2. Về văn bia thế kỷ XVII - XVIII ở đình Xuân Mỹ (nay ở khối phố 5, phường Thanh Hà, Hội An) (TBHNH 2012)
2. Về văn bia thế kỷ XVII - XVIII ở đình Xuân Mỹ (nay ở khối phố 5, phường Thanh Hà, Hội An) (TBHNH 2012)
VỀ VĂN BIA THẾ KỶ XVII - XVIII Ở ĐÌNH XUÂN MỸ
(Nay ở khối phố 5, phường Thanh Hà, Hội An)
LÊ THỊ THUÝ AN
Công ty du lịch Vĩnh Thắng - Hội An
VÕ VINH QUANG
Đại học Phan Châu Trinh - Hội An - Quảng Nam
Trongquá trình tìm hiểu về lịch sử văn hóa làng Xuân Mỹ, một ngôi làng tồn tại khoảng 200 năm (từ 1751 đến 1945) ở Hội An, chúng tôi rất ngạc nhiên và thú vị khi được biết ngôi làng này vốn có truyền thống rất đặc trưng, gắn liền với sự phát triển làng xã ở miền Trung. Làng Xuân Mỹ (còn gọi là phường Xuân Mỹ, thuộc tổng An Nhơn Trung, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam vào thời nhà Nguyễn) mặc dù trong đời sống hiện nay gần như bị lãng quên, song, lại có những dấu ấn riêng biệt trong quá khứ.
Trong những dấu ấn đó, đình làng Xuân Mỹ chính là một biểu tượng cụ thể nhất, bên cạnh hệ thống các văn bản chữ Hán ghi chép về địa bạ, điền bạ, văn khế… hiện tồn(1). Đình làng Xuân Mỹ, trải qua nhiều lần trùng tu, hiện vẫn còn giữ được những nét kiến trúc khá cổ điển.
Trước ngôi đình làng, chúng tôi phát hiện ra một tấm văn bia chữ Hán được đặt trang trọng trong nhà bia. Điều khá thú vị chính là: căn cứ theo nội dung văn bia, thì ở đây ghi chép về công đức cúng dường của thập phương tín thí cho chùa Thanh Long Bảo Khánh, không hề liên quan gì đến phường Xuân Mỹ. Lý giải cho hiện tượng này, mặc dù có một số nhà nghiên cứu trong và ngoài địa phương Hội An đã từng đề cập đến, song vẫn chưa đủ các chứng cứ lịch sử xác thực để đi đến kết luận cuối cùng.
Mặc dù, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi cũng đã tra cứu, xem xét trên phương diện lịch sử, văn hóa Quảng Nam, và lịch sử Phật giáo nơi đây, nhưng chưa thể phát hiện ra sự hình thành và tồn tại của ngôi chùa Thanh Long Bảo Khánh, để từ đó có cái nhìn, cách lý giải chuẩn xác hơn về nguồn gốc của văn bia này, cũng như sự giao thoa, bảo lưu di tích, văn hóa giữa làng Xuân Mỹ và các vùng đất xung quanh. Nhân đây, chúng tôi cũng xin khơi mở vấn đề này để các học giả am tường có thể tìm hiểu, lý giải sâu hơn về hiện tượng văn bia chùa trong khu đình làng Xuân Mỹ đó.
Văn bia Thanh Long Bảo Khánh tự được đặt trang trọng phía trước sân đình làng Xuân Mỹ, được xác định niên đại khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Bia đá đã bị bào mòn khá nhiều chi tiết, được khắc chữ hai mặt, nét chữ nay đã mờ bởi sự tàn phá của thời gian và sau nhiều lần chuyển dịch(2) thì yên vị tại vị trí hiện nay. Bởi “thân phận” của tấm bia đá khá đa truân, và cũng khá lâu chẳng được xem xét, tìm hiểu nên đến hiện nay, một số bản dịch bia này có những nhầm lẫn nhất định.
Chúng tôi trong quá trình khảo sát, căn cứ vào những nét chữ còn lại (khá mờ), đã tiến hành ghi chép - đối chiếu lại một cách cẩn thận từng nét chữ.
Về hình thức
Trán bia hình elip vòng cung, bề mặt trán bia được trang trí biểu tượng lưỡng long chầu mặt trời lửa; diềm bia là dây tua cách điệu lượn sóng. Hai mặt dưới trán bia (từ trong ra ngoài) là các chữ : Thanh Long Bảo Khánh tự (mặt trong hướng vào đình làng) và Bảo Khánh tự bi (mặt bia hướng ra sông). Toàn văn khắc chữ chân, tương đối nông, với khoảng 560 chữ. Điều đáng lưu ý là: chính ở mặt trong của bia - ở phần lạc khoản 2 dòng cuối (cách nhau 1 đoạn) - văn bia ghi hai niên hiệu: Niên hiệu Vĩnh Thịnh thập thất niên nhị nguyệt sơ tam nhật 永盛 拾 柒 年 二 月 初 三 日(ngày 03 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 17 - 1721) tại dòng gần cuối và niên hiệu Chính Hòa vạn vạn niên tuế thứ Bính Tý tứ nguyệt thập lục nhật bi 正 和 萬 萬 年 歲 次 丙 子 四 月拾六 日 碑(Chính Hòa vạn vạn niên, ngày 16 tháng 4 năm Bính Tý - tức năm 1696).
Ở hai niên hiệu viết cận kề trên, theo chúng tôi suy đoán: niên hiệu cuối “Chính Hòa Bính Tý” (1696) là niên hiệu của mặt bia phía sau (hướng ra sông), còn niên hiệu Vĩnh Thịnh là của văn bia phía trước (đối diện với đình làng). Như vậy, mặt bia ở phía hướng ra sông được viết trước (bởi dấu vết cho thấy mặt bia này bị bào món khá nhiều), còn mặt bia đối diện đình làng là mặt bia được soạn sau.
Dù sao, đây cũng chỉ là suy luận chủ quan của chúng tôi, chưa có đủ chứng cứ rõ ràng và chính xác để khẳng định, vậy rất mong các nhà nghiên cứu tiếp tục lưu tâm để “giải mã” tấm văn bia thú vị, độc đáo được hình thành từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII này.
Sau đây là phần nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa và phụ lục (ảnh) văn bia:
Văn bia lập năm 1721 ghi tên tín chủ mua ruộng
cúng vào chùa Thanh Long Bảo Khánh
(Mặt hướng vào trong đình làng)
青 龍 寶 慶 寺
蓋 聞 福 田
信 供 范 慈 信 字淨 幸
佛 田 六 畝 三 高有 餘 并 土 等 項 坐 落 泡 幼 坊 溪 水 處。
津 渡 坊 陳 氏 得買 私 田 坐 落 涇 悉 處, 內 簿昫婁社 田 壹 畝 三 高 有 餘。 東 近 小 溪, 西 近 公 田琅 洲社, 南 北近私 田始魁,茲 陳 氏 得 供焉。常 住 三宝在宝慶 寺, 如 本 族 孫 姪 不 得 爭 阻, 茲 拜。
永 盛拾柒 年 二 月 初 三 日
Dịch nghĩa:
CHÙA THANH LONG BẢO KHÁNH
Từng nghe phước điền [được] Phạm Từ Tín tự Tịnh Hạnh tín cúng. Ruộng Phật 6 mẫu 3 sào cùng các hạng đất tọa lạc tại xứ Khê Thủy, phường Bàu Ấu.
Bà Trần Thị Đắc người phường Tân Độ mua ruộng tư 1 mẫu 3 sào ở xứ Kinh Tất nội bạ xã Câu Lâu. Phía đông gần khe nhỏ, phía tây gần công điền xã Lang Châu, phía nam bắc gần ruộng tư Thủy Khôi; nay, bà Trần Thị Đắc cúng cho chùa Bảo Khánh vậy. [Đây là chốn] thường trú Tam bảo, cháu chắt trong tộc không được tranh chấp. Nay [xin] bái lập.
Ngày mồng 3 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 17 [1721].
(Mặt hướng ra sông)
寶慶寺碑
正 和 萬 萬 年 歲 次 丙 子 四 月拾六 日 碑(3)
蓋聞:福田有入賁姓名,寺為先善人最多是及崇脩第一古剎言得在慶衍帝存歷觀古跡名。蓋竊見寺圖寶慶祈有靈禱應,申保國安願為從求為如咸遂禱心樂事碩玆阮姓,心本慈悲,體上肯喜捨善緣,重修寺宇。慕傑道菩提欲種,興造樓臺規橅煥靈。新制慶儼然壯麗,道是基仁是址,心地栽培。善為戶,德為門,福振種就,殿上巍峨,金相梵宮,內燥如來,佛日增輝,年年祝鴻圖詮鞏固。法輪常轉,日日扶帝道照昌功。成福寺河沙善報,名銘石披。
銘曰: 永傳積善。心業菩提。功成正果。壽域咸躋。
慶留普裔。名勒涪溪。玉躬歲萬。福等天齊。
會主:
阮文田字道山,范氏文號慈圓同供。後過,阮有材字惠道明北丘,供氏玉璟號慈芳北丘尼信供。阮文奎字福祥,阮氏界號慈誠…[mất 1 tên, hiệu] 阮文洪,枚氏賴號慈桂,阮全隆字道景,阮文公,阮有世字道正,玄靖,茶氏廣號妙智,范氏賢,阮氏衢,皋氏舉,黃氏養號慈明,陳氏沐,阮氏饒恭。阮文卿字福全,范氏珠號妙印,黎氏巴號慈愛,阮有德字福度,黎文徵字福綏,范登科字法信,黎文安[…mất 3 tên] 胡氏照號妙敬,文氏谷號慈恩,阮氏辰號慈美,黎氏景,裴公候。阮福壽字[bị phần bê tông đè chữ]…[mất 2 tên] … 阮金明字道安,阮文橫字福量,胡氏精號慈足,范文通,阮氏上,段氏遛號[mất tên, hiệu], 阮有壽,賴氏青,枚氏桂,黎氏通,阮氏耕
號妙敬,范氏武號慈忍,阮氏紙號慈香,賴文鼎,陳氏產,武文儒恭,黎文明,謾曰創,阮氏鍾,裴氏靖,恭氏松,枚氏茂,黎文番字福輝,阮氏堆號慈分,黎福良,鄭元寅,鄧氏柳,阮氏籣號慈柳,阮全通字道成 [mất 1 tên] 字道能,丁氏味,阮氏章號妙道,枚文壽,黎文三 [mất 1 tên cuối].
Dịch nghĩa:
BIA CHÙA BẢO KHÁNH
Văn bia làm ngày 16 tháng 4 năm Bính Tý
niên hiệu Chính Hoà (1696) muôn muôn năm.
Từng nghe: ruộng phước chứa đựng nhiều tên tuổi [của các đàn việt] rực rỡ. Chùa vốn trước đây có vô số bậc thiện nhân sùng tín [đã] tu tạo [thành] đệ nhất Cổ-sái(4); lời nói tốt đẹp ấy [được] rõ ràng, các đời vua [trước nay] luôn quan tâm đến danh tiếng của các cổ tích. Cho nên, trộm thấy chùa Bảo Khánh rất có tiền đồ, [là nơi] cầu đảo thực linh ứng, bảo vệ quốc gia yên ổn, nguyện thì được theo [như ước nguyện], cầu tất ứng như mong cầu.
Tâm cầu mọi việc an lạc, lớn lao thay họ Nguyễn. Tâm vốn từ bi, thể hướng điều hỉ xả thiện duyên, trùng tu ngôi chùa, kêu gọi đạo tâm các bậc hào kiệt gieo trồng [thiện căn], hưng tạo lầu đài qui mô sáng rỡ; làm mới mẻ hơn cho nhiều qui chế tốt đẹp, [khiến chùa được] tráng lệ nghiễm nhiên; đạo ấy là nền tảng của “đất nhân” do tâm địa vun bồi.
Thiện căn là nhà, đức độ là cửa, phúc vang lừng thành tựu, nhà cửa nguy nga, kim tướng Phạm cung(5).
Ở trong sáng rõ ánh sáng Như Lai.
Phật nhật tăng huy, muôn đời chúc cho hồng đồ luôn củng cố;
Pháp luân thường chuyển, ngày ngày phò đế đạo chiếu công đức huy hoàng. Thành chùa phước hằng hà sa số nghiệp thiện báo, khắc ghi tên lên bài minh trên đá. Minh rằng:
Mãi truyền tích thiện. Tâm nghiệp Bồ đề
Công thành chính quả. Thọ vươn cao ghê
Tốt lành hậu duệ. Tên khắc Bồi khê
Ngọc thân muôn tuổi. Phước khắp Thiên tề
Hội chủ:
Hội chủ: Nguyễn Văn Điền, tên tự Đạo Sơn, Phạm Thị Văn hiệu Từ Viên đồng cúng.
Sau có, Nguyễn Hữu Tài tự là Huệ Đạo, người Minh - phương Bắc, Cung Thị Ngọc Cảnh hiệu là Từ Phương, Ni cô phương Bắc khâu ni tín cúng. Nguyễn Văn Khuê tự Phước Tường, Nguyễn Thị Giới hiệu Từ Thành… [mất 1 tên, hiệu], Nguyễn Văn Hồng, Mai Thị Lại hiệu Từ Quế, Nguyễn Toàn Long tự Đạo Cảnh, Nguyễn Văn Công, Nguyễn Hữu Thế tự Đạo Chánh, Huyền Tịnh, Trà Thị Quảng hiệu Diệu Trí, Phạm Thị Hiền, Nguyễn Thị Cù, Cao Thị Cử, Hoàng Thị Dưỡng hiệu Từ Minh, Trần Thị Mộc, Nguyễn Thị Nhiêu Cung. Nguyễn Văn Khanh tự Phước Toàn, Phạm Thị Châu hiệu Diệu Ấn, Lê Thị Ba hiệu Từ Ái, Nguyễn Hữu Đức tự Phước Độ, Lê Văn Trưng tự Phước Tuy, Phạm Đăng Khoa tự Pháp Tín, Lê Văn An, […mất 3 tên], Hồ Thị Chiếu hiệu Diệu Kính, Văn Thị Dục hiệu Từ Ân, Nguyễn Thị Thìn hiệu Từ Mỹ, Lê Thị Cảnh, Bùi Công Hầu. Nguyễn Phước Thọ tự [bị phần bê tông đè chữ]… [mất 2 tên]… Nguyễn Kim Minh tự Đạo An, Nguyễn Văn Hoành tự Phước Lượng, Hồ Thị Tinh hiệu Từ Túc, Phạm Văn Thông, Nguyễn Thị Thượng, Đoàn Thị Lưu hiệu [mất hiệu], Nguyễn Hữu Thọ, Lại Thị Thanh, Mai Thị Quế, Lê Thị Thông, Nguyễn Thị Canh hiệu Diệu Kính, Phạm Thị Vũ hiệu Từ Nhẫn, Nguyễn Thị Chỉ hiệu Từ Hương, Lại Văn Đỉnh, Trần Thị Sản, Vũ Văn Nho cung, Lê Văn Minh, Mạn Viết Sáng, Nguyễn Thị Chung, Bùi Thị Tịnh, Cung Thị Tùng, Mai Thị Mậu, Lê Văn Phiên tự Phước Huy, Nguyễn Thị Đôi hiệu Từ Phận, Lê Phước Lương, Trịnh Nguyên Dần, Đặng Thị Liễu, Nguyễn Thị Lan hiệu Từ Liễu, Nguyễn Toàn Thông tự Đạo Thành [mất 1 tên]… tự Đạo Năng, Đinh Thị Mùi, Nguyễn Thị Chương hiệu Diệu Đạo, Mai Văn Thọ, Lê Văn Tam [mất 1 tên cuối]/. /
Chú thích:
(1). Ông Võ Công Khanh, 91 tuổi - là bậc lão niên và là hậu duệ của dòng họ khai canh phường Xuân Mỹ, hiện ở tại phường Thanh Hà, Thành phố Hội An - đang lưu giữ toàn bộ những văn bản chữ Hán (cả bản gốc đóng dấu son, lẫn bản photo) về phường Xuân Mỹ. Đây thực sự là một kho tư liệu quí báu, góp phần giúp giới nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về sự chuyển biến của làng xã Quảng Nam từ thời chúa Nguyễn đến năm 1945.
(2). Theo những người am hiểu cư ngụ ở xung quanh đình làng, tấm bia này đã được dựng tại đình làng khá lâu. Ban đầu dựng ở bên phải đình (hướng cửa ngõ đi vào), sau đó lại được đưa vào dựng trong đình. Song, có lẽ do không hợp với ngôi đình, nên sau khi các bậc lão niên của làng xem quẻ, đã đập rời chân bia đá, làm lại nhà bia với chân bia bằng lớp hồ mới (khoảng 1cm, chèn lên một phần chữ phía dưới của văn bia) và đặt trước sân đình như hiện nay.
(3). Sở dĩ chúng tôi đưa niên hiệu vào mặt này, là do căn cứ vào suy luận của chúng tôi như phần trên đã lý giải.
(4). Cổ sái: phiên âm từ tiếng Phạn, có nghĩa là ngôi chùa.
(5). Phạm-cung hay Phạn-cung: chỉ ngôi chùa Phật.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.13-20)