32. Bút tích vua Quang Trung thảo tờ chiếu mời La Sơn Phu Tử (TBHNH 2011)
BÚT TÍCH VUA QUANG TRUNG THẢO TỜ CHIẾU MỜI LA SƠN PHU TỬ (1)
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong một chuyến đi công tác sưu tầm vào miền trung năm 2011, tôi có dịp vào thăm viếng mộ La Sơn Phu tử tức Nguyễn Thiếp. Qua việc viếng mộ rồi về nhà thờ thăm quan, chúng tôi được các cụ trong họ Nguyễn tiếp đón rất ân tình và cởi mở, một cụ thắp hương trước bàn thờ tổ xong, cụ đưa cho chúng tôi xem hòm sắc được rước từ ban thờ xuống đã cũ có giữ hàng loạt các chiếu sắc, gia phả… đựng trong ống tròn gọi là ống quyển, mà triều vua Quang Trung đã ban cho cụ Nguyễn Thiếp. Trong số sắc phong đó có 1 tờ chiếu kích thước 60 x 40 cm do đích tay vua Quang Trung thảo mời cụ xem phong thuỷ về đất để làm Đô ở Nghệ An tức là ở địa khu Phù Thạch ngày nay.
Nguyễn Thiếp (l723-1804) là danh nhân lịch sử của Việt Nam, bậc thầy hiền sĩ thức thời, danh tiết thanh cao, biết người và biết mình. Người được Hoàng đế Quang Trung ba lần mời ra giúp sức. Người được chúa Trịnh Sâm, vua Gia Long và các sĩ phu đương thời nể trọng. Nguyễn Thiếp có tên hiệu La Sơn phu tử. Ông là bậc thầy hiền sĩ thức thời, danh tiết thanh cao, biết người biết mình, không màng danh lợi. Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723) ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông còn có nhiều tên hiệu, tên tự khác như La Giang phu tử, Lam Hồng Dị Nhân, Khải Xuyên, Khải Chuyên, Nguyệt Úc, Lạp Phong cư sĩ, Hạnh Am, Hầu Lục niên, Lục niên Tiên sinh, Điên ẩn, Cuồng ẩn.
Ông được nuôi dưỡng trong một gia đình văn hóa uyên thâm. Bên nội thuộc dòng dõi của Bảng nhãn Nguyễn Bật Lạng triều Lê Thần Tông. Bên ngoại là họ Nguyễn “Trường Lưu”, một dòng họ khoa bảng nổi tiếng “văn phái Hồng Sơn”. Nguyễn Thiếp nổi tiếng thiên tư sáng suốt, học rộng, hiểu sâu. Năm 20 tuổi, ông thi Hương đậu Giải nguyên. Năm 26 tuổi, ông thi Hội đậu Tam trường. Năm 30 tuổi, ông nhậm chức Huấn đạo ở phủ Anh Sơn. Năm 40 tuổi, ông làm Tri huyện Thanh Chương. Năm 46 tuổi, ông từ quan, về dựng nhà sống ẩn trên núi Thiên Nhẫn (Lục niên thành).
Xin nói sơ bộ về tờ chiếu này, sau khi Chính bình Vương mời Nguyễn Thiếp ra giúp việc nhưng cụ không ra, lúc đó Nguyễn Huệ có mời cụ giúp coi về địa lý phong thuỷ để định lập Đô ở đất quê quán của mình là xứ Nghệ An. Rồi Nguyễn Huệ ra Thăng Long vào tháng 5 năm 1788 để triệu các cựu thần nhà Lê ra bổ dụng, chọn Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích làm Thị lang. Mời Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn làm giám quốc, coi việc tế tự họ Lê.
Cuối tháng 5 năm 1788 vua về Nghệ An chưa thấy Nguyễn Thiếp xem đất cho, nên Nguyễn Huệ tự tay viết thư trách và giục cụ làm việc ấy. Bức thư này viết bằng chữ Nôm lẫn chữ Hán, tỉ lệ chữ Nôm chiếm 60% còn lại là chữ Hán, tổng số có 148 chữ trong đó có một số chữ Nôm thời Lê hay gọi là Nôm Lê. Chữ viết bằng mực son không đóng dấu ngọc tỷ của nhà Vua, lời văn dùng là lời văn nói theo tiếng Đàng Trong, như chữ “Đặng” có nghĩa là được. Nét chữ viết bằng son, tuy nét bút cứng cáp chững chạc, nhưng biểu hiện rõ là người viết chưa được luyện thành thạo. Các chữ viết cách nhau không đều, có chữ sót sau thêm vào, như chữ “Chiếu” ở gần cuối, có chữ tô đi tô lại, có chữ viết lầm, như chữ “Đô” ở hàng thứ năm và chữ “Giám” ở hàng thứ bảy, ngay cả tên Nguyễn Thiếp cũng viết lầm sang chữ “Thiệp”(2).
Qua chiếu này là một bằng chứng khi vua Quang Trung định lập đô ở Nghệ An và lập trên đất Phù Thạch trên sông Lam, dưới chân núi Nghĩa Liệt, lại thêm sông kề núi cạnh, sự đi lại tiện mà phòng thủ cũng dễ. Vả lại đời Lê trước đây, Phù Thạch đã có lần làm Lỵ sở cho Thừa Tuyên Nghệ An. Nhưng chưa kịp dựng đô thì vua Quang Trung đã băng hà. Xét thấy đây là tư liệu có giá trị quý, nên chúng tôi công bố cùng bạn đọc tham khảo.
Dưới đây là tờ chiếu được chụp từ bản gốc như sau:
CHIẾU VIẾT CỦA VUA QUANG TRUNG GỬI PHU TỬ
Phiên âm:
Chiếu truyền La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khâm tri. Ngày trước uỷ cho Phu tử về Nghệ An tướng địa làm đô cho kịp kỳ này hồi ngự. Sao về tới đó, chưa thấy đặng việc gì. Nên hãy giá hồi Phú Xuân kinh hưu tức sĩ tốt.
Vậy chiếu ban hạ Phu tử tảo nghi dữ Trấn thủ Thận cộng sự, kinh chi dinh chi, tướng địa tác đô tại Phù Thạch. Hành cung sảo hậu cận sơn. Kỳ chính địa, phỏng tại dân cư ư gian, hay là đâu cát địa khả đô, duy Phu tử đạo nhãn giám định.
Tảo tảo bốc thành! Uỷ cho Trấn thủ Thận tảo lập cung điện. Kỳ tam nguyệt nội hoàn thành, đắc tiện giá ngự. Duy Phu tử vật dĩ nhàn hốt thị.
Khâm tai! Đặc chiếu.
Thái Đức thập nhất niên, lục nguyệt, sơ nhất nhật.
Dịch nghĩa:
Chiếu truyền cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được biết. Ngày trước ủy cho Phu tử về Nghệ An xem đất đóng đô cho kịp, kỳ này ngự giá ở Bắc về trú. Sao ta về tới đó thấy chưa được việc gì? Nên ta hãy hồi giá về Phú Xuân kinh cho sĩ tốt nghỉ ngơi.
Vậy chiếu ban xuống cho Phu tử nên sớm cùng ông Trấn thủ Thận tính toán mà làm việc, xem đất đóng đô tại Phù Thạch. Hành cung thì để phía sau khá gần núi. Chọn đất hoặc ở chỗ có dân cư, hoặc chỗ nào đất tốt có thể đóng đô được, là tuỳ Phu tử lấy con mắt tinh mà đoán định.
Sớm sớm chọn lấy, giao cho Trấn thủ Thận chóng dựng cung điện. Hẹn trong ba tháng thì xong, để tiện việc giá ngự.
Vậy Phu tử chớ để chậm chạp không chịu xem.
Kính thay! Đặc chiếu.
Thái Đức năm thứ 11 (1788), ngày mồng 1, tháng 6.
Chú thích:
(1) Bài viết đã tham khảo đối chiếu sách La Sơn Phu tử của Hoàng Xuân Hãn, Nxb. Minh Tân - Paris 1952.
(2) Xem La Sơn Phu tử, Sđd./.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.719-722)