7. Hội thề Đồng Cổ trong lịch sử Lý - Trần (TBHNH 2012)
7. Hội thề Đồng Cổ trong lịch sử Lý - Trần (TBHNH 2012)
HỘI THỀ ĐỒNG CỔ TRONG LỊCH SỬ LÝ - TRẦN
CAO VIỆT ANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Dẫn nhập và những giả thuyết khoa học có sức nặng về vấn đề trống đồng và tín ngưỡng đồng cổ trong lịch sử Việt Nam
Lịch sử đối với mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, luôn luôn là tấm gương soi hữu hiệu. Lịch sử giai đoạn Lý - Trần (thế kỷ X-XIV) của dân tộc Việt Nam chính là một phần sáng rỡ của tấm gương ấy, vẻ sáng rỡ được tạo nên từ những phân khúc oai hùng và cả những trường đoạn bi ca. Hội thề Đồng Cổ - cuộc mít - ting được nâng lên thành lễ thề có tính quốc gia của người dân Việt trước uy linh của thần Trống Đồng - là một bài học lịch sử có giá trị điển hình.
Trống đồng là một biểu tượng văn hóa đã từ lâu được giới khoa học nghiên cứu và tiến từng bước dài khẳng định tầm vóc, giá trị; tuy nhiên, thời gian nghiên cứu từ lâu ấy vẫn chưa thể sánh được với bề dày niên đại lên tới hàng ngàn năm của chính những chiếc trống đồng. Và cùng với thời gian, là lớp lớp ý nghĩa - tôn giáo có, tín ngưỡng có, quyền lực có, sinh hoạt thường ngày có - được kỳ vọng, nghiên cứu từ xuất xứ, nguồn gốc, hoa văn, tuổi tác, công dụng của trống đồng. Có những nhận định sắc bén và hợp lý, ngắn gọn và sáng rõ - kết quả của quá trình dày công trong nghiên cứu và của năng lực liên ngành trong suy luận - đã phô bày đa diện các nghĩa bóng của vật có thực, là trống đồng:
“Trống đồng như mọi người đều biết, là sản phẩm đã đạt tới trình độ hoàn hảo, tinh xảo của kỹ thuật và nghệ thuật đúc đồng. Dù, về hình thức, nó bắt nguồn từ nồi đất từ quả bầu hay từ một cái gì khác, thì nó cũng trở thành biểu tượng tập trung, điển hình của quyền lực thủ lĩnh Tiền Nhà nước (“Lạc hầu”, “Quản trưởng”) và Nhà nước (VUA HÙNG, VUA THỤC) - cái quyền lực bao toả nền văn minh thôn dã Việt cổ.”(1)
“Cúng tế quỷ thần, cúng tế khi đau ốm, cúng tế cầu mưa, cúng tế trong tang lễ… tất cả đều sử dụng trống đồng làm gạch nối THẦN - NGƯỜI.”(2)
“Và chỉ có thể kết luận: đến thần núi Trống Đồng và hội thề Thăng Long thời Lý là do nhà Lý xây dựng tổ chức, trên cơ sở phục hồi, đổi mới, thời sự hóa và phong kiến hóa một nghi thức cổ truyền của nhân dân ta từ thủa vua Hùng dựng nước.”(3)
Tư liệu chính sử về hội thề Đồng Cổ
Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử có những ghi chép về lễ thề trước uy linh thần Đồng Cổ của hai triều đại Lý và Trần, bắt đầu từ đời vua Lý Thái Tổ, năm 1028.
戊辰 十 九 年 (三 月 以 後 太 宗 天 成 元 年 宋 天 聖 六 年 ) 春 二 月 帝 弗 豫 三 月 丙 申 朔 日 食 戊 戌 帝 崩 于 龍 安 殿 …
封 銅 鼓 山 神 以 王 爵 立 廟 時 祭 祀 行 [.]禮 先 是 三 王 叛 前 一 日 帝 夢 是 稱 銅 鼓 山 神 語 帝 以 武 德 東 征 翌 聖 三 王 作 亂 速 調 兵 討 之 及 覺即 令 警 備 果 驗 至 是 詔 有 司 立 廟 於 大 羅 城 右 伴 …以 是月 二 十 五 日 於 廟 中 築 坛 張 旗 幟 整 設 [.]懸 劍 戟 於 神 位 前 讀 誓 書 曰 為子 不 孝 為 臣 不 忠 神 明 殛 之 群 臣 自 東 門 入 過 神 位 歃 血 每 歲 以 為 常 後 遇 三 月 有 國 忌 展 至 四 月 四 日.
Phiên âm:
Mậu Thìn thập cửu niên (tam nguyệt dĩ hậu Thái Tông Thiên Thành nguyên niên, Tống Thiên Thánh lục niên) xuân nhị nguyệt Đế phất dự. Tam nguyệt Bính Thân sóc nhật thực. Mậu Tuất Đế băng vu Long An điện…
Phong Đồng Cổ sơn thần dĩ vương tước, lập miếu thời tế tự, hành [.] lễ. Tiên thị tam vương bạn tiền nhất nhật Đế mộng kiến xưng Đồng Cổ sơn thần ngữ Đế dĩ Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh tam vương tác loạn, tốc điều binh thảo chi. Cập giác tức lệnh cảnh bị, quả nghiệm. Chí thị chiếu Hữu ty lập miếu ư Đại La thành hữu bạn …dĩ thị nguyệt nhị thập ngũ nhật ư miếu trung trúc đàn trương kỳ xí chỉnh thiết [.] huyền kiếm kích, ư thần vị tiền độc thệ thư viết: vi tử bất hiếu, vi thần bất trung, thần minh cức chi. Quần thần tự Đông môn nhập quá thần vị sáp huyết. Mỗi tuế dĩ vi thường. Hậu ngộ tam nguyệt hữu quốc kỵ triển chí tứ nguyệt tứ nhật.
Dịch nghĩa:
“Mậu Thìn [Thuận Thiên] năm thứ 19 [1028] (từ tháng 3 về sau là niên hiệu Lý Thái Tông, Thiên Thành năm thứ 1; Tống Thiên Thánh năm thứ 6). Mùa xuân, tháng 2, vua không khỏe. Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày Mậu Tuất, vua băng ở điện Long An.
… Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và [15a] làm lễ thề. Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu, trong miếu cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hằng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển sang mồng 4 tháng 4.”(4)
丁 亥 三 年 (宋 寶 慶 三 年 )…
宣 盟 誓 條 循 李 朝 故 事 始 定 行 之 其 儀 每 年 四 月 四 日 宰 相 百 官 鐂 鳴 時 詣 城 門 外 昧 爽 進 朝 帝御 大 明 殿 右 郎 門 百 官 成 服 再 拜 而 退 各 具 隊 仗 騶 從 出 城 西 門 至 銅 鼓 山 神 祠 會 盟歃 血 中 書 檢 正 宣 誓書 云 為 臣 盡 忠 居 官 清 白 有 渝 此 盟 神 明 殛 之 宣 乞 宰 相 點 閘 百 官 欠 者 罰 錢 五 [.]是 日 四 方 士 女 道 傍 觀 聽 如 堵 以 為 盛 事.
Phiên âm:
Đinh Hợi niên tam nguyệt (Tống Bảo Khánh tam niên)…
Tuyên minh thệ điều tuần Lý triều cố sự thủy định hành chi kỳ nghi mỗi niên tứ nguyệt tứ nhật Tể tướng bách quan kê minh thời nghệ thành môn ngoại, muội sảng tiến triều. Đế ngự Đại Minh điện Hữu lang môn, bách quan thành phục tái bái nhi thoái. Các cụ đội trượng xu tòng xuất thành tây môn chí Đồng Cổ sơn thần từ hội minh sáp huyết. Trung thư Kiểm chính tuyên thệ thư vân: vi thần tận trung, cư quan thanh bạch, hữu du thử minh, thần minh cức chi. Tuyên khất Tể tướng điểm áp bách quan, khiếm giả phạt tiền ngũ [.]. Thị nhật tứ phương sĩ nữ đạo bàng quan thính như đổ, dĩ vi thịnh sự.
Dịch nghĩa:
“Đinh Hợi [Kiến Trung] năm thứ 3 [1227], (Tống Bảo Khánh năm thứ 3)…
Tuyên bố các điều khoản lễ minh thệ, theo như lệ cũ của triều Lý và bắt đầu định việc thực hiện. Nghi thức lễ đó như sau:
Hằng năm vào ngày mồng 4 tháng 4, Tể tướng và trăm quan đến trực ngoài cửa thành từ lúc gà gáy, [4b] tờ mờ sáng thì tiến vào triều. Vua ngự ở cửa Hữu Lang, điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục lạy hai lạy rồi lui ra. Ai nấy đều thành đội ngũ, nghi trượng theo hầu ra cửa Tây thành, đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau lại uống máu ăn thề. Quan Trung thư kiểm chính tuyên đọc lời thề rằng:
“Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết”.
Đọc xong, Tể tướng sai đóng cửa điểm danh, người vắng mặt phải phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy, trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như ngày hội lớn.”(5)
Sử liệu cho thấy, Lý Thái Tổ qua đời, theo âm lịch nhằm ngày 3 tháng 3 năm 1028. Cùng năm này, trong tháng 3, người con trai nối ngôi (miếu hiệu sau này là Lý Thái Tông) và cho xây miếu thờ thần Đồng Cổ, tổ chức lễ tế đồng thời làm lễ trước linh vị của thần này tại kinh thành Thăng Long. Ban đầu, 25 tháng 3 là ngày được chọn để thi hành lễ này. Nhưng có lẽ từ năm sau đó, sự kiện này được dời sang ngày 4 tháng 4 âm lịch với lý do được nêu ra là tháng 3 có ngày giỗ của vị vua khai sáng triều đại nhà (Hậu) Lý. Về việc chuyển dời hội thề quốc gia từ tháng 3 âm lịch sang tháng 4 âm lịch, Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng:
“Phải chăng là sự tình cờ, khi hội thề Thăng Long, và hội ăn thề của cá chép lại trùng hợp tháng tư mồng 4?
Chẳng qua đó cũng bắt nguồn từ một nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ tế thần đầu mùa hạ, mùa mưa…”(6)
Đối chiếu với dân gian, không khó để nhận biết, riêng ở Việt Nam thôi, cũng có nơi đầu nguồn nước(7) gắn với truyền thuyết cá chép tụ tập vào tháng tư để thi vượt Vũ môn hầu mong được hóa rồng. Tháng tư âm lịch là mùa nước lên, mưa lớn, nước nguồn đổ về xuôi, cũng là khi cá chép hoạt động rất mạnh, thể hiện độ lớn, sức bật hơn hẳn nhiều loài cá nước ngọt khác. Trong Hán văn, cá chép được gọi là lý ngư. Truyền rằng, đời nhà Đường bên Trung Quốc (618-907) là do họ Lý khai sáng, cho nên có lệnh cấm ăn cá chép, đến tên lý ngư cũng phải đổi cách gọi. Ấy là vì chữ lý trùng với họ của Hoàng đế đương triều (quốc tính). Nói vậy thì nhớ ra rằng, đọc theo âm Hán-Việt, họ của nhà Lý ở Việt Nam ta cũng trùng âm với loài cá chép. Trong thực tế, ông cha của các vị vua nhà Trần theo nghề chài lưới, tên của các vị đều là tên các loài cá, ông nội của Trần Thái Tông vốn tên là Chép, sau khi ổn định vương triều mới thực hiện việc Hán hóa thành Lý. Liệu có phải do đất lề quê thói, chưa biết nhà Lý, nhà Trần ở Việt Nam có cấm ăn cá chép hay không, nhưng việc tạo dựng và ấn định hội thề nhà nước vào mùa cá lý trưởng thành nên được coi như một trong những động thái tôn vinh dòng họ? Một cách tôn húy mà không phải là kỵ húy như bên Trung Quốc và nhiều đời vua sau này ở Việt Nam đã tiến hành?
Thời nhà Trần, tuy sử liệu chép minh bạch là Tuyên bố các điều khoản lễ minh thệ, theo như lệ cũ của triều Lý, nhưng đã thấy có sự khác biệt lớn trong lời thề trước thần Đồng Cổ: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết” của nhà Lý với “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết” của nhà Trần. Sự khác biệt này sẽ là nội dung của tiểu mục ngay dưới đây, trong đó người viết bài này cho rằng chứa đựng một đặc điểm quán xuyến trong đường lối điều hành đất nước của hai triều đại cha ông đáng kính.
Tính thời sự hóa và đặc điểm “dùng xưa vì nay” trong quá trình củng cố và phát triển quyền lực vương triều của nhà Lý, nhà Trần
Củng cố quyền lực khi lên ngôi là việc cần làm ngay và lâu dài đối với mỗi vương triều, chỉ có thể khác nhau ở cách thức, đối tượng hoặc biểu tượng cần dựa vào để thực thi củng cố.
“Chấp kinh thì phải tòng quyền” là thêm một cách diễn đạt mức độ khác nhau giữa hai lời thề của hai triều đại kế tiếp nhau trước uy linh thần Trống Đồng. Một ưu điểm nổi trội của người cầm quyền là có khả năng tạo ra những diễn biến tương thích ý nguyện của họ.
Ở thời nhà Lý (1009-1225) là lời thề “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Trật tự của trách nhiệm: làm con là hàng đầu, sau đó mới là làm tôi, cái đứng trước (trách nhiệm của người làm con) là cái quan trọng hơn, chí ít là quan trọng hơn trong bối cảnh của vương triều lúc ấy. Trật tự này được thể hiện và nhấn mạnh trong lễ thề linh thiêng là điều hiển nhiên khi mấy chục ngày trước đó, vua cha vừa mất, ba người anh em ruột thịt đã không chấp nhận theo ý chí cao nhất của cha, cũng là di mệnh của đức vua. Trái lại, ba người đó kéo quân vào hoàng cung, rắp tâm dấy cuộc nồi da nấu thịt vì ngai vàng. Cuộc tạo phản tuy bất thành nhưng có lẽ không thể không gây ra mối ưu tư hàng đầu cho vị vua mới nối ngôi - mối ưu tư về độ vững chắc của ngai rồng, về mức độ an phận theo chức tước của các bề tôi, về vận số an nguy của quốc gia và dân tộc. Câu hỏi được ưu tiên đặt ra là cần phải làm thế nào, sử dụng biện pháp gì để giải quyết những nỗi lo đó để vừa răn đe, trấn áp những manh nha (nếu có) định theo gương tạo phản mới bị dẹp, vừa vỗ yên những ai ủng hộ, biết điều với quyền lực đang được công nhận? Có thể giả thiết, đã có nhiều cuộc bàn thảo, cân nhắc thâu đêm suốt sáng để rốt cuộc đi đến được lời minh thệ súc tích và minh bạch như thế.
Vào thời nhà Trần (1225-1400) là thệ thư “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết”. Theo chính sử, lời này lần đầu tiên được phát thệ vào ngày 4 tháng Tư năm 1227 - một năm sau khi Trần Cảnh lên ngôi (sau này miếu hiệu là Trần Thái Tông). Nếu nhân vật hoàng tộc nổi bật trong cuộc lên ngôi và trong hội thề quốc gia đầu tiên của nhà Lý ở đền Đồng Cổ năm 1028 là Lý Thái Tông, thì với nhà Trần, là Trần Thủ Độ. Nếu diễn biến lên ngôi của Lý Thái Tông vấp phải một dự định đảo chính quân sự, thì với Trần Thái Tông, là một sắp đặt hôn nhân, êm ấm hơn, có vẻ ít đổ máu hơn. Vào thời điểm này, nhân vật chính là Trần Thủ Độ - một người tài không của riêng họ Trần, gồm đủ năng lực nhiều mặt và uy thế văn võ. Nếu Trần Thủ Độ rắp tâm bước lên ngai vàng, có lẽ không khó để tham vọng của ông được thành toàn. Nhưng nhân vật này sẵn lòng và một lòng giữ đúng thân phận chú của vua và vị trí của người phò tá, bôn ba dốc sức dẹp yên mọi cản trở để người cháu trai thẳng bước tới ngôi vua. Khi đã được tôn làm Thượng phụ (hơn cả cha vua), Trần Thủ Độ vẫn giữ nghiêm mực thước, khảng khái khẳng định bản lĩnh của dân tộc trước sức uy hiếp của ngoại bang, không vì lời nói ngọt của người vợ yêu hay ỷ thế vua mà bổ nhiệm kẻ vô tài, làm việc vi hiến. Nếu dư âm của cuộc ba vương phản loạn vừa mới xảy ra ảnh hưởng tới lễ thề Đồng Cổ thời Lý, thì dấu ấn của Trần Thủ Độ (khi ấy còn đang tả xung hữu đột trong sự nghiệp của họ nhà) cũng hằn sâu in đậm lên hội thề Đồng Cổ thời Trần. Phải chăng vì thế, người đọc dễ nhận ra điểm thay đổi trong cách diễn đạt lời thề của nhà Trần tại đền Đồng Cổ. Ở nhà Lý, là cách nói phủ định làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, dù vô tình hay cố ý thì vẫn hằn sâu nỗi ám ảnh của sự biến chính trị - quân sự vừa qua. Với nhà Trần, là cách diễn đạt khẳng định Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này... Khẳng định này là để suy tôn tấm gương rực rỡ của người bề tôi vĩ đại, để đề cao phẩm chất cần phải có của phận thần tử, của viên chức trong bộ máy chính quyền.
Ở đây, có thể dùng hình ảnh bát canh mới nấu còn chưa nguội để diễn đạt thủ pháp thời sự hóa mà hai triều đại đã hóa nhập vào trong một hội thề có tính nhà nước.
Trở lại với nhận định ở trên về chức năng và biểu tượng đa diện của trống đồng từ trong văn hóa cổ xưa của người Việt, trong đó nổi lên chức năng thu hút quần chúng và biểu tượng quyền lực. Với con mắt phân tích hiện nay, quả là không ai dám đoán chắc giấc mơ báo mộng của vị thần Đồng Cổ cho vua Lý Thái Tông là thực hay không thực. Chỉ biết, trong chế độ quân chủ, biểu tượng vua không nói chơi, lời vua là lời vàng ngọc, là khuôn là thước. Họ Lý tính lập triều đại mới thay Lê Ngọa Triều thì xuất hiện sấm truyền Hòa đao mộc lạc, Thập bát tử thành (dùng phép chiết tự ám chỉ Lê mất, Lý lên). Lý Thái Tổ muốn định đô ở đất mới thì có giai thoại rồng vàng bay lên. Vậy để thực hiện một việc lớn nữa là tập hợp lòng người, lòng dân sau cơn binh biến hoàng gia, khi vừa tiếp quản ngôi trời, tội gì không kế vãng khai lai, không nhờ ơn xưa mà hưởng phúc nay, không dụng sẵn vốn xưa mà tận thu thành quả mới! Các vua nhà Lý biết làm thế, các vua nhà Trần cũng vậy. Và đều đạt hiệu quả mong muốn. Các dấu son trường chinh đánh Tống bình Chiêm, hội nghị Diên Hồng, kháng Nguyên giữ nước của hai triều đại đã chứng minh điều đó. Ấy là phép dùng xưa vì nay.
Kết luận
Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, đã từng diễn ra nhiều lễ thề, hội thề, trong truyền thuyết có, trong thư tịch có, trong dân gian có, trong chính sử có. Kể ra, như lễ thề giữa An Dương vương và Hùng vương, lễ thề ở cửa sông Hát của Hai Bà Trưng năm 39, hội thề Long Trì năm 1214, hội thề Lũng Nhai của Lê Lợi và mười tám bạn chiến đấu năm 1416, hội thề Đông Quan giữa nghĩa quân Lam Sơn và tướng nhà Minh năm 1427… Trong đó, hội thề Đông Quan có thể coi là hội thề có tính quốc tế đầu tiên trong mười thế kỷ độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên, không phải hội thề nào cũng diễn ra suôn sẻ, cũng nói được là thành công tốt đẹp. Lễ minh thệ mà Trần Thủ Độ muốn tổ chức có sự tham gia của Đoàn Thượng (từ sau năm 1223) để dẹp nạn cát cứ đã không thành công, do Đoàn Thượng không đến dự. Lễ thề do Hồ Quý Ly tổ chức ở Đốn Sơn (Thanh Hóa) năm 1399 cũng bất thành, do Trần Khát Chân và những người đồng mưu dự định gây biến để duy trì vương triều Trần.
Dẫn sử liệu như trên để thấy rằng, việc tổ chức thành công một hội thề không hoàn toàn dễ dàng. Từ đó để hiểu, nâng tầm thành hội thề có tính quốc gia càng khó hơn nhiều lần. Những người làm được điều đó cho hội thề Đồng Cổ hiểu rằng, không đơn thuần là một lễ hội biểu diễn trước mặt thần linh - biểu tượng vô hình của uy quyền, của đức tin - hội thề ấy trên hết là để cố kết nhân tâm, đạt tới ổn định xã hội, mở đường cho sự phát triển.
Chú thích:
(1). Trần Quốc Vượng: “Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức người Việt cổ”, trong sách Trong cõi, Nxb. Trăm hoa, California, 1993 (bản điện tử).
(2). Như trên.
(3). Trần Quốc Vượng - Vũ Tuấn Sán: “Đền Đồng Cổ và hội thề đời Lý”, trong sách Hà Nội nghìn xưa, Nxb. Hà Nội, tr. 161.
(4). Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, Q.2, tờ 15a, b, kỷ nhà Lý. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.3/1-4. Bản dịch và chú thích của Hoàng Văn Lâu, hiệu đính của Giáo sư Hà Văn Tấn, Nxb. Khoa học xã hội, 2004, tập I, tr.262.
(5). Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, Q.5, tờ 4b, kỷ nhà Trần. Như trên, tập II, tr.10-11.
(6). Trần Quốc Vượng - Vũ Tuấn Sán: “Đền Đồng Cổ và hội thề đời Lý”, trong sách Hà Nội nghìn xưa, Nxb. Hà Nội, tr. 161.
(7). Núi Giăng Màn thuộc huyện Hương Khê, Hà Tĩnh.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.51-61)