39. Tư liệu Hán Nôm ở đền Trần Thương (Hà Nam) (TBHNH 1997)
TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở ĐỀN TRẦN THƯƠNG (HÀ NAM)
NGUYỄN HỮU MÙI
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân tỉnh Nam Hà là một trong những ngôi đền lớn, thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc có nhiều công lao lớn giúp nhà Trần đánh bại ba cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nguyên Mông ở thế kỷ 13. Hàng năm, hễ đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, nhân dân và khác thập phương từ mọi miền đất nước và khách nước ngoài đổ về đây, theo xu hướng ngày một đông, để thắp hương tưởng niệm về ông với tất cả tấm lòng thành kính nhất.
Trần Thương, xét về mặt chữ, có nghĩa là kho Trần, tức kho lương của nhà Trần. Xét trong chính sử, chỉ thấy đề cập đến một kho lương của nhà Trần ở thôn A Sào, trang An Hiệp, huyện Phụ Dực (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Nhưng xét về mặt địa lý tự nhiên, thì làng Trần Thương xưa ở ngay bờ sông Hồng, có nhiều gò đống và cây cối mọc um tùm, nay vẫn còn dấu tích. Làng cũng có con sông Long Xuyên chạy sát qua, thông xuống tận Bảo Lộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, vua tôi nhà Trần từng theo sông Hồng đi tắt qua sông Long Xuyên để về căn cứ Thiên Trường. Với một vị trí thuận lợi như vậy, việc xây dựng một kho lương tại đây là điều có thể tin được.
Căn cứ vào một câu đối sẽ đề cập dưới đây, cho biết đền được khởi dựng vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740) đời Lê Ý Tông. Còn đền như ta thấy hiện nay thì được xây dựng lại vào đầu thế kỷ này, tọa lạc trên một gò cao, theo thế “hình nhân bái tướng”, tức thế đất của một người con gái đang lễ lạy. Tư liệu Hán Nôm ở đây rất phong phú, gồm hoành phi, câu đối, biển gỗ khắc thơ, nhưng chưa được giới thiệu rộng rãi với bạn đọc. Vì lý do đó, dưới đây chúng tôi xin lần lượt phiên âm, dịch nghĩa, chú giải toàn bộ những tư liệu có tại ngôi đền này.
Ngoài cổng chính:
1. Anh hùng Nam quốc, Việt Đông, Bạch Đằng thiên binh đối thánh đế.
Nhĩ Hà tả, Long Xuyên hữu, thanh lưu vạn phái dụ văn lan.
Dịch nghĩa:
Anh hùng nước Nam, Việt Đông, Bạch Đằng nghìn binh giúp thánh đế.
Bên phải Nhị Hà, bên trái Long Xuyên, nước trong vạn phái dậy sóng văn.
2. Đối Việt nhất tâm, huyện nhật nguyệt.
Huân cao vạn cổ, ngật càn khôn.
Dịch nghĩa:
Giúp nước Việt một lòng, sáng như vầng nhật nguyệt.
Công ngời ngời vạn thuở, sừng sững sánh càn khôn.
3. Vạn Kiếp bí thư, vương tự thiện,
Lục Đầu chiến trận, thánh tri binh.
Dịch nghĩa:
Vạn Kiếp bí thư(1) do Vương tự soạn thảo,
Chiến trận Lục Đầu, đáng bậc thánh điều binh.
Cổng thứ hai:
1. Đặc địa khởi lâu đài, tiền diện giang lưu truyền thắng tích,
Kình thiên chung tú khí, hậu đầu lâm thụ tráng kỳ quan.
Dịch nghĩa:
Vũng đất linh thiêng dựng lâu đài, phía trước có song chảy, lưu truyền thắng tích.
Trời cao chung đúc khí lành, mặt sau cảnh quan tráng lệ, xum xuê rừng cây.
2. Uy chấn Hồ Nguyên, lưỡng độ vũ công thùy bất hủ,
Danh minh Việt sử, thiên thu thạch trụ ngưỡng di cao.
Dịch nghĩa:
Uy danh chấn động quân Hồ Nguyên, hai độ võ công truyền bất hủ,
Tên tuổi khắc thi vào sử Việt, nghìn thư trụ đá vẫn vươn cao.
Khu Phương đình:
Hoành phi:
1. Phong vân trường hộ. Nghĩa là: Gió mây che chở mãi.
2. Văn đức, võ công. Nghĩa là: Ngài tỏa ngời văn, đức, võ công.
Câu đối: 3.
Văn mô, Vũ lược, thiên sinh bang quốc cơ, quang phiến niệm tình trung dữ Vũ Mục, Phần Dương như nhất.
Hồ đái, giang khâm, hướng thiên thu linh tích, địa hữu nhân hình tọa đối Kiếp từ Bảo điện vi tam.
Dịch nghĩa:
Văn tốt, võ tài, trời sinh tướng giỏi, giúp nước, chỉ một niềm giữ lòng trung, cùng Vũ Mục(2) Phần Dương(3) là một.
Hồ là thắt lưng, sông hay là vạt áo, dấu thiêng ngàn thu, nơi đây tạo lập đền thờ, cùng đền Vạn Kiếp, điện Bảo Lộc là ba.
4. Linh miếu nguy nga, quyết tự Lê Vĩnh Hựu kỷ nguyên bách dư nẫm.
Sùng từ tu tập, chính đương Hoàng Bảo Đại ngự lịch thập bát niên.
Dịch nghĩa:
Miếu thiêng nguy nga, dựng từ kỷ nguyên Vĩnh Hựu(4), triều Lê, trải hơn trăm năm.
Tu sửa đền thờ, đúng vào năm Bảo Đại trùng tu, năm thứ mười tám(5).
Câu đầu ở gian tiên tế:
Hoàng triều Bảo Đại Quí Mùi niên, mạnh hạ, phúc sinh nhật lương thời trùng tu thụ trụ thượng lương đại cát.
Dịch nghĩa:
Bỏ cây nóc trùng tu vào giờ tốt, ngày tốt, tháng 4, năm Quí Mùi, niên hiệu Hoàng triều Bảo Đại (1943).
Đại tự trước cửa võng:
Hệ xuất thần minh. Nghĩa là: Thần là một trong các thần anh minh.
2. Đông A lệnh trụ. Nghĩa là: Con cháu tài giỏi của nhà Trần.
Câu đối : 3
Trần tích bổ phong bi, Hồng Lạc giang sơn minh hạp kiếm,
Thương yên hoài túy miếu, long thiết thủy nhiễm trú hành tinh.
Dịch nghĩa:
Sự tích Trần góp thêm công tích, non sông Hồng Lạc còn vang tiếng kiếm.
Khói lam phủ miếu thiêng, cọc sắt rồng san sát cắm lòng sông như hàng cờ.
4. Độc hứa tinh trung thanh khấu Bắc;
Vô cùng linh tích dực thiên Nam.
Dịch nghĩa:
Chỉ giữ một lòng trung, quét sạch giặc Bắc;
Dấu thiêng lưu mãi mãi, giúp dập trời Nam.
5. Công quán Trần triều, danh tại sử;
Ân đàm thương xích, phúc lưu nhân.
Dịch nghĩa:
Công đứng đầu triều Trần, danh còn ghi trong sử;
Ơn ban khắp già trẻ, phúc lưu giữ cho đời.
6. Xã tắc trung hưng, Việt sử ức niên sinh diện mục.
Thái Bình trứ lực, thiên Nam tòng cổ ngưỡng thần minh.
Dịch nghĩa:
Xã tắc trung hưng, sử nước Việt ức niên luôn rạng rõ;
Thái bình gắng sức, trời Nam muôn thủa thờ kính thần minh.
7. Bạch khí tảo không, truyền bảo kiếm;
Thanh tiên phi hóa, thặng linh phù.
Dịch nghĩa:
Khí trắng quét song, truyền kiếm báu(5)
Tiên xanh bay hóa, để bùa thiêng(6).
8. Lưỡng độ phá Nguyên sư, hiển hách hà niên dương thánh vũ;
Trùng hưng hồi thái vận, trương hoàng thử nhật vọng thần công.
Dịch nghĩa:
Hai lần phá quân Nguyên, hiển hách năm nào, lừng lẫy võ công của thánh.
Trùng hưng trở lại vận thái, rạng rỡ ngày nay ngưỡng vọng của thần.
9. Quốc thị thần trung, gia tử hiếu;
Thiên phương hữu Việt, địa vô Hồ.
Dịch nghĩa:
Với nước là trung thần, với nhà là con hiếu;
Trời có nước Việt, đất không có rợ Hồ.
Giải vũ:
Đại tự:
1. Ư tư hiển tích. Nghĩa là: Dấu vết [ngài] hiển hách tại nơi đây.
2. Dực kỳ lâm, Nghĩa là: Ngài giúp dân chúng nơi đây.
3. Thành khả cách. Nghĩa là: Lòng thành [sẽ] được chứng giám.
Câu đối: 4.
Công nhĩ vong tư, nghĩa khí y y hồ thủy nguyệt;
Trung di ư hiếu, linh thanh ẩn ẩn hải đằng ba.
Dịch nghĩa:
Lo việc nước, quên thù nhà, nghĩa khí ngời ngời như từng soi hồ nước;
Chữ trung rộng hơn chữ hiếu, tiếng tăm lững lẫy tựa sóng cả biển khơi.
5. Uyển nhiên phượng vũ, ngư trào, tứ cố giang sơn chung vượng khí;
Trác nhĩ huy phi, điểu cách, thiên thu đống vũ ngật sùng từ.
Dịch nghĩa:
Trang nghiêm phượng múa, cá chầu, bốn phía giang sơn chung khí tốt.
Sừng sững chim sà, điểu lượn, ngàn năm cột cái vững đền thiêng.
6. U tán ư thần, phú quí thọ khang hoằng ngũ phúc,
Hưởng tự vu miếu, huân cao thê thảng vĩnh thiên thu.
Dịch nghĩa:
Ngầm giúp nhờ thần, phú quý thọ khang ninh đủ năm phúc;
Hưởng thờ ở miếu, khói hương nghi ngút, mãi mãi nghìn thu.
Cung Đệ nhị:
Câu đối:
Phương lưu trung hiếu, thần tiên dịch dị, phong chương hoa quốc điển;
Chí tại giang sơn, tông xã thiên thu, chính khí tác quan hà.
Dịch nghĩa:
Lưu tiếng thơm trung hiếu, thần tiên hiển hách, sắc phong vua ban ngồi phép nướ;
Chí gửi tại giang sơn, tông xã nghìn thu, khí thiêng chung đúc tại Sơn hà.
2. Hà thời mao việt xuất Đằng giang, phù Trần thị, phá Nguyên binh, hách hách phương danh truyền quốc sử;
Thử địa sơn hà chung tú khí, Đông Lạc Phong Nam Bảo Lộc y y linh tích trấn viêm bang.
Dịch nghĩa:
Năm nào cờ giáo trên sông Bạch Đằng, giúp nhà Trần, phá quân Nguyên, hiển hách tiếng thơm ghi trong quốc sử.
Đất này sông núi khí thiêng chung đúc, Đông Lạc Phong Nam Bảo Lộc, ngời ngời linh tích trấn giữ trời Nam.
3. Giao Thủy cổ cung hàn, nguyên tự kỳ kim suy Vạn Kiếp;
Đằng giang tiền sự lãnh, chiến công chung cổ ký Trùng hưng.
Dịch nghĩa:
Cố cung Giao Thủy nguội tanh, việc thờ tự đến nay đều qui về Vạn Kiếp;
Trận Bạch Đằng năm xưa đã lắng, chiến công lưu mãi, ghi buổi Trùng hưng.
Câu đối Nôm:
4. Nhà nguyên sẵn nếp hiếu trung, bia Thượng phụ, gậy Quốc công, gây nên danh tiếng họ Trần, công đức treo đầy gương sử Việt;
Nước há quân hờn nô lệ, sóng Bạch Đằng, mây Vạn Kiếp, quét sạch tanh hôi nòi Thát, non sông kê lại góc trời Nam.
Câu đầu:
5. Hoàng triều Bảo Đại thập bát niên, mạnh hạ nguyệt cát nhật lương thời thượng lương đại cát xương.
Dịch nghĩa:
Bỏ cây nóc vào giờ tốt, ngày tốt, tháng tốt (tháng 4) niên hiệu Hoàng triều Bảo Đại 18 (1943).
Những bài thơ ở Bái đường
1. Phiên âm:
Mộng hiệp thanh y bất ngẫu sinh,
Vạn bang tái tạo đại huân danh.
Hành binh kỳ sách thư do tai,
Sát Thát dư uy kiếm thượng minh.
Cung điện nguy nga hình thế tráng,
Giang khê trào úng thủy ba bình.
Tý dân đức trạch kim như tạc,
Hồng Lạc tôn tằng lại cộng vinh.
(Bảo Đại Nhâm Ngọ hạ. Hà Nam Bố chính, Cử nhân Nguyễn đại nhân cung đề).
Dịch nghĩa:
Mộng thấy người mặc áo xanh, chẳng phải do ngẫu nhiên sinh ra,
Muôn vùng tái tạo đại công danh.
Sách lược điều khiển quân kỳ tài còn ghi trong sử sách,
Giết quân Mông Cổ, uy binh có thừa, kiếm trong hộp còn kêu.
Cung điện nguy nga hình thế tráng lệ,
Sông ngài chầu về, nước dòng phẳng lặng.
Đức trạch giúp dân, nay cũng như xưa,
Con cháu Hồng Lạc cùng nhau chia sẽ niềm vinh quang đó.
(Mùa hạ, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Bảo Đại, 1942.
Cử nhân họ Nguyễn, giữ chức Bố chính tỉnh Hà Nam đề tặng).
2. Phiên âm:
Anh khí chung Lô, Tản
Đông A đệ nhất nhân
Bình Nguyên công tại quốc
Trừ Phạm phúc lưu dân
Nhất thế trung vô nhị
Thiên thu thánh diệc thần
Trần Thương dư phúc địa
Hoa thảo tứ thời xuân
(Song Nam, Yên Đình, Ất Tiến sĩ Lâm đại
nhân cung soạn, đồng dân bái tiến.
Bảo Đại Giáp Thân thu).
Dịch nghĩa:
Anh khí chung đúc bởi sông Lô núi Tản,
Nhà Trần có một người nổi tiếng nhất.
Đánh quân Nguyên, lưu chiến công cho nước,
Trừ Phạm Nhan, phúc gửi lại cho dân.
Một đời giữ trọn lòng trung, không có người thứ hai,
Nghìn thu bậc thánh cũng như bậc thần.
Đền Trần Thương là nơi đất phúc dồi dào,
Bốn mùa cây cỏ luôn luôn xanh tốt.
(Phó bảng Lâu Hữu Lập, hiệu Yên Đình, người xã Đại An,
tỉnh Nam Định, soạn, cùng mọi người dân cung tiến. Tạo
mùa thu năm Giáp Thân, niên hiệu Bảo Đại – 1944).
Ngoài những tư liệu nêu trên đây, hiện trong kho thư tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được thần tích và sắc phong của thôn Trần Thương: Thần tích có tiêu đề Vạn Kiếp linh từ bản truyền dẫn, gồm 43 tờ, do Đệ tử Trần Kiên sao vào năm Tự Đức thứ 16 (1863) (Aea13/29). Nội dung là những sự kiện ghi trong quốc sử nên chúng tôi không đề cập đến. Còn 6 đạo sắc phong, thì 4 đạo đầu phong cho Trần Hưng Đạo và phu nhân vào hai năm Cảnh Hưng 9 (1743) và Cảnh Hưng 28 (1767). Hai đạo sau phong riêng cho ông vào cùng năm Cảnh Hưng 44 (1783) (Ada13/22).
MỘT VÀI NHẬN XÉT
Như chúng ta biết, (đối với) những người có công với dân, với nước, đặc biệt là các vị anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thương Kiệt v.v.. luôn luôn là đối tượng thờ tự của người Việt. Song, không ai trong số họ được nhiều địa phương cùng thờ như Trần Hưng Đạo. Cho đến cuối thời Lê, ở nước ta mới chỉ có 20 xã thôn phụng thờ (Nam Việt thần kỳ hội lục, A.761, tờ 18a – 20a). Nhưng theo thống kê vào tháng 9, năm 1974, chỉ riêng ở tỉnh Nam Hà (nay là hai tỉnh Hà Nam và Nam Định) đã có tới 224 nơi thờ(8) với khoảng 200 làng xã, tức số làng xã phụng thờ Trần Hưng Đạo ở thời Nguyễn đã tăng gấp 10 lần so với thời Lê. Đó là một hiện tượng độc đáo, cần được nghiên cứu.
Qua đây cũng giúp thêm chúng ta hiểu thêm về vấn đề văn bản học. Chẳng hạn như thần tích của thôn Trần Thương vốn được sao ở đền Vạn Kiếp vào năm Tự Đức 16 (1863), mà đền Vạn Kiếp lại sao lại của đền Ngọc Sơn (Hà Nội) vào năm Tự Đức 10 (1857) (Aea13/29, tờ 5a). Điều đó cho thấy, từ một văn bản viết về một vị thần, người ta có thể sao lục, nhân bản để cung cấp cho nhiều điểm cùng thờ. Mặt khác, việc thờ tự không nhất thiết phải có văn bản thần tích. Người ta có thể “thờ vọng”, hoặc “rước chân nhang”, miễn là trong số những nơi thờ đó, có một nơi được gọi là “đền chính”. Đền Trần Thương đề cập đến trong bài viết này là một ví dụ tiêu biểu*.
Chú thích:
1. Tên đầy đủ là Vạn Kiếp tông bí truyền thư, do ông soạn, nay đã mất.
2. Vũ Mục: Tên thụy vua Hiến Tông ban cho Nhạc Phi trung thần.
3. Phần Dương: Tên địa danh đời Hán, nơi vua Hán phong ấp cho bậc tôi trung.
4. Vĩnh Hựu: tức niên hiệu vua Lê Ý Tông, bắt đầu từ năm 1735 đến năm 1740.
5. Năm thứ 18: tức niên hiệu Bảo Đại thứ 18 (1943)
6, 7. Theo Thanh tiên đồng tử giáng đản sự tích (Thần tích xã Trần Thương Aea13/29, tờ 25a) dẫn lại Việt điện u linh, nói rằng: Vào năm đầu của triều Trần ở địa phận sao Dực, sao Chẩn phía Đông Nam thường có một luồng khí trắng che phủ bầu không. Tản Viên sơn tôn thần thấy thế, biết sắp có nạn ngoại xâm, liền làm tấu tâu thiên đình. Thượng đế ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi tuyên ngọc dụ rằng: Tả hữu ai vì trẫm quét sạch luồng khí trắng ấy thì nhận lấy kiếm Phi thiên thần cùng cờ, ấn và tam bảo (từ, khâm, liên) của Lão Tử, ngũ tài (trí, nhân, dũng, trung tín) của Thái công để giáng sinh vào nhà thân vuơng, làm vị tướng bậc nhất trung hưng. Về sau khi qui hóa, làm danh thần cai trị nhân gian, con cháu đời đời được ghi vào sổ phúc. Lúc đó vị Thanh Tiên đồng tử vâng mệnh ra đi. Thượng đế ban cho chiếc kiếm thần. Tích này còn được chép ở một số sách khác.
8. Xem bài: Một số di tích lịch sử thờ Trần Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà của Nguyễn Xuân Năm, in trong kỷ yếu Thời Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà. Sở VHTT Nam Hà, 1996. Tr.236-255.
(*) Bài viết này là kết quả chuyến công tác tại đền Trần Thương, vào tháng 8 năm 1997. Những tư liệu trên đây do tác giả dịch, PTS Phạm Văn Thắm hiệu đính.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.391-404)