28.Quan niệm về số “5” của người Phương Đông (TBHNH 2002)
Thứ Sáu, 30/03/2007 23:26
TBHNH2002
NGUYỄN QUỐC KHÁNHViện Nghiên cứu Hán Nôm Từ thời cổ xưa người phương Đông quan niệm về số “5”, nó được sử dụng tương ứng với cái tên gọi gắn liền với con người, sự việc, sự vật. Con người ta chịu ảnh hưởng trực tiếp của vũ trụ, vũ trụ lúc đầu chỉ là hôn mông mờ mịt, không phân biệt ra rõ ràng. Trong cái hôn mông ấy có cái lý linh diệu vô cùng tức là thái cực. Song thái cực là đơn nhất ẩn khuất không rõ ra, nên không sinh hoá được. Muốn sinh hoá thì phải có đôi, có tương đối có mâu thuẫn. Vậy thái cực biến hoá ra âm và dương âm dương theo lẽ điều hoà mà sinh ra Ngũ hành là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, để biểu thị những cái khí chất đã thành hình. Ứng với 5 phương là đạo lập địa, lấy ngũ luân là đạo của con người, lấy Ngũ thường là đạo của trời vậy. Bởi thế mới lấy phép tắc tự nhiên của trời làm mô phạm của người và cho thiên luân và nhân luân, thiên đạo và nhân đạo. Theo cách nhìn của các chiêm tinh gia, lịch số, toán pháp thời cổ và phong kiến về thiên tượng thì sao Ngũ đế tượng trưng cho ngôi thiên tôn, sao “Ngũ hầu” vòng qua “kinh vĩ tinh”(1) là sao vân hán, về mặt địa lý trong Hà đồ thì có 55 chấm điểm thì số “5” được tương xứng giữa. Trong Lạc thư thì có “Trù tự Ngũ tự” tương xứng cho Ngũ phúc. Trong sách Lễ ký, thiên “Khúc lễ hạ” có câu “Đại phu tế Ngũ tự” (Quan đại phu tế Ngũ tự), ngũ tự là tế thần cửa, ngõ, giếng bếp và ở giữa nhà.Bàn về tính chất của “Ngũ thổ” đều hướng tới sự sống mà đức thuận thì xương thịnh. Như tiết tấu “Ngũ âm” làm cho tinh thần con người ta được vui vẻ, như “Ngũ vị” làm tăng kích thích dịch vị trong ăn uống. Trong “Ngũ thổ” và “Ngũ cốc” có sự tương đồng khăng khít với nhau dựa vào nhau để dưỡng sinh cho nhau. Cơ thể con người ta có “Ngũ quan” (Năm giác quan: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân ý) và “Ngũ trần” (Năm trần: sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp) đối tác với nhau tạo ra mối quan hệ khách quan và chủ quan.Con người ta có tĩnh có động, có vui có buồn, do đó vị chúa tể của tinh thần, nguồn gốc của nó ở trong tam tài (trời, đất và con người) mà ra (theo Trần Thánh chính kinh tập biên). Ngũ nhạc (Đỉnh núi ngũ nhạc ở 5 phương) về màu sắc thì chia ra “Ngũ sắc” (năm màu).Sự biến hoá cùng tận đó đều theo thể thống nhất. Muôn vật, mong sự trong trời đất không ngoài sự diệu dụng của “Ngũ hành”.Dưới đây xin liệt kê:1. Ngũ hành (///): Cửu trù của vua Hạ Vũ lấy ngũ hành làm gốc lý: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Từ đó về sau “âm dương ngũ hành” được coi là học thuyết của Trung Quốc và cả Đông phương.2. Ngũ phương (///): Phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương.3. Ngũ luân: Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín, phu phụ hữu biệt Nghĩa là: cha con có tình thân, vua tôi có nghĩa, chồng vợ có phân biệt, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín.4. Ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.5. Ngũ đế:- Vua Phục Hy (4480 – 44365 TCN) vạch ra tám quẻ để thông cái đức của thần - minh và để bày rõ cái tình của muôn vật, đặt ra thư khế và định ra giá thú.- Vua Thần Nông (3220 – 3080) dạy dân trồng ngũ cốc- Vua Hoàng Đế (2697 – 2597) chế ra áo mũ, sai quan đặt văn tự, định căn chi, làm lịch, dùng toán số.- Vua Nghiêu (2357 – 2257) sai họ Di họ Hoà xem sự chuyển dần của mặt trời, mặt trăng...- Vua Thuấn (2256 – 208) đặt ra quan chế...6. Ngũ hầu: Đế sư, Đế hữu, Tam công, Bác sĩ, Thái sử7. Ngũ kinh, Ngũ vĩ: 28 sao (Nhị thập bát tú) được gọi là “Ngũ kinh”, kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ là ngũ tinh cũng gọi là là “Ngũ vĩ”.8. Ngũ điểm, Ngũ số: Trong Hà đồ có 55 chấm điểm “Ngũ số” (số năm) ở giữa. Như trời (1) Đất (2), Trời (3) Đất (4), Trời (5) Đất (6), Trời (7) Đất (8), Trời (9) Đất (10), Thiên số 25 còn Địa số là 30 do đó: 1 và 6, 2 và 7, 3 và 8, 4 và 9, 5 và 10 thì ngẫu số là 5.9. Ngũ sự, Ngũ phúc+ Ngũ sự: Mạo, ngôn, thị, thính, tư (Tướng mạo, lời nói, nhìn, nghe, suy tư).+ Ngũ phúc: Phú, quý, thọ, khang, ninh (Giầu, sang, sống lâu, sức khoẻ, an ninh).10. Ngũ thổ (///): Theo Chu Lễ Quan đại tư đồ đã lấy thổ làm một hội từ đó sinh ra Ngũ địa (5 loại đất) các sinh vật sống có khác nhau: Sơn lâm, xuyên trạch, khâu lăng, phần diễn, nguyên thấp (Rừng núi, sông đầm, gò đống, đất tốt, chỗ đất cao trũng).- Đất phương Đông gọi là Thanh thổ- Đất phương Tây gọi là Bạch thổ-Đất phương Nam gọi là Xích thổ- Đất phương Bắc gọi là Hắc thổ- Đất phương Trung ương gọi là Hoàng thổ11. Ngũ canh: Năm Canh là cách tính giờ đêm lưu truyền từ thời cổ đại, chia một đêm từ hoàng hôn đến bình minh thành 5 Canh, mỗi Canh cách nhau 2 giờ, gọi là 5 Canh hoặc “Ngũ dạ” và “Ngũ cơ” Canh 1 chỉ khoảng 8 giờ tối, Canh 2 khoảng 10 giờ đêm, Canh 3 chỉ lúc nửa đêm (0 giờ), Canh 4 chỉ lúc 2 giờ, Canh 5 chỉ lúc 4 giờ, tức là bình minh.12. Ngũ âm (///): Cung – thương – giác – huy – vũ Cung (tượng trưng cho vua), thương (tượng trưng cho thần), giác (tượng trưng cho dân), huy (tượng trưng cho sự việc), vũ (tượng trưng cho vật) hợp 6 âm tiết lại tạo nên cao thấp, thanh trọc.13. Ngũ vị (///): Toan (vị chua) thuộc mộc, tân (vị cay) thuộc kim, khổ (vị đắng) thuộc hoả, hàm (vị mặn) thuộc thuỷ, cam (vị ngọt) thuộc thổ.14. Ngũ cốc: Mạch (lúa tẻ), thục (đậu), ma (vừng), tắc (lúa tắc), thử (lúa mùa).15. Ngũ trần: Bao gồm ngũ uẩn và lục trần. Là thuật ngữ nhà Phật trong Bát Nhã ba la mật đa tàm kinh.- Ngũ uẩn là: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức (cảnh sắc, chịu nạn, tưởng tượng, làm việc và ý thức)- Lục trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.(Màu sắc, hương thơm, mùi vị, tiếp xúc, sự vật)16. Ngũ nhạc: Là năm ngọn núi.- Đông nhạc là núi Thái Sơn - Tây nhạc là núi Hoa Sơn- Nam nhạc là núi Hành Sơn - Bắc nhạc là núi Hằng Sơn- Trung nhạc là núi Tung Sơn.17. Ngũ hổ: Là năm hổ ở năm phương.- Phương Đông Thanh hổ – phương Tây Bạch hổ- Phương Nam Xích hổ – phương Bắc Hắc hổ- Phương Trung ương Hoàng hổ.18. Ngũ tự: Là cúng tế thần cửa, ngõ, giếng, bếp và ở giữa nhà.Còn có thể kể ra rất nhiều khái niệm liên quan đến “ngũ” của phương Đông như: Ngũ bại (Năm loại hành vi làm tổn thương đến thân thể phá hoại việc tu hành của con người, Ngũ cảnh còn gọi “Ngũ trần” chỉ năm đối tượng khiến Ngũ căn như: Nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân ý – nảy sinh ham muốn: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; Ngũ đại (5 loại vật chất kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ); Ngũ đức (Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín); Ngũ giáo (ngũ luân) ngũ giới, ngũ kinh, ngũ nan (chỉ 5 loại trở ngại khó khăn đối với việc dưỡng sinh tu luyện). Như danh lợi không vứt bỏ đó là 1 khó, hỉ nộ không vứt bỏ đó là 4 khó, tinh thần phân tán tản mạn đó là 5 khó) Ngũ nghịch tội (tội ngũ nghịch, những tội đại ác trái với đạo lý), Ngũ quan (chỉ tai, mắt, mồm, mũi, thân của người), Ngũ thông... Ở đây chỉ nói ra một số thí dụ chủ yếu mà thôi. Tìm hiểu nghiên cứu về Đông phương nói chung và Hán Nôm nói riêng không thể không tìm hiểu về con số ngũ (năm) vậy.Chú thích: 1. Theo sách Ấu học Quỳnh lâm thì vua Thuấn đặt ông Khiết làm quan Tư đồ dạy dắt đạo nhân luận. 2. Theo sách Trần Thánh chính kinh tập biên có nói kinh là hiện tượng 28 vì sao (Nhị thập bát tú) và “Vĩ” là sao Ngũ tinh tức kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.251-256
|