36. Niên đại năm Canh Dần (1830) và tình hình các văn bản Tây hành kiến văn kỷ lược hiện còn (TBHNH 2010)
VỀ TÌNH HÌNH CÁC VĂN BẢN TÂY HÀNH KIẾN VĂN KỶ LƯỢC HIỆN CÒN
NGUYỄN THỊ NGÂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tây hành kiến văn kỷ lược (THKVKL) là tác phẩm của Lý Văn Phức (1785 - 1849) viết trong chuyến đi hiệu lực ở Tiểu Tây Dương năm 1830, một tác phẩm ký độc đáo viết về Đông Nam Á những năm 30 của thế kỷ XIX. Bài viết này nhằm giới thiệu những văn bản THKVKL hiện còn, đồng thời xác định các phần nội dung của văn bản.
Về tình hình các văn bản THKVKL hiện còn:
Hiện nay tại các thư viện Hà Nội chúng tôi mới tìm thấy hai văn bản THKVKL của Lý Văn Phức: một bản lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.243 và một bản lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học, ký hiệu HV.505. Điều chúng tôi chú ý là, cả hai văn bản này đều chép tay.
Sơ bộ đối chiếu các phần nội dung của hai sách như sau:
Bản | bản A.243 | bản HV.505 |
phần 1 | THKVKL (tờ 1a-33b) | THKVKL (tờ 1a-21a) |
phần 2 | Tây hành thi lược (tờ 34a-39b) | Tây hành thi lược (tờ 21b-26b) |
phần 3 | Tây Dương ngữ (tờ 39b-45a) | Các bài chiếu, dụ, tế văn... ghi các niên đại Thiệu Trị và Đạo Quang (tờ 27a-35b) |
Phần 4 | Phụ lục tiểu truyện (tờ 45b-51a) | |
Phần 1 và phần 2 của hai sách tương tự nhau; phần 3 và phần 4 hoàn toàn khác nhau. Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu nội dung từng phần cũng như mối quan hệ giữa các phần của hai sách xem chúng là một văn bản hay tập hợp của nhiều văn bản
- Về nội dung phần 1: THKVKL
Phần 1 của hai sách đều có nhan đề là THKVKL. Đối chiếu các tiêu mục nội dung như sau:
TT | Các tiêu mục | Vị trí |
Bản A.243 | Bản HV.505 |
1 | Tên tác phẩm ở rốn sách | (có) | (không có) |
2 | Bài tựa | tờ 1a-1b | tờ 1a |
3 | Lạc khỏan | tờ 1b | tờ 1a |
4 | Mục lục | tờ 2a | tờ 1a-1b |
5 | Phụ lục | tờ 2a | tờ 1b |
6 | Tên tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược | tờ 3a | tờ 1b |
7 | 名號Danh hiệu (tên gọi) | tờ 3a-5a | tờ 1b-2b |
8 | 人物Nhân vật (con người) | tờ 5a-5b | tờ 2b-3a |
9 | 氣習Khí tập (tính khí, tập quán) | tờ 6a-8b | tờ 3a-5a |
10 | 衣服Y phục (trang phục) | tờ 8b-9b | tờ 5a-5b |
11 | 飲食Ẩm thực (ăn uống) | tờ 10a-11a | tờ 5b-6b |
12 | 文字Văn tự (chữ viết) | tờ 11a-12b | tờ 6b-7b |
13 | 禮俗Lễ tục (lễ nghi, phong tục) | tờ 12b-15b | tờ 7b-9a |
14 | 官事Quan sự (việc quan) | tờ 15b-23b | tờ 9a-14a |
15 | 時候Thời hậu (khí hậu) | tờ 23b-24b | tờ 14b-15a |
16 | 屋宇Ốc vũ (nhà cửa) | tờ 24b-25b | tờ 15a-15b |
17 | 車乘Xa thặng (xe cộ) | tờ 25b-26a | tờ 15b-16a |
18 | 貨幣Hoá tệ (tiền tệ) | tờ 26a-27b | tờ 16a-17a |
19 | 舟船Chu thuyền (tàu thuyền) | tờ 27b-29b | tờ 17a-18b |
20 | 地產Địa sản (sản vật địa phương) | tờ 29b-30a | tờ 18b |
21 | Tiêu đề Phong tục Mạnh Nha Lạp, Mô Đồ và Xà Bà | tờ 30b | tờ 19a |
22 | 孟牙啦Mạnh Nha Lạp | tờ 30b-32a | tờ 19a-20a |
23 | 謨Mô Đồ | tờ 32a-32b | tờ 20a-20b |
24 | 闍Xà Bà | tờ 32b-33b | tờ 20b-21a |
25 | Lời kết thúc văn bản | tờ 33b | tờ 21a |
Như vậy, các tiêu mục nội dung trong phần THKVKL của hai văn bản tương tự như nhau. Riêng bản A.243 có ghi tên tác phẩm rút gọn là Tây hành thi lược ở rốn sách.
- Về nội dung phần 2: Tây hành thi lược (THTL)
Xét mối quan hệ giữa THTL với THKVKL thông qua Tây hành thi kỷ (THTK) thì rõ ràng THTL/THTK và THKVKL là 2 trong số 5 tác phẩm Lý Văn Phức viết trong chuyến đi hiệu lực ở Tiểu Tây Dương năm 1830, như nguyên chú bài thơ 得旨由富安登陸程Đắc chỉ do Phú Yên đăng lục trình trong tập THTK: 得 旨 由 富 安 登陸 程§¾c chØ do Phó Yªn ®¨ng lôc tr×nh trong tËp THTK: 「是行余所錄筆有見聞錄、日程記、舟行賦、海行吟、仇大娘張文成演義等作」(Chuyến đi này tôi viết được các tập Kiến văn lục, Nhật trình ký, Chu hành phú, Hải hành ngâm và Cừu đại nương Trương Văn Thành diễn nghĩa), trong đó Hải hành ngâm chính là THTL hay THTK. Tuy vậy, đối chiếu các tiêu mục nội dung và nhan đề các bài thơ trong phần THTL của hai sách có sự giống nhau và khác biệt như sau:
TT | THTL A.243 | THTL VHv.505 |
1 | (không có) | Tên tác giả: 蘇川李文馥鄰芝Tô Xuyên Lý Văn Phức Lân Chi. Tên người bình: 署國子監祭酒唐安丹鑾范虎評Thự Quốc Tử Giám Tế tửu Đường An Đan Loan Phạm Hổ bình. |
2 | Tàn Lạp văn ân mệnh hỷ tác | Tàn Lạp văn ân mệnh hỷ tác |
3 | Phó Bộ lãnh bằng | Phó Bộ lãnh bằng |
4 | Nhân nhật đăng trình | Nhân nhật đăng trình |
5 | Để Đà Nẵng bạc thuyền thứ | Để Đà Nẵng thứ |
6 | Quan thuyền tự Đà Nẵng sử tiến tác | Thuyền tự Đà Nẵng sử tiến |
7 | Dao vọng Bàn Than sơn khẩu chiếm | Dao vọng Bàn Than sơn khẩu chiếm |
8 | Vọng Phu sơn | Vọng Phu sơn |
9 | Kê than ngộ bạo phong | Kê than ngộ bạo phong |
10 | Côn Lôn đảo | Côn Lôn đảo |
11 | Tướng Quân Mạo | Tướng Quân Mạo dữ |
12 | Chư Mẫu sơn | Chư Mẫu sơn |
13 | Quan Âm sơn | Quan Âm dữ |
14 | Mã Yên sơn | Mã Yên sơn |
15 | Để Tân Gia Ba | Để Tân Gia Ba |
16 | Xạ Tiễn sơn | Xạ Tiễn sơn |
17 | Lời kết thúc văn bản: THTL tất (hết) | Mã Lạp Giáp |
18 | | Tân Lang dữ |
19 | | Thực nhân quốc |
20 | | Tam nguyệt sơ tam nhật cảm tác |
21 | | Nhập Minh Ca cảng nội ngộ cuồng phong |
22 | | Để Minh Ca(1) |
Như vậy, THTL VHv.505 có ghi tên tác giả Lý Văn Phức và tên người bình là Phạm Hổ người Đan Loan Đường An (tức Phạm Đình Hổ) khi ấy giữ chức Quyền Tế tửu Quốc tử giám. Số bài thơ trong THTL VHv.505 nhiều hơn nhưng cũng chỉ đến bài Để Minh Ca còn đang dở dang. A.243 chỉ chép đến bài thơ Xạ Tiễn sơn rồi ghi là “Hết”. Bước đầu so sánh THTL VHv.505 và THTL A.243 với các bản THTL trong Thúy Kiều lục VHv.1397 và trong Mân hành thi thoại tập A.1990 thì thấy rằng, THTL A.243 là sự sao chép giản lược so với 3 bản kia. Còn THTL VHv.505 bị mất phần nội dung tiếp theo.
- Về các phần khác nhau của hai sách THKVKL A.243 và VHv.505
a. Phần Tây Dương ngữ trong sách THKVKL A.243:
Phần này dùng chữ Hán để ghi âm đọc từ tiếng Anh theo các môn loại như: Thiên địa loại (loại về trời đất), Nhân vật loại (loại về con người), Y thực loại (loại về y phục và ẩm thực), Khí số loại (loại về đồ dùng, dụng cụ và con số) và Thông dụng loại (loại từ ngữ thông dụng). Xét các mục từ của phần Tây Dương ngữ này ta thấy chúng rất liên quan với nội dung của THKVKL, hơn nữa có nhiều từ quen thuộc mà ta đã gặp trong THKVKL như “khai môn” (mở cửa), “bế môn” (đóng cửa), “thuế quán” (phòng thuế), “binh đầu” (chức Đại binh đầu)... Nhưng có những từ không hề liên quan với THKVKL như Áo Môn, Lã Tống, Ma Cao...; chưa kể các con số tiếng Anh được phiên âm hoàn toàn khác với THKVKL, như dùng “ngô nha” để phiên âm số 1 (one), dùng “la tô” để phiên âm số 2 (two), dùng “địa lợi thời” để phiên âm số ba (three)... So với THKVKL, dùng “hoàn” thêm bộ khẩu để phiên âm số 1 (one), dùng “tu” thêm bộ khẩu để phiên âm số 2 (two), dùng “di” thêm bộ khẩu để phiên âm số 3 (three)...
Như vậy chưa thể xác định Tây Dương ngữ có phải là một phần phụ tiếp theo của THKVKL không.
b. Phần Phụ lục tiểu truyện trong sách THKVKL A.243:
Phần này chép về Tiên Thành bát cảnh (tám cảnh đẹp của Tiên Thành(2)). Cũng chưa thể xác định được phần này có phải là một phần phụ của THKVKL không, bởi có thể Lý Văn Phức ghi chép những câu chuyện này khi gặp những người bạn Trung Hoa ở trấn Minh Ca năm 1830; hoặc ghi chép vào những năm 1833, 1834 hay 1835 khi ông đến tỉnh thành Quảng Đông; hay là ghi chép từ một quyển sách nào đó...
c. Phần các bài chiếu, sắc dụ, tế văn... ghi các niên hiệu Thiệu Trị và Đạo Quang trong sách THKVKL VHv.505:
Phần này rõ ràng không liên quan gì đến THKVKL nhưng có thể đây là những văn bản chiếu, sắc dụ, tế văn... của vua Thiệu Trị (VN) và vua Đạo Quang (nhà Thanh TQ) được Lý Văn Phức sao chép lại, chẳng hạn như sắc dụ ghi niên hiệu Đạo Quang thứ hai mươi mốt 1841 phong vương cho vua Thiệu Trị; hay như tế văn ghi niên hiệu Đạo Quang thứ 21 (1841) rất liên quan đến vị Chánh sứ Lý Văn Phức đi Yên Kinh báo tang vua Minh Mệnh năm Tân Sửu Thiệu Trị nguyên niên 1841...
Nhìn lại phần 1 của hai sách THKVKL A.243 và VHv.505 có lời kết thúc văn bản là Tây hành kiến văn kỷ lược tập tất (A.243) và Tây hành kiến văn kỷ lược tất (VHv.505), đều có nghĩa là Hết tập Tây hành kiến văn kỷ lược. Như vậy, có thể coi hai bản sách THKVKL A.243 và VHv.505 là tập hợp của những văn bản khác nhau, trong đó tên tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược được dùng làm nhan đề chung cho toàn sách.
Chú thích:
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.264-269)