21. Y miếu Thăng Long (TBHNH 2004)
Y MIẾU THĂNG LONG
LÂM GIANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Y miếu Thăng Long là một di tích lịch sử của nền y học cổ truyền Việt Nam, nằm giữa thủ đô Hà Nội ở đường số 224 thông ra phố Quốc Tử Giám. Y miếu trước đây nằm trên khu đất có số thửa 420, tờ bản đồ số 13 khu K, bằng khoán số 380, rộng 747m2 của Sở Quản lý nhà đất Hà Nội. rất tiếc diện tích hiện nay bị thu hẹp khá nhiều, quy mô cũng không được như trước nữa.
Y miếu gồm 2 lớp nhà, tiền đường và hậu điện nối liền nhau, tường gạch mái ngói. Hậu điện lợp ngói có mái hiên rộng, cửa gỗ đóng bức bàn. Trong hậu điện đặt thờ 5 bài vị: 3 bài vị giữa thờ Tam thánh tiên y, đó là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, theo truyền thuyết là những vị sáng lập ra ngành y của Trung Quốc cổ đại. Hai bài vị hai bên thờ hai vị tiên y Việt Nam, đó là Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông. Theo tấm bia sẽ trình bày dưới đây, Y miếu được lập vào đời Lê Hiển Tông, do Trịnh Đình Ngoạn giữ chức Chưởng viện Thái y đứng ra quyên tiền trong viện và cung phủ xây dựng nên. Như thế thì lúc ấy hẳn chưa có bài vị thờ Hải Thượng Lãn Ông, vì lúc ấy ông đang sống và hành nghề rất nổi tiếng, được Trịnh Sâm mời vào trong cung chữa bệnh cho Chúa (Thượng kinh ký sự). Theo như nội dung bài văn bia, Y miếu lúc đầu xây dựng nhằm thờ 3 vị có công sáng nghiệp ra nghề y, bài vị của Tuệ Tĩnh cũng có thể cùng một lúc với bài vị Hải Thượng Lãn Ông được đưa vào thờ, khoảng cuối thời Nguyễn.
Y miếu xây dựng trên một khu đất công thuộc phường Bích Câu được nhà vua ban cho, lúc ấy chung quanh là hồ ao, giáp với Văn miếu, và nằm ở phía sau chùa Phổ Giác, phố Ngô Sỹ Liên. Ngày nay các hồ ao đã bị lấp nhường chỗ cho những con phố. Có lẽ vì thế mà tấm bia nói về việc xây dựng Y miếu nằm ở sau chùa Phổ Giác, cách Y miếu khá xa bởi một dãy phố nhỏ 224.
Theo Lập Trai di văn tập của Phạm Quý Thích, Y miếu đã được trùng tu năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) sau 60 năm xây dựng. Nhưng qua nhiều năm trải nắng mưa, Y miếu dần dần đổ nát, đến năm 1930, giới Đông y Hà Nội cho xây dựng lại. Năm 1952, Hội Y dược Việt Nam lại tu bổ thêm và xây tường chung quanh vườn. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Y miếu do Hội Y dược Việt Nam trông coi quản lý. Hồi năm 1960, bằng khoán về bất động sản thuộc Y miếu đã trao cho Hội Đông y Việt Nam (Theo Trương Xuân Nam - Góp phần xây dựng lịch sử ngành Dược Việt Nam. Nxb. Y học chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh năm 1985).
Y miếu đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích văn hóa cấp quốc gia. Sau đó trong một khoảng thời gian dài của thời kỳ “Bao cấp” Y miếu trở thành nơi ở của tư gia. Y miếu hư hại nặng nề. Cho đến mấy năm gần đây, đã được trùng tu sửa sang đẹp, nhưng phải nằm trong khu dân cư đông đúc chật hẹp, đáng tiếc thay ! Y miếu là niềm tự hào của nhân dân cả nước nói chung, của Thăng Long Hà Nội nói riêng. Nếu như còn giữ được một khuôn viên thích hợp nó sẽ cùng với khu Văn miếu Quốc tử giám tạo thành một khu di tích lịch sử liên hợp, chắc hẳn không những “đẹp” về tinh thần mà còn “đẹp” cả về vật chất nữa.
Kể về người có công đầu tạo dựng ra Y miếu là Trịnh Đình Ngoạn, tư liệu nói về sự việc này còn lại không nhiều. Thông qua tấm bia như đã nói trên thì cũng phần nào hiểu được về sự nghiệp và sự đóng góp của ông. Trịnh Đình Ngoạn người xã Định Công, huyện Thanh Trì, ngoại thành hà Nội, xuất thân từ một gia đình nhà nho có truyền thống làm thuốc. Không rõ ông sinh và mất năm nào, có đỗ đạt gì không, chỉ biết rằng, ông rất giỏi nghề thuốc được giữ chức Chưởng viện (Viện trưởng) kiêm quản trong Thái y viện của triều đình đời Lê Cảnh Hưng. Ông đã có nhiều thành tích về chữa bệnh cho vua chúa và nhân dân, nên được triều đình và mọi người yêu mến. Ông cho rằng, có được những kết quả đó là do đã dày công học hỏi ở bậc tiên y, kết hợp với sự nỗ lực tìm tòi của bản thân. Để ghi lại công ơn của các tiền bối ấy cùng với sự đóng góp của các danh y nước nhà sau này thì cần phải có miếu thờ để mọi người có nơi chiêm ngưỡng và noi theo. Ý tưởng đó đã được triều đình khuyến khích, giao cho ông tìm đất lập Y miếu. Thế là Y miếu ra đời. Nó được xây cất xong năm Giáp Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1774), với sự đóng góp tiền của của nhiều người mà tên tuổi của họ được ghi ở phần cuối tấm bia.
Bia hiện gắn vào bức tường sau chùa Phổ Giác cùng với những bia khác của nhà chùa, điều này cho biết, bia được đã rời từ chỗ khác đưa tới, khi người ta mở đường lập phố. Bia khắc chữ rất nhỏ, nét khắc mảnh và nông, nhưng khi in rập thành thác bản thì chữ còn khá rõ.
Bài văn bia do Phúc Đình cư sĩ Thị nội văn chức Nguyễn Quý Dĩnh soạn. Thị nội tuyển thủ hợp Hộ phiên chiêm sự Đàn Thọ Đào nguyên Thanh viết chữ. Bia khắc xong ngày tháng 8, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1774), ngay sau khi Y miếu xây dựng xong. Bài văn bia ca ngợi công lao xây cất Y miếu của Trịnh Đình Ngoạn, có đoạn như sau:
“Thái y viện cùng với quan Chưởng viện kiêm Quản viện là Tả đội Hữu hiệu điểm Ngoạn Trung hầu, họ Trịnh đứng ra xây cất miếu thờ Tam thánh tiên y.
Từng nghe nói rằng, dựng bia là để chép ghi công lạ, truyền lại việc hay, không phải là không có tác dụng. Ở đời có những người có hoài bão khác thường, công lao hiếm có, chẳng những ngợi khen không ngớt miệng, mà còn phải được khắc vào bia đá, vì rằng muốn cho bền như ngọc để lưu truyền mãi mãi, thì chính nay thấy ở quan Chưởng viện họ Trịnh, xứng đáng được làm việc ấy. Thế thì việc dựng bia này thôi được ư !…
Có lẽ, để nhớ ơn các bậc tiên thánh, mà ông vui vẻ xây cất Y miếu, coi đó là trách nhiệm của mình. Ông tìm được một khu đất công ở phường Bích Câu, ở về phía tây Phương thành, phía tả Văn miếu, và có một cái ao nước trong veo, xung quanh phong quang sạch sẽ, có thể xây cất miếu điện được. Nhưng e rằng nếu là việc tư thì không làm nổi, nên phải tâu lên vua, được vua chuẩn y và ban thêm cho 10 mẫu ruộng làm tự điền, để hương khói tế tự; lại được bà Hoàng Thái hậu ban cho 2 nén bạc. Noi theo lòng tốt đó, các cung tần cũng đều cho (một bà cho một nén bạc, một bà cho 10 quan tiền), và ông tự bỏ tiền của nhà ra 600 quan tiền để xây cất.
Vì vậy chỉ trong mấy tháng Y miếu đã xây xong, nào phượng múa rồng chầu, cung tường lộng lấy, nào đao tàu réo nóc, rường cột hiên ngang, đã trở thành nơi để nhiều người chiêm ngưỡng tôn kính. Việc như thế, các bậc danh y đời trước chưa ai làm được, mà nay chỉ có quan Ngoạn Trung Hầu làm được vậy. Thực là ông có công lao với đạo y không phải là nhỏ…”.
Như trên đã trình bầy, ban đầu Y miếu lập ra để thờ ba vị Thần Nông, Phục Hy và Hoàng Đế. Về sau các thày thuốc Việt Nam thờ Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông làm cụ tổ nghề. Ngoài hai vị Tiên y được thờ ở Y miếu, còn phải kể đến các vị danh y khác có công rất lớn với nền y học cổ truyền nước nhà như: Chu Văn An thời Trần với Y học yếu giải tập chú di biên, vận dụng nguyên lý của Nội kinh, thâu tóm các nguyên nhân của bệnh tật, là tác phẩm hiện biết có mặt sớm nhất của nước ta.
Thế kỷ XV có Phan Phu Tiên với Bản thảo thực vật toản yếu, gồm 392 vị thuốc Nam cũng là những thứ thức ăn hàng ngày, như gạo nếp, gạo tẻ, ngô, khoai, sắn, các loại rau, hoa quả v.v, hướng tới chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Cùng thời đó còn có Nguyễn Trực soạn ra Bảo anh lương phương, chuyên về nhi khoa, chú trọng vào những bệnh thường xuất hiện ở Việt Nam, như đậu mùa, sởi, tả, lỵ…
Ngoài những tác giả, tác phẩm trên, ở những thế kỷ sau, các tác phẩm y dược Việt Nam phát triển khá mạnh, mỗi tác phẩm đều có nội dung khá phong phú về các chuyên khoa khác nhau, như:
Hoàng Đôn Hoà (thế kỷ XVI) soạn Hoạt nhân toát yếu; Đào Công Chính soạn Bảo sinh diên thọ toản yếu (1670); Lý Công Tuấn soạn Châm cứu thủ huyệt đồ (1695); Nguyễn Quỳnh soạn Nam Dương tập yếu (1675-1735); Ngô Lâm Đáp soạn Truyền trung minh lý lục (thế kỷ XVIII); Trịnh Đình Ngoạn soạn Cương mục yếu ước chân kinh diệu luận (1740-1786); Trần Ngô Thiêm soạn Y học nhập môn diễn ca, Tiểu nhi khoa (thế kỷ XVIII); Ngô Hữu Đạo soạn Mạch học Y lý tinh ngôn (1774); Nguyễn Gia Phan soạn Liệu dịch phương pháp, Lý âm thông lục, Hộ nhi tổng lục phương pháp (1776-1812); Nguyễn Quang Tuân soạn La Khê phương dược (1802); Nguyễn Quang Lương soạn Nam dược tập nghiệm (1818) v.v./
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.176-180)