42. Phát hiện tấm bia sắc phong vương cho vua Quang Trung (TBHN 2008)
PHÁT HIỆN TẤM BIA SẮC PHONG VƯƠNG CHO
VUA QUANG TRUNG
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Vừa rồi trong đợt đi sưu tầm năm 2008, chúng tôi có ghé qua tỉnh Hà Nam và đã phát hiện 1 tấm bia ở tại nhà ông Oanh, xã Thanh Liêm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tấm bia này đã vỡ ra làm 4, chữ mờ, kích thước 0,9cm x 0,7cm, xung quanh trang trí hoa lá uốn lượn, trán bia có rồng chầu mặt trời, đế bia không trang trí hoa văn. Nhưng may thay chủ nhà vẫn còn giữ được một bản dập tay bằng mực nho từ đời trước để lại nên chữ còn nguyên vẹn khoảng hơn 300 chữ. Nơi đây khi vua Quang Trung kéo quân ra Bắc Hà đã đi qua nơi này, nhận thấy đây là tài liệu quý xin giới thiệu để các bạn tiện tham khảo.
Xin nói sơ qua về lịch sử tờ sắc phong này, khi vua Cao Tông sau khi phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương liền truyền chỉ cho Phúc Khang An cử quan lại người Mãn Châu sang nước ta để làm lễ. Tuy nhiên tỉnh Quảng Tây không có quan lại người Mẫn Châu nên phải điều động Thành Lâm (成林) là Lễ bộ Viên ngoại lúc đó đang đi tuần duyên hải Quảng Đông sang Thăng Long. Thành Lâm phụng mệnh khởi trình từ Quảng Châu ngày mồng một tháng tám, ngày 28 đến trấn Nam Quan. Vua Quang Trung lúc đó đang ở Nghệ An, cũng chưa lên đường ra kinh đô tiếp sứ nên Thành Lâm phải ở lại cửa quan để chờ.
Ngày 12 tháng 9, Vua Quang Trung sai Đề đốc Lê Xuân Tài (黎春材) đem 1000 phu dịch và 100 con ngựa cùng 500 vệ sĩ lên Trần Nam Quan nghinh đón sắc dụ và ngự thi của vua nhà Thanh, Lê Xuân Tài tới Nam Quan, qua ải vào Chiêu Đức Đài hành lễ tại long đình tiếp chiếu. Ngày 13 tháng 9, sứ thần nhà Thanh cùng phái đoàn nước Nam đưa sắc chiếu về Thăng Long, sử Tàu chép là quan ta bày nghi trượng đến 7, 8 dặm, đi đến đâu dân chúng cờ quạt đứng dọc đường reo hò vui vẻ.
Ngày 22 tháng 9, phái đoàn về đến Gia Quất (嘉橘), còn cách kinh thành chừng 6, 7 dặm, vua Quang Trung sai con thứ là Nguyễn Quang Thùy cùng Ngô Văn Sở, quan văn võ hơn 100 người ra đón. Thành Lâm vốn định ngày 24 tháng 9 sẽ chủ lễ phong vương, thụ sắc nhưng vua Quang Trung ngày 28 tháng 8 đã từ Nghệ An đi ra, đến huyện Đông Thành thì bị cảm phải nghỉ lại dưỡng bệnh, thành thử Thành Lâm đành phải chờ ở Gia Quất. Theo tờ bẩm của Thành Lâm thì "dân nước đó xa gần đều đến trước công quán để xem long đình, rất nhiều người lạy lục hò reo. Lại có hai viên mục tên là Đinh Phụ Tể, Cấn Danh Văn, tuổi đã ngoài 80, khi nghe tin sắc mệnh đến nơi, cũng không quản đường xa mấy trăm dặm đi tới, khấu đầu chúc mừng. Còn trấn mục Ngô Văn Sở, tức Ngô Sơ, và Ngô Thời Nhậm (Nhiệm) thì sớm tối đều đến thăm, hết sức ân cần". Cũng theo tài liệu của nhà Thanh, đêm hôm 14 tháng 10, vua Quang Trung đến Thăng Long, ngày hôm sau Thành Lâm tuyên chỉ phong làm An Nam quốc vương. Sắc phong này đề ngày 22 tháng 6 năm Kỷ Dậu, do Quân Cơ đại thần thảo ra, trình lên ngự lãm rồi, sau đó do thư ký trong nội các viết bằng hai thứ chữ Mãn - Hán, đóng ngự bảo (dấu của nhà vua) nguyên văn như sau:
朕惟王化遐覃,伐罪因而舍服,侯封恪守,事大所以畏天,鑒誠悃於荒陬,貰其既往,沛恩膏於屬國,嘉與維新,賁玆寵命之頒,以訓行之率。維安南地居炎徼,開十三道之封彊,而黎氏臣事天朝,修百餘年之職貢,每趨王會,舊附方輿。自遭難以流離,遂式微而控愬,方謂興師復國,字小堪與圖存,何期棄印委城,積弱仍歸失守,殆天心厭其薄德,致世祚訖於終淪。
爾阮光平起自西山,界斯南服,向匪君臣之分,寢成婚媾之讐,釁起交訌,情殊負固,抗顏行於倉猝,雖無心而難掩前愆,悔罪疚以湔除。願革面而自深痛艾,表箋籲切,使先猶子以抒忱,琛獻憬來,躬與明年之祝嘏,自非仰邀封爵,榮藉龍光,曷由下蒞臣氓,妥玆鳩集。
凡此陳詞以實,胥徵効順彌虔,况王者無分民,詎在版章其土宇,而生人有司牧,是宜輯寧爾邦家,爰布寵綏,俾憑鎮撫,今封爾為安南國王,錫之新印。
於戲!
有興有廢,天子唯順天而行,無貳無虞,國人咸舉國以聽,王其懋將丹款,肅矢冰競,固圉以長其子孫,勿使偪滋他族,悉心以勤於夙夜,罔令逸欲有邦,益敬奉夫明威,庶永承乎渥典,欽哉,毋替朕命。
Phiên âm:
Trẫm duy vương hóa hà đàm, phạt tội nhân nhi xá phục, hầu phong khác thủ, sự đại sở dĩ úy thiên, giám thành khổn ư hoang tưu, thế kỳ ký vãng, bái ân cao ư thuộc quốc, gia dữ duy tân, bí tư sủng mệnh chi ban, dĩ huấn hành chi suất. Duy An Nam địa cư viêm kiếu, khai thập tam đạo chi phong cương, nhi Lê thị thần sự thiên triều, tu bách dư niên chi chức cống, mỗi xu vương hội, cựu phụ phương dư. Tự tao nạn dĩ lưu ly, toại thức vi nhi khống tố, phương vị hưng sư phục quốc, tự tiểu kham dữ đồ tồn, hà kỳ khí ấn ủy thành, tích nhược nhưng qui thất thủ, đãi thiên tâm yếm kỳ bạc đức, chí thế tộ cật ư chung luân.
Nhĩ Nguyễn Quang Bình khởi tự Tây Sơn, giới tư nam phục, hướng phỉ quân thần chi phân, tẩm thành hôn cấu chi thù, hấn khởi giao hồng, tình thù phụ cố, kháng nhan hàng ư thương thốt, tuy vô tâm nhi nan yểm tiền khiên, hối tội cứu dĩ tiền trừ. Nguyện cách diện nhi tự thâm thống ngải, biểu tiên dụ thiết, sử tiên do tử dĩ trữ thầm, sâm hiến cảnh lai, cung dữ minh niên chi chúc hỗ, tự phi ngưỡng yêu phong tước, vinh tạ long quang, hạt do hạ lị thần manh, thỏa tư cưu tập.
Phàm thử trần tự dĩ thực, tư trưng hiệu thuận di kiền, huống vương giả vô phận dân, cư tại bản chương kỳ thổ vũ, nhi sinh nhân hữu ti mục thị nghi tập minh nhĩ bang gia, viên bố sủng tuy, tỉ bằng trấn vũ, kim phong nhĩ vi An Nam quốc vương, tích chi tân ấn.
Ô hô!
Hữu hưng hữu phế, thiên tử duy thuận thiên nhi hành, vô nhị vô ngu, quốc nhân hàm cử quốc dĩ thính, vương kỳ mậu tương đan khoản, túc thỉ băng cạnh, cố ngữ dĩ trường kỳ tủ tôn, vật sử bức tư tha tộc, tất tâm dĩ cần ư túc dạ, võng lệnh dật dục hữu bang, ích kính phụng phù minh uy, thứ vĩnh thừa hồ ác điển.
Khâm tai, vô thế trẫm mệnh.
Cao Tông hoàng đế Kỷ Dậu niên, lục nguyệt, nhị thập nhị nhật.
Dịch nghĩa:
Trẫm vốn chỉ dùng vương hóa để trải rộng đến tận phương xa, phạt kẻ có tội nhưng vẫn tha kẻ quay về, phong cho chư hầu biết kính cẩn giữ lễ, coi việc lớn là sợ trời, xét lòng thành của kẻ nơi hoang dã, bỏ qua những chuyện cũ, đem ân ban bố cho thuộc quốc, tán thành việc đổi mới, (nên) thương mà giao việc xuống, thuận mà hết sức làm theo.
Đất An Nam ở nơi nóng nực phương nam, mở mang cương vực mười ba đạo, họ Lê là bề tôi thờ thiên triều, giữ việc cống lễ hơn trăm năm qua, tuân theo vương hóa, làm chủ một cõi. Đến khi gặp nạn ly tán, chạy đến kêu xin, (thiên triều) đã hưng sư lấy lại nước tướng mong giữ được cơ đồ, nào hay vứt ấn bỏ thành, rốt cuộc rồi cũng trắng tay, hẳn là trời cũng ghét bỏ kẻ đức mỏng, không cho giữ quyền thừa kế nên rồi cũng để mất.
Ngươi Nguyễn Quang Bình khởi từ đất Tây Sơn, vốn dĩ sống ở phương nam, đối với kẻ kia không có nghĩa quân thần, chỉ có tình hôn nhân, dần dà hai bên gây hấn, tình nghĩa đứt rồi, lúc hoảng hốt ra tay chống lại, dẫu không phải là cố ý nhưng tội lỗi không dễ xóa nhòa. Nay biết thống hối, dâng tờ biểu thiết tha, sai cháu làm sứ thần từ xa xôi sang trình bày, đem cống hiến đồ quí báu, (còn) bản thân sang năm sẽ qua chúc thọ, chẳng phải vì mong được tước để vinh quang, mà để cho thần tử đang ngơ ngác, lang thang có nơi tụ tập yên ổn.
Những lời chân tình ấy là thành thực, cung kính mà quy thuận, huống chi vương đạo không phân biệt ai, há lại coi chỗ này hơn chỗ khác, người sống phải có kẻ chăn dắt, kẻ hòa hợp cần được yên ổn gia đình, người nghèo được nâng đỡ, kẻ kém được vỗ về, nay phong cho ngươi làm An Nam quốc vương, ban cho ấn mới.
Than ôi!
Đời có lúc hưng lúc phế, thiên tử cứ theo mệnh trời mà làm, không ngờ vực, không sợ hãi, người trong nước tất cả đều nghe theo, để cho vương đạo tràn lan khắp cõi, truyền cho đến cháu con, không để vào tay họ khác, hết lòng hết dạ chăm chỉ sớm hôm, không trễ nải việc nước, luôn luôn kính trọng oai trời, để được thấm nhuần ơn mưa móc mãi mãi.
Kính thay! Chớ bỏ qua lệnh của trẫm.
Vua Cao Tông năm Kỷ Dậu, ngày 22 tháng 6.
Tài liệu tham khảo:
1. Thanh Cao Tông Thuần Hoàng Đế thực lục, quyển 1333, tr.19.
2. Ngô Thời Chí: Hoàng Lê nhất thống chí, Saigon: Phong trào Văn hóa, tái bản 1969, tr.316.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1997.
4. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, bản dịch Hà Nội, tập XVI, tr.292./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.517-522