VI | EN
35. Thêm một loại hình bia tượng hậu thế kỉ XVII (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

THÊM MỘT LOẠI HÌNH BIA TƯỢNG HẬU THẾ KỶ XVII

NGUYỄN QUỐC KHÁNH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Bia tượng Hậu trước nay đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến. Song vừa qua tại huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng chúng tôi có gặp và sưu tầm được tấm bia Hậu Thí điền Nghi Sơn tự bi ký. Đây là tấm bia có kích cỡ không lớn (42x43cm), nhưng điều muốn nói ở đây là bia có khắc hình bức tượng Hậu đặc sắc riêng của vùng ven biển Hải Phòng.

Bài viết này không nhằm mục đích phân tích nội dung phản ánh, cũng như đánh giá về giá trị nghệ thuật của tấm bia Hậu này, mà chỉ có tính chất thông báo về một loại hình tượng Hậu đặc sắc để các nhà nghiên cứu quan tâm cùng tham khảo.

Bia tạo năm Phúc Thái 5 (1647) có khoảng 130 chữ Hán; khổ bia rộng 42x43cm, trán khắc mặt nguyệt mây, hoa lá, diềm hoa lá uốn lượn, góc bên phải khắc hình tượng hậu và tượng cô bé đứng chầu.

Nhìn sơ bộ thấy: Đây là tượng chân dung ở tư thế ngồi, hai chân xếp bằng, có áo dài buông che phủ chân, hai tay đan chéo vào nhau để lộ hai ngón tay cái với móng dài. Tượng có khuôn mặt phương phi, mũi cao dài, môi nở, hai tai to, mắt mở bình thường nhìn xuôi xuống với vẻ ưu tư. Đầu tượng đội mũ tăng chùa, áo khoác dài với hai tà vắt chéo trước ngực, tay áo rộng có nhiều nếp gấp (kiểu áo nhà chùa), đỉnh đầu bức tượng là dèm the che phủ, phía dưới là ghế hộp có khắc hoa văn uốn lượn. Tượng cao 17 cm, đặt trong một khung nhỏ bên phải bia. Đứng bên phải tượng là một tượng nhỏ (cô bé) đứng hầu. Tượng nhỏ này tóc dài, hai tay chắp trước ngực, mặc váy, tượng cao 6 cm. (Xin xem thêm ảnh minh họa).

         Như vậy, bức tượng này là ai? Qua nội dung bài văn khắc trong bia được biết: Tượng nguyên là ông Xã trưởng của xã Kinh Thi, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng tên là Trần Huyền Thanh, tự Khang Ngoại cùng vợ là Lê Thị Thìn, hiệu Từ Sinh có 1 mẫu ruộng tiến cúng vào chùa Nghi Sơn để làm ruộng Tam bảo. Số ruộng này hai thôn trong xã luân phiên canh tác để cúng dưỡng chư Phật.

Bài minh 4 chữ 18 câu ca ngợi rằng:

Phúc lai vô lượng,

Phật độ hữu duyên,

Thành tâm phu phụ,

Mộ đạo thánh hiền,

Ký tạo kiều quán,

Trùng tu già lư,

Thí nhất mẫu cúng,

Vi tam bảo điền,

Ngưỡng kỳ báo ứng,

Các bảo song toàn,

Hạc quy ích toán,

Thọ khảo di kiên,

Miễn luân hồi kiếp,

Thăng bảo đài tiên,

Phổ tiến tổ khảo,

Cộng hoạch sinh thiên

Nhất bi sáng tạo,

Vạn đại lưu truyền.

Dịch nghĩa:

Phúc tới vô lượng,

Phật độ hữu duyên,

Phu phụ thành tâm,

Mến đạo thánh hiền,

Đã dựng cầu quán,

Tu sửa nhà chùa,

Cúng một mẫu ruộng,

Làm ruộng Tam bảo,

Mong cầu báo ứng,

Được vẹn song toàn,

Thọ sánh quy hạc,

Sống lâu khỏe mạnh,

Thoát kiếp luân hồi

Lên trên đài báu,

Cùng tiến tổ tiên,

Đều được sinh thiên,

Văn bia ghi tạc,

Truyền lại muôn đời

         Như vậy, qua tấm bia hậu này, không những thấy lời văn ý thơ chất phác uyển chuyển, mà còn thấy sự tinh tế tài hoa của những người thợ tạc đá bằng những đường nét khắc về trang phục, vóc dáng... đầy sức sống động là cứ liệu chính xác để tìm hiểu về trang phục cũng như về con người Việt thời trung đại. Điều này rất hữu ích cho những nhà nghiên cứu về trang phục thời Lê Trung hưng.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.352-355)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm