22. Về một văn bia Quế lâm ngự chế (TBHNH 2010)
VỀ MỘT VĂN BIA QUẾ LÂM NGỰ CHẾ
NGUYỄN QUỐC KHÁNH - NGÔ THẾ LÂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong một chuyến đi điền dã tại tỉnh Sơn La, chúng tôi có ghé thăm một di tích tại trung tâm thành phố, di tích này nằm ở lưng chừng ngọn núi Cằm, ở đây có tấm bia và trên văn bia có khắc dòng chữ to Quế lâm ngự chế. Hang bia này còn có tên gọi là “Thẳm báo ké” (Hang trai già), xét thấy đây là một tấm văn bia có giá trị về mặt lịch sử, vì vậy chúng tôi cung cấp cùng bạn đọc tham khảo.
Xin nói sơ qua một chút về lịch sử tấm văn bia này. Thời Lê sơ, để bảo vệ miền biên cương phía Tây của tổ quốc, vị vua trẻ Lê Thái Tông (1423-1442) đã hai lần cầm quân lên trấn miền Tây dẹp loạn phản nghịch vào năm 1440 và mùa xuân năm 1441. Năm Canh Thân (1440), sau khi dẹp được quân phản nghịch, do Thượng Nghiễm ở châu Mường Muổi (nay là huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La) cầm đầu và nghỉ chân tại động La (địa phương gọi là Thẩm Ké) cảm xúc trước cảnh đẹp và khung cảnh bình yên nơi đây nhà vua đã viết một bài thơ Quế lâm ngự chế được khắc trên vách đá thẳng đứng trên cửa động.
Đặc điểm văn bia:
Văn bia có kích thước 1,25 x 0,95m, bia không trang trí hoa văn, văn bia có chữ Hán, được chia thành 14 hàng.
Nội dung văn bia:
Phiên âm:
Quế lâm ngự chế
Thuận Muổi châu nghịch tù Thượng Nghiễm vong ân bội nghĩa, suất chúng tòng Ai Lao tắc nghịch, dư thân đổng lục vãng chính kỳ tội, chỉ cố chi gian thiêu hủy lưỡng trùng sơn nhai, đoạt kỳ tỉnh tuyền. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, tiến tượng khất hàng, dư linh kỳ bồ bặc vô khí. Bất nhẫn tận lục, nãi xá quyết tội ban sự nhi hoàn lưu đề chương vân:
Bình Chẩm duy truy tâm niệm viễn nhân
Man tù hà sự tốc vong thân
Thế gian nhược hữu anh hùng chủ
Thiên hạ hạ thùy dung phản nghịch thần
Ô đạo duyên vân không thị hiểm
Âm nhai sướng noãn kỷ hồi xuân
Cách trừ hãn nhiễm an dân thiện
Nhẫn sử hà manh ngoại chí nhân.
Đại Bảo nguyên niên, quý xuân trung cán cát nhật.
Dịch nghĩa:
Quế lâm ngự chế
Tù trưởng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa đem quân theo người Ai Lao làm phản. Trẫm thân chinh điều khiển sáu quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực kiệt, dâng voi xin hàng ta, thương nó quỳ bờ, không mang vũ khí, không nỡ chém bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để làm bài thơ rằng:
Nghĩ đến người xa đêm khổ tâm
Thổ tù sao lại dám quên thân ?
Thế gian đã có anh hùng chúa
Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần
Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm
Hang cùng đã ấm áp hơi xuân
Yên được dân lành nhơ nhớp hết
Dân xa được hưởng tấm lòng nhân.
Ngày lành giữa tháng 3 năm Canh Thân Bảo Đại thứ nhất 1440.
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.191-193)