văn, Lê Công, Cao Đăng, Chu Danh, Trịnh Duy, Đào Trọng, Đào Doãn, Đào Văn, Nguyễn Kim, Nguyễn Vĩnh, Nguyễn Đức, Nguyễn Thế, Nguyễn Đình, Nguyễn Đắc, Nguyễn Trọng, Nguyễn Đăng, Nguyễn Hữu, Nguyễn Công, Nguyễt Viết, Nguyễn Thì, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn và họ Vũ Tất mới về định cư.
Về tên họ, quê quán người soạn văn, người viết chữ, người khắc chữ như đã nêu ở trên. Nhưng cần nhấn mạnh thêm làng Điện Tiền thời này vẫn là đơn vị thôn của tổng Đê Cầu (huyện Siêu Loại). Ngày nay thôn Điện Tiền không còn nghề đúc đồng nữa.
Về đơn vị hành chính cũng có nhiều thông tin đáng chú ý như: hai địa danh Hương Vinh và Bảo Tháp (huyện Gia Bình) đầu thế kỷ XIX chỉ là cấp thôn nên chưa có Lý trưởng.
Về trị giá quả chuông tính theo số tiền công đức ghi trong bài kí tổng cộng là 288 quan. Số tiền này tương đối lớn được nhiều người ở nhiều địa phương phát tâm công đức.
Tóm lại, bài kí trên chuông chùa Cổ Am là di văn còn sót lại của Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở - một nhà khoa bảng, người thầy mẫu mực của vùng đất Kinh Bắc giàu truyền thống hiếu học khoa bảng. Nội dung bài kí mang giá trị nghiên cứu cao đem lại nhiều thông tin quý về làng Do Tràng và chùa Cổ Am xưa. Bài kí còn là cơ sở để xác minh tên địa danh của một số làng xã thuộc huyện Gia Bình và Siêu Loại vào đầu thời Nguyễn góp phần đáng kể cho việc nghiên cứu về sự thay đổi địa danh, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh qua các giai đoạn phát triển của lịch sử./.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.21-24)