52. Bài phú kể chuyện ông Vô Danh (TBHNH 2005)
BÀI PHÚ KỂ CHUYỆN ÔNG VÔ DANH
NGUYỄN THỊ NGÂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong tác phẩm Tây hành thi kỷ của Lý Văn Phức(1) có bài phú trường thiên bát vận với lời tựa đặt trước nhan đề Nghĩ Vô danh công tự thuật phú (Soạn phú tự thuật của ông Vô danh). Bài viết này xin được bắt đầu từ lời tựa.
"Không biết ông Vô danh là ai ? cũng quên cả họ tên ông ấy, chỉ có tuổi Giáp Tý và lý lịch nửa đời người của ông thì ghi chép đầy đủ lắm. Tôi chưa từng đem chuyện ông ấy nói với ai cả, vả lại cũng lười tự mình ghi chép. Vừa may ông ấy đến kể cho tôi nghe, tôi bèn thay ông làm bài phú tự thuật. Có người hỏi tôi rằng: Ông Vô danh xưa đã có người dựng chuyện rồi, nhưng làm phú kể chuyện về ông thì chưa thấy. Nay ông lại theo đó mà làm phú thì hóa ra là có hai ông Vô danh sao? Tôi đáp rằng: Vâng ! vâng ! cũng không phải đâu, xưa truyện về một ông Vô danh, nay phú về một ông Vô danh, cho là khác thì là khác; mà cho là giống thì không giống đâu. Hoặc một mà hai, hoặc hai mà một. Ông này cũng bằng lòng gọi ông ấy là trâu là ngựa gì gì cũng được. Có ai đọc bài phú này, không lấy từ để làm hại ý là được rồi. Bài phú kể rằng:…".
Trước khi tìm hiểu nội dung của bài phú này, ta nên xem xét về văn bản bài phú cũng như vị trí của bài phú trong tác phẩm Tây hành thi kỷ.
Ba văn bản chữ Hán hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có bài Nghĩ Vô danh công tự thuật phú là:
1. Bản VHc.01364. Tây hành thi kỷ chụp lại từ nguyên bản A.2550
2. VHc.01344. Sứ trình chí lược thảo chụp lại từ nguyên bản A.2150
3. VHc.02602. Lý Khắc Trai Việt hành thi chụp lại từ nguyên bản VHv.184
Trong số 3 văn bản trên, mặc dù đều là những tập hợp thơ văn của tác giả Lý Văn Phức sáng tác vào những thời điểm khác nhau, ta vẫn nhận thấy bài Nghĩ Vô danh công tự thuật phú luôn được đặt ở cuối của tập thơ Tây hành thi kỷ. Vấn đề đặt ra là Nghĩ Vô danh công tự thuật phú có phải là thành phần hữu cơ của tập thơ Tây hành thi kỷ ?
Xét lời dẫn tập thơ Tây hành thi kỷ: "Phía tây đại dương có nước Anh Cát Lợi(2). Người nước ấy mắt xanh, tóc lại đỏ hoe, cũng gọi là nước Hồng Mao (nước Tóc Đỏ). Nước họ hùng cường rộng lớn. Trấn Minh Ca(3) thuộc quyền sở hạt của nước ấy là một nơi đô hội lớn, người ta gọi là Tiểu Tây Dương(4). Xét độ chu thiên(5) về đường biển, xứ ấy cách cửa biển Đà Nẵng Quảng Nam nước ta là 47 độ, có lẽ từ xưa chưa từng thông thương với nhau. Mùa xuân năm Canh Dần niên hiệu Minh Mệnh (1830) vâng mệnh tuyển lựa nhân viên, cưỡi hai chiếc thuyền bọc đồng lớn là Phấn Bằng và Định Dương, trên có nhiều lính thủy theo đường biển để tập luyện, nhân đó được xem phong cảnh trên đường đi. Tôi cưỡi trên chiếc thuyền Phấn Bằng, khi ấy tôi vừa mới bị khiển trách... Ngày lành tháng đông năm Minh Mệnh 11 (1830)".
Xét nguyên chú bài Nghĩ Vô danh công tự thuật phú: "Tháng 2 năm Tân Mão (1831) lại cưỡi thuyền Bình Hải đi Tân Gia Ba(6), tháng tư trở về chỗ ở làm bài phú này".
Như thế có thể kết luận là bài phú được tác giả viết sau chuyến đi Singapore năm 1831; còn tập thơ Tây hành thi kỷ được tác giả viết sau chuyến đi Bengal(7) năm 1830, song cả hai chuyến đi đều đến vùng biển phía tây nước ta(8) nên tác giả xếp bài phú vào sau tập thơ. Điều này cũng góp phần đính chính những ngộ nhận trước đây cho rằng tác giả Lý Văn Phức đi hiệu lực ở Singapore năm 1830.
Bài phú trường thiên làm theo thể văn biền luật. Ngoài liên mở đầu bài phú và sáu liên kết thúc bài phú, 35 thiên thuật lại lý lịch nửa đời người của tác giả - từ lúc mới sinh ra cho đến sau chuyến đi hiệu lực lần thứ hai ở Singapore trở về, lúc này tác giả đã 46 tuổi:
Sinh ra năm Ất Tỵ (1785), vào cái năm mà tác giả gọi là "Đỉnh cách chi niên" (năm có sự thay đổi lớn về triều đại)(9) nhà Lê mất, nhà Tây Sơn lên thay (1789). Thời kỳ này xã hội Việt Nam vô cùng loạn lạc - lụt lội, mất mùa, đói kém triền miên cộng với chiến tranh tàn phá khiến cho đời sống nhân dân cơ cực lầm than. Tác giả viết về tình cảnh gia đình mình lúc ấy: "Mẫu tòng mật địa tỵ binh, trĩ xỉ hà kham kinh chiến đấu. Phụ hướng trường đồ mịch mễ, bệnh khu hữu hạnh bảo sinh toàn" (Mẹ đem theo đến nơi bí mật lánh binh đao, răng sữa trẻ thơ sao trải qua trận chiến. Cha lên đường xa tìm gạo, tấm thân ốm yếu may mà được bảo toàn).
Tác giả kể về thời thơ ấu của mình, từ nhỏ đã được hưởng một nền giáo dưỡng thi lễ của gia đình; Hơn nữa, vừa siêng năng chăm chỉ học hành, lại tràn đầy niềm tin và nghị lực vào tương lai nên tác giả đã sớm nổi bật lên trong đám bạn bè: "Văn trường học quán ưu du, sài bối tiễn thanh danh chi bác. Thuộc Thái tượng chi bất thời, cái Kiền long chi vị dược". (Nhàn du tự đắc nơi trường văn nhà học, bạn bè đều ái mộ tiếng tăm lừng lẫy. Chưa gặp thời quẻ Thái(10), đó là con rồng còn chưa nhảy(11)). Rồi qua một kỳ thi, tác giả được chọn vào nhà quốc học:" Nguyệt đán hội phùng trường tiểu thí , hạnh đăng quốc học chi đường" (Gặp hội nguyệt đán(12), qua kỳ thi nhỏ may được vào nhà quốc học). Nhưng vì cảnh nhà khó khăn, năm Nhâm Tuất (1802), tác giả đi dạy học kiếm ăn ở vùng Sơn Tây. Việc học hành thi cử bị cản trở, mãi đến khoa Đinh Mão (1807) khi đã 23 tuổi, tác giả mới dự thi hương nhưng chỉ đỗ Tam trường: "Bích khuê huyến thái, Đinh Mão khai khoa" (Ngọc bích, sao Khuê(13) rạng rỡ. Năm Đinh Mão khai khoa).
Ngoài nghề dạy học, ông còn phải làm nghề tướng số, bói toán, hết miền Cổ Nhuế lại phố phường Thăng Long - vừa lo phụng dưỡng mẹ cha, vừa lo dùi mài kinh sử: "Chiêm tất lân cao cữu chi cùng, ngọa tọa khởi cư cánh vô noãn tịch. Sự dục phụ quế châu chi lụy, lí số bốc phệ tạm tác sinh nhai" (Đọc sách ngâm tụng(14), thương cho cái tột cùng của việc đốt dầu mỡ, hóng ánh mặt trời(15); nằm ngồi đi đứng chẳng đâu ấm chỗ. Phụng sự nuôi dưỡng, mang cái luỵ quế châu(16); đủ nghề lý số bói toán tạm kế sinh nhai).
Đến khoa thi hương Kỷ Mão (1819), Lý Văn Phức đỗ Cử nhân khi ông 34 tuổi. Niềm vui sướng anh em cùng đăng khoa như hóa vào cảnh vật: "Hoàng hòe thôi sĩ tử chi mang. Khô đàm ứng tái sinh chi triệu" (Hoa hòe vàng thôi thúc sĩ tử rộn ràng. Cây sung héo ứng điềm tái sinh chi triệu).
Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), Lý Văn Phức được bổ làm quan trong kinh, chức Hàn lâm biên tu, làm việc trong sử quán. Ân khoa năm Tân Tỵ Minh Mệnh thứ hai (1821), được cử là quan phúc khảo. Đầu năm Giáp Thân (1824) cha mất. Sau đó Lý Văn Phức xin về cư tang cha hai tháng rồi lại vào kinh nhận việc.
Với tác giả Lý Văn Phức, chữ Hiếu là "đất nghĩa giời kinh", nhưng chữ Trung ở ông cũng là tôn Quân sùng Thánh "Đãn hiệu nhân thần chi chức, cảm ngôn nhân tử chi tình" (Chỉ dám gắng gỏi chức phận làm tôi, dám đâu nói đến tình phận kẻ làm con).
Trải thời gian 6, 7 năm làm việc tại bộ Lễ, Lý Văn Phức được siêu thăng dần lên Lễ bộ Thiêm sự(17), Hiệp lý Quảng Nam trấn vụ(18), Kiêm quản(19) Lục kiên(20), tham hiệp Quảng Nam doanh(21); rồi lên đến Hộ bộ Hữu thị lang(22), thự Hữu tham tri(23). Tác giả hồi tưởng lại cái thời huy hoàng ấy: "Vũ đạo đình ban, xu thương cấm ngự. Lũ mông Vương phất chi bao dương, lũy hà Thượng phương chi tứ dữ" (Nhảy múa nơi triều đình, thung thăng nơi cung cấm. Nhiều lần được ơn chiếu thư của nhà vua ban khen, mấy lần đội ơn ban tặng thanh kiếm Thượng phương).
Khoa thi hương năm Mậu tý Minh Mệnh thứ 9 (1828), quan Hữu tham tri bộ Hộ Lý Văn Phức được cử làm chủ khảo trường thi Gia Định: "Thí trường phụng biển Khâm sai, văn hành xứng nhất thành chi sĩ tử" (Trường thi vâng phụng biển Khâm sai, cán cân văn chương xứng với sĩ tử một thành).
Ở vào địa vị ngôi cao chức trọng, ông quan họ Lý vẫn luôn giữ đức khiêm cung, giữ lòng trung tín: "Ân dũ long nhi căng cụ dũ thâm, phận tự chuỷ nhi khiêm cung tự xử. Thỉ xích trung vu thiên nhật, chỉ tri hữu thiện tất quy quân. Nghiệm di ái ư lại dân, nan đạo hữu tiền năng mãi dự" (Ân càng lớn thì sợ hãi kính cẩn càng nhiều, tự biết phận mà khiêm nhường lễ độ. Thề giữ lòng trung đỏ chói cùng ánh mặt trời, cung kính biết rằng chỉ đem điều thiện lành về cho vua. Thể nghiệm niềm yêu thương với mọi người(24), khó nói rằng có tiền là có thể mua được tiếng hay). Người bạn Trung Quốc là Lưu Văn Lan ở Việt Đông có lời phê rằng:" Lời nói nhân nghĩa rực rỡ lắm thay!"
Bỗng nhiên tai họa ập đến. Tháng 2 năm 1829, trong lúc tác giả đang đi làm công việc hộ chính thì bị nhà vua khiển trách rồi bị giải chức; đến tháng 10 thì thành án và bị hạ ngục. Tác giả than thở về nỗi án oan" Thai tinh sạ ám, Truân vận vị trừ. Y thùy phiến gia nhân chi hoặc, hà xứ lai vô vọng chi thư. Phủ thần tội dĩ đương chu, thành án mạc thân ư lí để" ( Sao Tam thai(25) bỗng nhiên tối sầm, cái vận Truân(26) chưa trừ hết. Ai đã xúi giục mê hoặc người nhà, từ đâu đưa đến một cái thư xằng bậy. Đoái nghĩ phận làm tôi đáng chết, thành án mà trong lòng không hiểu vì sao).
Sau hơn 1 tháng bị giam trong nhà ngục, đến tháng chạp thì có chỉ vua ban cho đi hiệu lực ở Tiểu Tây dương. Cảm xúc sung sướng như vừa thoát chết được tác giả cực tả trong lời tựa bài thơ Hốt văn ân chỉ cảm tác ở đầu tập thơ Tây hành thi kỷ: "... thật như ánh mặt trời soi vào hang lạnh, như mưa xuân nhuần khắp cành khô, ôi một sự lạ ở ngoài trời đưa đến!". Niềm vui sướng đến tột độ, nhưng nỗi xót xa về số phận vẫn cứ trào dâng- Mười năm vết chân quan trường ấy, từ một bậc Á khanh mà nay chỉ là một kẻ lính già, thật khó mà tả xiết: "Kí thao thiết phù phi phận, cảm cố luyến dĩ hoài cư" (Cái phận chẳng ra gì đã được cậy nhờ, dám đâu luyến tiếc cảnh ngày xưa ).
Đã hai phen vượt muôn ngàn sóng gió, rồi cũng được bình yên trở về, tác giả mới có dịp chiêm nghiệm về những trải nghiệm trên những bước đường gian nan: "Quan hải chân ba đào, lưỡng độ mấn mao kinh bạt thiệp. Nhân thân tiểu thiên địa, nhất soang nghĩa mệnh tự an thư" (Biển quan trường thật là sóng gió, đã hai phen râu tóc trải trèo đèo lội suối. Thân con người là một tiểu thiên địa, một lòng theo nghĩa và mệnh, tự yên ổn và thư thái). Đó - hai chữ Nghĩa (lẽ phải) và Mệnh (vận mệnh) như là những đức tính trọng yếu của nhà nho quân tử vậy. Ta nhớ đến một đức Khổng Tử "tiến thì giữ lễ, lui thì hợp nghĩa, được hay không được thì nói rằng có mệnh" (Mạnh Tử, Vạn Chương, Chương cú thượng).
Thay cho lời kết, tác giả như thả hồn mình ra ngoài vòng cương tỏa của những vinh nhục, để nghĩ về cái ta trong khoảng trời đất: "Thường hoành khâm nhi quan thương vũ, hạt cùng vật ngã chi đại quan. Duy thư thân dĩ bội Thánh ngôn, hằng kí thân tâm chi quả quá" (Thường vắt ngang vạt áo mà ngắm trời xanh, sao có thể cùng được cái đại quan giữa ta và vật. Chỉ biết ghi vào đai áo để mang theo Thánh ngôn, hằng mong tâm thân này ít tội lỗi). Vật ngã hay tâm thân phải chăng là những phạm trù triết học mà Tống Nho hay Minh Nho đã từng bàn tới - Nếu như Lý học Tống Nho nhận định vạn vật thế giới chỉ có thể từ Lý (Hình nhi thượng) mà phái sinh thì Tâm học Minh Nho lại cho rằng tâm ta là căn nguyên của vạn vật vũ trụ. Có lẽ những sắc thái triết lý về nhân sinh, về vũ trụ, về thế giới ấy vẫn luôn tiềm ẩn trong mỗi con người khi ngẫm suy về cuộc đời, thế sự.
Trên đây ta đã xem xét nội dung của bài phú như là một bản lý lịch nửa đời người của tác giả Lý Văn Phức, nhưng ta vẫn tự hỏi - vì sao tác giả lại lấy tên là Vô danh. Như lời phê của một người bạn Trung Quốc ở cuối bài phú: "Tự xử mình là một kẻ không có địa vị, vậy là đã được cái ý 'Lạc thiên tri mệnh' rồi đó"? Phải chăng sẽ là thú vị nếu ta tiếp tục tìm hiểu về chữ Danh hay Vô danh trong triết học Trung Hoa cổ đại.
Khép lại bài phú trường thiên bát vận tự thuật về cuộc đời của tác giả Lý Văn Phức, ta còn thấy những dư âm, trước hết bởi những tâm tư tình cảm xuất phát tự đáy lòng, và cũng bởi cảm xúc mới mẻ về một nghệ thuật ngôn ngữ sinh động, hàm xúc và đầy sáng tạo. Tác giả Mục Cấn, biệt hiệu Liên Tiên người đất Võ Lâm (Trung Quốc) có lời bình bài phú rằng:" Dùng lời nói bằng vần để miêu tả bình sinh, thật là một con người lỗi lạc anh hoa. Bài phú này nói hết tâm tư tình cảm , có thể xem là một thiên niên phả vậy".
Chú thích:
Tư liệu tham khảo
1. Tây hành thi kỷ, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm VHc.1364.
2. Lý Khắc Trai Việt hành thi, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm VHc.2602.
3. Sứ trình chí lược thảo, Thư viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm VHc.1344.
4. Tây hành thi kỷ, Thư viện Viện Văn học DH.671.
5. Dương Quảng Hàm: Lý Văn Phức tiểu sử - văn chương, Nam Sơn xuất bản.
6. Hoa Bằng, Lý Văn Phức (1785-1849), Thăng Long 1953
7. Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên 2002.
8. Lê Văn Quán: Tinh hoa văn hóa phương Đông, Nxb. Hà Nội, 2003.
Truyện Tây Sương, Vũ Kỳ Sâm phiên âm, Phạm Trọng Điềm chú thích, Vũ Ngọc Phan giới thiệu, Nxb. Văn hóa 1961./.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.470-479)