VI | EN
78. Về một nữ tướng thời Trưng Vương chưa được nêu danh (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

VỀ MỘT NỮ TƯỚNG THỜI TRƯNG VƯƠNG(1) CHƯA ĐƯỢC NÊU DANH

NGUYỄN THỊ THẢO

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thanh Hóa là một vùng đất địa linh nhân kiệt, từ xa xưa đến nay đã để lại nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Trong công tác dịch thuật văn bia ở một số địa phương, vừa qua tôi đã phát hiện di tích một đền thờ nói về một nữ tướng thời Trưng Vương có thể chưa được sử sách nêu danh.

Dẫu thời gian đã trôi qua hàng bao thế kỷ nhưng may mắn thay nền đền và tấm văn bia vẫn còn để lại cho hậu thế chúng ta về một nữ tướng kiên trinh, thủy chung, dũng cảm đã từng sát cánh với hai bà Trung Trắc, Trưng Nhị đánh tan quân Hán.

Thanh Hóa có rất nhiều đền thờ. Trong đó, từ xa xưa nhân dân đã xây dựng đền thờ bà Lê Thị Hoa khi bà qua đời được bà Trưng sai sứ giả về tận nơi, chọn đất tốt, làm lễ an táng, xây đền thờ nhằm ghi lại tài trí và đức độ của bà.

Trong quá trình tìm hiểu và dịch thuật, tôi biết đó là ngôi đền quốc gia (quốc gia Việt Nam thờ bà đã từ lâu). Hiện đền thờ bà không còn nữa, nhưng may mắn tấm bia ghi công đức của bà vẫn còn trong khuôn viên đền có nhà dân ở tại thôn 2, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa và thác bản văn bia đang được Viện Nghiên cứu Hán Nôm bảo quản và lưu giữ mang ký hiệu số 47319 và 47320 (khổ 110 x 77cm).

Qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử nhưng những dòng chữ Hán trên bia đã làm tôi xúc động và tự hào về một nữ tướng không những đã có công đánh giặc mà còn có công khai hoang lập ấp.

Thiết nghĩ bà Lê Thị Hoa là một bông hoa đẹp tô thêm trang sử vàng của dân tộc Việt Nam cần được lịch sử nêu danh, tu tạo đền thờ, xếp hạng di tích lịch sử. Tôi xin dịch nghĩa để bạn đọc tham khảo.

BÀI KÝ TRÊN BIA VỀ NGỌC PHẢ THỦY TỔ HỌ MAI

Ký hiệu: 47319

(Bản chính đặt tại chi Khôn bộ thứ 10 phần Trung hạ đẳng của Bộ Lễ)

Xưa, nước Việt ta dựng nghiệp cương phản thuộc (sao) Ngưu (sao) Đẩu từ khi vua Hùng mở vận dựng nước, cơ đồ Thánh tổ truyền được 18 đời, thịnh trị được hơn hai ngàn năm. Đến khi nhà Hùng (thứ 18) mất, Thục An Dương Vương lên thay, giữ nước được 50 năm thì Triệu Đà sang xâm lược nhà Thục mất.

Triệu Đà làm vua được năm đời, sau đó nước Việt ta thuộc Tây Hán, đến thời Đông Hán vua Quang Vũ sai Tô Định làm Thái thú ở nước ta. Định là người vô cùng tàn bạo. Phàm những người tài giỏi hiểu biết của nước Việt ta (Tô Định đều ban cho chức tước, rồi ngầm giết hại họ. Đời sống của người dân đất Việt cực khổ lầm than vô cùng. Đến lúc này chắt gái của vua Hùng, trước đây con gái của Trưng Tướng quân là Trắc và em là Nhị dấy binh đánh [Tô Định]. Nhưng lúc đó thao lược tướng tài chưa có người, lương thảo tích lũy chưa nhiều, nên quân chưa đông. Nhưng có vua như thế, sẽ có bề tôi như thế, khắp nơi quy phụ [có một nhà ở thôn Thương Linh, xã Cao Linh, huyện Thiện Bảo, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam họ Lê tên Thái, vợ là Dương Thị Tao, con nhà gia thế làm nghề y, sinh được hai người con gái, ba người con trai, cô con gái trưởng có thai mộng thấy bắt được một con rắn ngũ sắc rồi sinh ra cô nương (sinh ngày 15 tháng 11 năm Mậu Ngọ), môi đỏ mặt hoa da phấn nên đặt tên là Hoa Nương. Năm Hoa Nương 18 tuổi, có người xã Phú Cốc cùng huyện họ Mai tên Thông cùng là bạn với ông Lê Thái. Mai Thông có một người con trai tên là Mai Tiến, 19 tuổi, giỏi cung nỏ, hay văn tự. Lê công yêu quý tài năng bèn đem Hoa Nương gả cho (Mai Tiến). Rồi xem ngày định lệ đẹp duyên hòa hợp, mới cưới nhau được hai năm thì cha mẹ lần lượt qua đời. Bà Hoa lo toan mọi việc hiếu nghĩa trọn vẹn, hiếu thuận chiều chồng, làng xóm họ hàng ai cũng ngợi khen. Thời đó, Tô Định biết Văn Tiến có tài, bèn cho vời về triều bái yết và phong làm quan Huyện doãn huyện Gia Lâm, nhưng Văn Tiến không chịu nhận, song nhiều lần Tô Định xuống lệnh triệu, ông Tiến bất đắc dĩ phải mang theo vợ con đến làm Huyện doãn huyện Gia Lâm. Ông làm quan thanh liêm, thích làm điều thiện giúp đỡ mọi người. Ông mới làm quan Huyện doãn được ba năm. Tô Định nghe nói bà Lê Thị (Hoa) vợ ông xinh đẹp, Định muốn ép lấy Định. Định ngầm sai người báo với ông Mai Tiến, ông Tiến nhất định không chịu. Tô Định bèn giết hại ông hòng chiếm vợ ông. Hồi đó, bà Lê Thị (Hoa) lấy ông Mai Tiến được mười một năm, sinh được bốn người con trai, con trai trưởng tên là Mai Đạt lên 9 tuổi, con trai thứ hai là Mai Thỏa 7 tuổi, con trai thứ ba là Mai An 5 tuổi, con trai thứ tư là Mai Trí 2 tuổi, cả bốn anh em đều có trạng mạo khôi ngô tuấn tú, bố mẹ vô cùng yêu quí. Đến khi ông Mai Tiến bị giết hại, bà Lê Thị (Hoa) đang đêm dắt bốn con trai chạy trốn về bản hương. Trong thời gian một hai năm đầu (Tô) Định bắt tìm kiếm bà rất ráo riết. Bà than rằng:

"Thà làm quỉ trinh tiết.

Không làm kẻ phụ tình".

Rồi bà phân tán hết gia tài, chi viện cho hơn hai ngàn người dân Thượng Linh, Phú Cát và dân các làng lân cận chống nhau với (Tô) Định, bị thua trận bà phải chạy vào địa đầu huyện Nga Sơn phủ Hà Trung châu Ái (Thanh Hóa) bỗng gặp cơn mưa lớn (lúc đó) bên đường có một túp lều tranh (quán lợp tranh) mấy mẹ con bèn vào trú ở đấy. Lúc đầu bà chỉ nằm nghỉ thư giãn, bất giác ngủ mất. Trong giấc ngủ bà mộng thấy một vị thần tướng đứng ngay trước mặt ngâm rằng:

"Kim nghi tầm nhập Cư An Nội

Hậu báo đắc cứu dự hiển danh"

(Nay nên nhập cư thôn An Nội

Sau báo được thù lại hiển danh)

Bà tỉnh dậy (nói lại giấc mộng với các con), hồi đó người con trai trưởng 20 tuổi đã biết chữ, mới cùng bà luận giải giấc mộng đó rằng: "An Nội nhất định là tên ấp rồi". Đợi khi trời tạnh (mẹ con) mới đi tìm hỏi thì quả có tên An Nội ở phía Bắc huyện Nga Sơn. Bà đến nơi thì thấy ở địa đầu thôn An Nội có khoảng trăm mẫu đất rất sầm uất, ở giữa có một khu đất khoảng hơn một sào, đất đai bằng phẳng, cây cối thưa thớt, bà bèn làm một túp lều tranh để ở, thuê người khai khẩn (đất hoang khoảng hơn một năm được vài chục mẫu, bà mời họ Mai ở Phú Cát và họ Lê ở Thượng Linh được hơn 10 nhà nhập cư, nhân dân các làng lân cận phần nhiều cũng đều qui phụ. Khoảng trong thời gian ba năm, bà mời được vài chục gia đình (nhập cư), bà đối xử với mọi người rất có nhiệt tình. Bà đang ôm mối hận tàn nhẫn, bà chỉ lên trời vạch xuống đất thề không đội trời chung với (Tô Định), bà mong mỏi nuôi dưỡng 4 đứa con trai khôn lớn thành lập (đội quân) để đánh Tô Định kịp khi cậu con trai trưởng 22 tuổi, con trai thứ hai 20 tuổi, con trai thứ ba 18 tuổi, con trai út 15 tuổi. Cả bốn anh em đều thông minh khỏe mạnh hơn người. Bà Lê thị hết sức vui mừng. Một lần bà Lê thị bỗng bị sốt nóng sốt rét hơn 10 ngày, uống thuốc không thuyên giảm, bà bèn sai dựng đàn giữa trời, gượng dậy tắm rửa rồi phủ phục dưới đàn tế khấn rằng: "Chồng thiếp bất hạnh bị chết oan, thiếp muốn được nhìn đàn con khôn lớn trưởng thành để trả mối thù Tô Định giết chồng, vạn lậy trời đất (quỉ thần) giáng lâm cho thiếp được sống thêm vài tuổi, tận mắt nhìn thấy 4 đứa con báo được thù. Nếu không thiếp xin chết trước đàn này. Khấn xong phủ phục hồi lâu dưới đất mơ màng như giấc mộng, thấy một ông lão nói rằng: "Nhà ngươi muốn sống thêm mấy tuổi để nhìn thấy các con báo được mối thù thì phải (sửa lễ dựng đàn) (tiếp bia số 47320).

BÀI KÝ TRÊN BIA VỀ GIA PHẢ THỦY TỔ HỌ MAI

Ký hiệu: 47320

Bèn dựng đàn sắm lễ hương hoa vàng mã quần áo và các thứ cúng dâng, dưới cỗ tạp trên cỗ chay cầu khấn quan Đương niên hành khiển thì những điều cầu khấn đều được. Bà Lê Thị (Hoa) tỉnh lại sai bốn người con dựng đàn cầu đảo như những điều thấy trong mộng thì bệnh quả nhiên khỏi. Từ đó cứ đến ngày 25 hàng tháng lại dựng đàn cúng y như nghi lệ.

Một hôm khởi binh ở cửa sông Hát huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai, đạo Sơn Tây, ý của mấy mẹ con là muốn tìm nơi ở (đóng quân) nhưng chưa tìm được. Vừa hay gặp lúc Hai Bà Trưng đến dụ mẹ con bà liền đi theo. Bà Trưng lấy bà Lê Thị (Hoa) làm tướng) quản đội nữ, còn bốn con trai sung làm Tả Hữu tiền phong và xuống hịch cho nhân dân các phủ huyện và các quan lang phụ đạo khắp nơi dấy nghĩa diệt kẻ tàn bạo, chỉ trong tuần nhật (10 ngày) đã có hơn sáu vạn người ứng mộ (tham gia nghĩa quân), chia đường cùng tiến thẳng đến thành Tô Định đánh một trận. Tô Định đại bại chạy về Bắc quốc, bà Trưng tự lập làm vua, phong chức tước cho các tướng lãnh, nhưng mẹ con bà Lê Thị (Hoa) từ chối không nhận chức tước, chỉ xin chuẩn y miễn tô thuế và phu phen tạp dịch cho những nơi mẹ con bà đóng quân ở khu vực An Nội. Trưng Vương hứa cho và còn cấp thực ấp cho mấy mẹ con ở huyện Nga Sơn. Mấy mẹ con vái tạ trở về khu Thượng trang An Nội khai khẩn đất đai sinh sống. Về sau có đến bốn năm chục nóc nhà và mọi người đều suy tôn bà làm trưởng cho họ Mai. Đến tháng hai năm sau bà Lê thị qua đời (ngày 25 tháng 2), bốn người con dâng biểu tâu lên. Trưng Vương nghe tin thương tiếc than rằng: Lê thị là người từ thiện, rất hiền lành phúc hậu bèn ban cho tên hiệu là Từ Thiện và phong tặng cho tước Phu nhân rồi sai sứ thần đem về, chọn đất tốt ở nơi (mẹ con bà) ở trước đây làm lễ mai táng và dựng đền miếu phụng thờ. (mộ bà nằm giữa khu dân cư gọi là bãi...). Từ đó, nhân dân cầu xin điều gì cũng rất linh ứng. Bà là thủy tổ họ Mai. Nhân dân ở các vùng trên cũng đều phụng thờ bà.

Than ôi! Người đàn bà từ thiện phúc đức nhân hậu mà lại có thể kiên trinh bất khuất, giữ trinh tiết nuôi dạy con cái thành người, trả thù lớn cũng là một người đàn bà giỏi. Cho nên ghi vào ngọc phả bằng lụa vàng và ban cho tên hiệu là Từ Thiện và phong tước Phu nhân.

Ngày tốt tháng 10 năm Hồng Phúc thứ nhất (1572)

Ngày tốt tháng 12 năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736)

Con cháu trên dưới họ Mai ở thôn Ngũ Kiên xã An Nội, tổng Cao Vĩnh huyện Nga Sơn phủ Hà Trung là Mai Đức Thiệu, Mai Đức Miêu, Mai Văn Út, Mai Đức Hữu, Mai Đức Quận cùng cả họ đọc câu chuyện về thủy tổ của dòng họ mình, sự tích đã lâu chỉ nghe truyền miệng không được rõ ràng, năm Tự Đức thứ 19 (1866) có Tú tài ở xã Bình Đằng (Thắng ?) tổng Bạch Hạ tỉnh Sơn Tây thông báo rằng: Ở dưới nền nhà cũ của gia tiên ông ấy (cũng thuộc loại hiển hách) có đào được một hòm Thần tích, đã thông báo rộng khắp mọi nơi để xem xã thôn nào mất Thần tích thì đến mà nhận". Thật là may mắn cho bản xã đã tìm ra được ngọc phả.

Than ôi! tổ ta khởi binh từ thời Trưng Vương trải thời gian đến nay đã một ngàn tám trăm bốn mươi lăm năm mà ngọc phả vẫn được rõ ràng đầy đủ. Nếu không là con người (vĩ đại) như thế; không phải là sự tích (hiển hách) như thế thì làm sao lại không mai một mà cuối cùng lại trở về được đến đây. Trước đây chúng tôi chỉ được nghe sơ lược về câu chuyện của cụ tổ, nhưng nay đã tận mắt trông thấy rõ ràng, lẽ nào lại không hết sức vui mừng? Bèn nghĩ cách để truyền lại lâu dài, vì nghĩ rằng vận thế có lúc thái bình, có lúc loạn lạc, nhân sự có lúc tăng lên có lúc giảm xuống nếu truyền lại bằng giấy mực bằng chữ viết, thì biết đâu hàng ức vạn năm sau còn giữ gìn được cho không mai một. Bèn khắc vào bia đá để truyền lại mãi mãi, và để cho con cháu chúng ta mai sau gìn giữ tôn thờ. Vậy làm bài ký.

Ngày 9 tháng 9 năm Tân Mùi, niên hiệu Tự Đức 24 (1871).

Tú tài người trong họ là Mai Trân kính cẩn viết.

Thợ khắc người xã An Khoái bản huyện là Mai Hữu Truyền kính cẩn khắc.

 

Chú thích:

(1) Trưng Vương: Đại Việt sử ký toàn thư chép: Bà là dòng dõi Hùng Vương, tên là Trưng Trắc, người huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ, hùng dũng có chí lược, khi ấy nước ta bị nhà Đông Hán thống trị, Thái thú Tô Định tham bạo, giết hại chồng bà là Thi Sách. Bà bèn cùng em là Trưng Nhị khởi binh đánh đuổi quân Hán, khôi phục được đất nước tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Ít lâu sau nhà Hán sai Mã Viện sang đánh, hai Bà yếu thế phải rút chạy rồi tử trận, nhân dân địa phương thương nhớ lập đền thờ./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.889-895)

Nguyễn Thị Thảo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm