87. Tìm thấy văn bản thần tích về thủ lĩnh Dương Tự Minh thời Lý ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
TÌM THẤY VĂN BẢN THẦN TÍCH VỀ THỦ LĨNH DƯƠNG TỰ MINH THỜI LÝ Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
NGUYỄN THỊ VIỆT
BQL Di tích-Danh thắng Thái Nguyên
Trong đợt tiến hành sưu tầm tài liệu, hiện vật ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên chúng tôi đã tìm thấy bản thần tích về Dương Tự Minh, một nhân vật lịch sử dưới triều Lý được thờ ở rất nhiều nơi. Cuốn thần tích được tìm thấy ở tại nhà cụ Dương Nghĩa Phùng, làng Xuân La, xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Cuốn thần tích này nguyên do cụ thân sinh ra cụ Dương Nghĩa Phùng để lại, nằm trong số tài liệu Hán Nôm của gia đình. Bởi thời xưa, gia đình cụ Phùng là một gia đình có truyền thống học chữ Nho và kiêm việc bốc thuốc chữa bệnh. Bản thân cụ Phùng năm nay đã 90 tuổi, là người thừa kế cũng được học chữ Hán gần 8 năm. Hiện cụ khá thông thạo chữ Hán Nôm vẫn còn đọc và viết tốt loại chữ này.
Cuốn Thần tích có kích thước 16 x 23cm, toàn bộ chữ Hán Nôm chữ được viết trên giấy dó mỏng (tờ a và b). Tổng số sách có 13 tờ, không có bìa cứng. Tờ ngoài cùng ghi: “Bản thôn thần thành hoàng sự tích” (Sự tích thần thành hoàng của bản thôn). Xem kỹ nét chữ ở trang này không giống với nét chữ ở bên trong nội dung bản thần tích, cho thấy tờ này đã được người đời sau bổ sung đóng thêm vào. Chữ Hán Nôm chép trong bản thần tích được viết theo lối đá thảo của cùng một người chép (Suất đội Dương Như Đôn, người địa phương sao lại vào ngày 26 tháng 3 năm Kiến Phúc nguyên niên (1883). Trong nội dung có một số câu đã được chua thêm, cho thấy bản thần tích được sao lại từ một bản thần tích gốc. Phần cuối bản thần tích có chép thêm 3 sắc phong: 1 sắc thời Đồng Khánh thứ 2 (1884), 1 sắc thời Đồng Khánh thứ 3 (1885) và 1 sắc thời Khải Định thứ 9 (1924) phong cho các làng Xuân La, Đình Cả, xã La Đình xưa thuộc tổng La Đình, huyện Tư Nông, phủ Phú Bình, nay thuộc làng Xuân La thuộc xã Xuân Phương, Đình Cả thuộc xã Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên thờ Dương Tự Minh.
Sau đây là nội dung bản thần tích về Dương Tự Minh, do chính cụ Dương Nghĩa Phùng dịch nghĩa:
Từ đời vua thứ 6 triều nhà Lý, Lý Anh Tông làm vua, đóng đô tại thành Thăng Long, tại xã Quan Triều, huyện Phú Lương có một người họ Dương tên Tự Minh, nhà nghèo, làm nghề câu cá nuôi mẹ. Một đêm câu cá ở bến nước dưới cầu, nằm ở trên cầu bỗng nhiên được một vị tiên cho áo. Nhận được áo ấy có thể tàng hình dấu thân, người ngoài nhìn vào không thấy. Ngày ngày ông vào kho lấy trộm của cải vàng bạc. Quan trấn coi kho thấy mình mắc tội nặng với triều đình bèn tăng thêm quân lính canh giữ 3, 4 lớp vòng vây. Hàng ngày vào giờ Thìn Tỵ ông vào kho, giờ Ngọ Mùi đi ra, không có người nào biết được chuyện ấy. Một đêm sơ ý để côn trùng cắn rách một chỗ ở vai áo. Mẹ ông lấy lụa trắng vá vào chỗ rách, từ đó người ngoài nhìn vào thấy hình, như con bướm trắng. Sau đó ông lại vào kho lấy trộm vàng bạc. Người canh ở ngoài kho trông thấy con bướm bay đi bay lại mà vàng bạc trong kho mất trộm khá nhiều. Quan trấn dâng sớ tấu tường tận với triều đình. Việc tra xét càng thêm chặt chẽ, như vậy việc đó ngày càng sáng tỏ không phải do người. Quan binh trong trấn có người nào thấy việc gì lạ không? Quan trấn chiếu theo sớ tấu đã đốc thúc quan binh báo cáo lên: “Các người ngày đêm canh giữ, có thấy việc gì lạ không?” Một tên lính canh ngoài kho thành đáp rằng: “Cứ 3, 4 hôm lại thấy hình như một con bướm trắng hàng ngày khoảng giờ Thìn Tỵ bay vào, giờ Ngọ Mùi bay ra, ngoài ra không thấy gì khác”. Quan trấn biết được ý trung quân đó tung quân binh phản hồi canh giữ, và lệnh rằng hễ người nào thấy bướm trắng vào thì bẩm báo ngay. Quan trấn thúc các cơ đội chuẩn bị lưới giăng, bất cứ ngày đêm, khi nghe thấy 3 tiếng trống trong dinh thì 10 đạo quân binh đều xông ra vây bắt bướm trắng vào dinh. Các cơ đội nghe được lệnh đó, quan lính trở về. Hôm sau bướm trắng lại vào kho, quân lính trông thấy vào dinh bẩm báo. Quan trấn đánh 3 tiếng trống, các cơ đội 10 đạo mang lưới xông ra vây bắt được bướm trắng. Cởi áo ra thì thấy một thanh niên to lớn. Người đó khai rằng: “Tôi là người xã Quan Triều, huyện Phú Lương, trấn Thái Nguyên, vì nhà nghèo đi câu cá nuôi mẹ. Có một đêm được tiên cho áo, khi nhận áo này để có thể tàng hình dấu thân”. Quan trấn nghe rõ đầu đuôi, dâng sớ tâu lên thành Thăng Long. Vua Lý Anh Tông truyền lệnh: “Giam lại để rồi sẽ tra sau”. Lý Anh Tông phán rằng: “Người này không phải là loại người thường”.
Ở xã Táp Ná, châu Thông Nông, tỉnh Cao Bằng tên Đàm Hữu Lượng khởi binh tại chỗ được 33 vạn quân nổi lên chiếm cứ Bạch Thông, Cảm Hóa của đất Thái Nguyên, Hưng Hóa của Tuyên Quang, bèn cử một người xuống các tổng, xã của các tỉnh kêu gọi: “Ai có tài có sức phá được bọn phỉ Đàm Hữu Lượng thì vua Lý Anh Tông sẽ chia cho một nửa thiên hạ”. Lần đó Dương Tự Minh nghe được, xin với quan trấn gửi sớ tấu lên, cho đi đánh Đàm Hữu Lượng, 3 tháng dẹp xong lại về chịu mệnh. Lần này quan trấn đem sớ tấu lên kinh đô, vua Lý Anh Tông xuống chiếu tha cho Dương Tự Minh đi dẹp giặc. Tự Minh xin một thanh kiếm mới cực kỳ sắc bén. Tự Minh lĩnh thanh kiếm đem theo 12 người lên Bắc Kạn, thấy thế giặc rất lớn, lính giặc đóng trại ước chừng 3 trăm dặm. Tự Minh vạch ra một kế, viết sớ gửi về kinh đô, mời một viên quan lớn đến nơi giặc chiếm xem đánh trận. Vua nhận được sớ liền cử một quan lớn của triều đình là quan đại thần Anh Vũ lên Bắc Kạn thị chiến. Quan đại thần Anh Vũ đến vùng giặc chiếm Bạch Thông, Bắc Kạn vào trướng của Dương Tự Minh định bàn kế phá giặc. Tự Minh không nói gì. Tự Minh đến sớm, mình mặc áo Tiên, tay cầm thanh kiếm xông vào trại giặc, chém giết quân giặc thây phơi khắp bãi, máu chảy thành sông, giết từ Táp Ná, Thông Nông Cao Bằng về Cảm Hóa, Bạch Tông rồi đến Hưng Hóa, Tuyên Quang, giết hết lính giặc không để sót một tên làm giống. Bắt được tướng giặc Đàm Hữu Lượng giải về thành Thăng Long giao nộp. Vua Lý Anh Tông gả con gái Thiều Dung công chúa cho làm vợ, và phong cho Dương Tự Minh làm Thủ lĩnh huyện (thực ra là phủ) Phú Lương, thủ phủ của Phò mã lang đóng tại thành Thăng Long.
Anh Vũ từ khi xem đánh trận trở về, ỷ thế vợ là Tô Thị, vào cung thông dâm với Hoàng hậu mẹ vua. Có người báo cho biết, lần đó Phò mã Đỗ Ất và Dương Tự Minh suốt đêm đốc binh vây thành Thăng Long truy bắt dâm thần Anh Vũ. Vì sơ ý tiết lộ, Anh Vũ vượt thành chạy thoát. Hai vị Phò mã đuổi tới nhà Anh Vũ mắng rằng: “Mày ăn lộc nhà Lý, làm quan đại thần, mày dám thông dâm nhơ nhuốc như thế, mày còn mặt mùi nào ngồi với các quan”. Như vậy hai vị Phò mã sai lính bắt Anh Vũ nhốt vào ngục.
Chợt nghe có báo giặc tới biên giới ước khoảng hơn 7-8 ngàn tên đang tiến đến cổng thành. Vua Lý Anh Tông lại cấp lệnh cho Dương Tự Minh đi dẹp giặc. Ba bốn tháng sau dẹp tan bọn phỉ, phò mã trở lại thành Thăng Long, vua Lý Anh Tông lại gả công chúa Diên Bình, ban sắc giao ấn và giao cho cai quản trên từ Cao Bằng dưới từ Lục Đầu giang. Và từ đó Phò mã lang trở về Quan Triều lập dinh cơ quản trị. Tất cả những việc binh lương thuế lệ đều thuộc vào phủ Quan Triều.
Được 20 năm thì Anh Vũ được vua Lý Anh Tông tha cho và lại được làm quan đại thần. Anh Vũ tấu bậy với vua rằng: “Ở Quan Triều có đất hình nhân bái tướng, nếu vua không yểm nơi này tất thiên hạ sẽ gặp nạn một nước hai vua, thần mong đại vương tỏ tường điều đó. Vua Lý Anh Tông lệnh truyền cho các cơ vệ đem quân lên địa phận xã Quan Triều, trấn Thái Nguyên xây cất một cột đồng trụ trên đỉnh núi có “hình nhân bái tướng”. Quân binh suốt một ngày tới tối xây cất xong cột đồng trụ trên núi tháp. Đến giờ Sửu thì cao được hơn 7 thước. Đến sáng hôm sau mọi người trông lên núi tháp thấy có một cột đồng trụ, quân trở về tâu với Phò mã lang than rằng: “Vua Lý Anh Tông đã phản ta!”
Cầm bút thảo bài thơ rằng:
Non phú anh linh tạo sắc thần
Cơ đồ nhà Lý cũng tướng quân
Tiên ông áo gấm hai điều gặp
Công chúa hai nàng một túi khăn
Biên ải có đao trừ bọn xấu
Long thành không kiếm triệt gian thần
Vua chúa ghi công xây thành tháp
Miếu vũ ngàn năm rạng vẻ xuân.
Lại có câu đối (dịch nghĩa):
"Mặc áo bào tiên, một kiếm trong quân dẹp tan tướng giặc nhà Tống
Làm quan nhà Lý, ngàn thu trên miếu trấn giữ triều đại nước Nam".
Sau đó Phò mã lang đi về bến Giang Ma tắm gội, lên núi Đá Chu hóa, nơi đây có một ngôi chùa, (có thần rồng) tấu với Phò mã rằng: xã Đông Đạt có một ngọn núi tên gọi núi rồng đá, là nơi thiên tạo có thể xây miếu cổ tích. Phò mã lang đi về phía làng Đuổm, xã Động Đạt, thấy thế vui lòng đổi tên chùa Giang Sơn thành chùa Cảnh Linh, bến Giang Ma thành bến Giang Tiên. Phò mã lang hóa thác tại đây. Người xã Động Đạt bẩm với quan trấn, đưa sớ tấu lên thành Thăng Long, vua Lý Anh Tông biết được ý đó ban sắc phong tặng: Cao Sơn Quý Minh đại vương, cho phép xã Động Đạt phụng thờ. Từ đó dân thôn các tổng xã 2 bên sông, trên từ Cao Bằng, dưới từ Lục Đầu giang đều lập đền thờ. Sắc phong tặng làm Thượng đẳng thần để muôn dân cung kính.
Niên hiệu Kiến Phúc nguyên niên, tức vua Nguyễn Kiến Phúc (1883) ngày 26 tháng 3, suất đội Đương Như Đôn sao lại bản thần tích.
Một vài nhận xét:
Bản thần tích trên đây ghi chép về thân thế, sự nghiệp của Dương Tự Minh, một vị Thủ lĩnh phủ Phú Lương thời Lý, đã có công 2 lần phò vua dẹp giặc Tống, phong làm Phò mã lang. Ông đã được 6 bộ sử sách ghi chép (4 bộ chính sử: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký toàn biên, Việt sử cương mục tiết yếu, Việt sử thông giám cương mục, 1 bộ sử khuyết danh Việt sử lược và 1 bộ địa chí: Đại Nam nhất thống chí. Ngoài ra còn có các tập thơ như: Thoát Hiên vịnh sử thi tập, Việt sử diễn âm, Thiên Nam minh giám và Liệt tỉnh phong vật phú cũng viết về ông(1).
Lần đầu tiên ông xuất hiện trong sách Toàn thư với sự kiện tháng 12 năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ 1 (1127) vua Lý Nhân Tông đem công chúa Diên Bình gả cho Thủ lĩnh phủ Phú Lương là Dương Tự Minh.
Lần thứ 2 vào tháng 2/1144, vua Lý Anh Tông đem công chúa Thiều Dung gả cho Dương Tự Minh, phong làm phò mã lang cai quản một vùng đất rộng lớn từ Cao Bằng đến Lục Đầu giang (tương đương với các tỉnh hiện nay là: Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang). Sau đó, Dương Tự Minh có dự vào việc bắt Đỗ Anh Vũ - một quan đại thần loạn triều đình nhưng Anh Vũ đã chạy thoát. Hai mươi năm sau, Đỗ Anh Vũ trả thù Dương Tự Minh cùng với nhiều người khác trong triều và ông đã bị đẩy đi về nơi xa độc và mất ở đó (?) Tuy chính sử không chép ông mất ở đâu nhưng qua bản thần tích này cho biết ông đã trở về Điểm Sơn và mất ở đó. Sau khi Dương Tự Minh qua đời nhà Lý có sắc phong truy tặng là Cao Sơn Quý Minh đại vương cho phép nhân dân trong vùng được lập đền thờ. Đền Đuổm (Đại Nam nhất thống chí chép là Điểm Sơn) là nơi thờ chính Dương Tự Minh, nay thuộc xã Đông Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn có hàng trăm ngôi đền, đình, nghè, miếu thờ vọng ông. Cuộc Hội thảo về danh nhân Dương Tự Minh gần đây đã phát hiện ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh cũng có nhiều di tích thờ ông.
Một số chi tiết trong nội dung bản thần tích trên chép không giống với ghi chép về Dương Tự Minh trong sách Toàn thư. Sự kiện thời vua Lý Nhân Tông lại chép là Lý Anh Tông. Nhà Lý gả công chúa Diên Bình cho Dương Tự Minh trước, sau mới gả tiếp công chúa Thiều Dung nhưng thần tích lại chép thứ tự ngược lại. Các vùng đất bị Đàm Hữu Lượng chiếm giữ Dương Tự Minh đem quân đến đánh dẹp được và tên các địa danh hành chính cũng không hoàn toàn trùng khớp với ghi chép với sách chính sử. Tuy nhiên, hầu hết thần tích các làng, xã thuộc tỉnh Thái Nguyên thờ Dương Tự Minh đều ghi về ông gần như bản thần tích đã nói trên.
Qua nghiên cứu và phân tích văn bản thần tích, chúng tôi thấy người chép thần tích Dương Tự Minh này đã dựa vào chính sử nhưng đã huyền thoại hóa theo lối tư duy dân dã nhằm ca ngợi tôn vinh công đức Dương Tự Minh. Đây cũng là chuyện thường gặp trong các bản thần tích của người xưa.
Nhân vật Dương Tự Minh từ cuộc đời thực đã trở thành hình tượng trong văn học. Ông được các tác giả vịnh sử ca ngợi trong các tác phẩm như: Thoát Hiên vịnh sử thi tập, Việt sử diễn âm, Thiên Nam minh giám và Liệt tỉnh phong vật phú. Truyện truyền thuyết đã được nhân dân xây dựng như: Chiếc áo tàng hình, Sự tích ao chông lăn, Thánh Đuổm trị tà thần, Dương Tự Minh học võ... Hàng loạt các câu chuyện truyền miệng ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang,... xoay quanh kể về công trạng của Dương Tự Minh theo dọc dòng sông Cầu lịch sử đã trở thành huyền thoại đẹp trong tâm thức dân gian. Các tập thơ của các tác giả hoặc khuyết danh nêu trên viết về Dương Tự Minh là tư liệu thành văn đã bổ sung vào thân thế và sự nghiệp của ông. Còn bản thần tích Dương Tự Minh mới tìm thấy ở nhà cụ Dương Nghĩa Phùng là tư liệu dân gian cũng góp phần khẳng định công lao của ông đối với nhân dân. Văn phong trong bản thần tích Dương Tự Minh kể trên, tác giả đã dùng lối văn kể chuyện mộc mạc, giàu chất dân gian như lối kể chuyện cổ tích ngày xưa. So sánh với một số tư liệu Hán Nôm khác như: sắc phong, câu đối, truyền thuyết dân gian viết về Dương Tự Minh, tuy bản thần tích này không có giá trị nhiều về mặt văn học nhưng có giá trị lịch sử. Bởi nó là bằng chứng ghi nhận về một danh nhân lịch sử tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên đã có công lao to lớn trong việc gìn giữ và bảo vệ vùng biên cương phía Bắc nước Đại Việt thời nhà Lý ở thế kỷ XII.
Chú thích:
(1) - Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1972, tr.279-280.
- Đại Việt sử ký tiền biên. Nxb. KHXH, H.1997, tr.283-284.
- Đại Nam nhất thống chí, Tập I, Nxb. KHXH, H., tr.151-152 và 156.
- Thoát Hiên vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm, thế kỷ XVI có 4 thơ câu ca ngợi Dương Tự Minh.
- Việt sử diễn âm (khuyết danh) thế kỷ XVI, có 78 câu thơ ca ngợi Dương Tự Minh.
- Thiên Nam minh giám (khuyết danh) thế kỷ XVII có 10 câu thơ ca ngợi Dương Tự Minh.
- Liệt tỉnh phong vật phú của Trần Danh Lâm, thế kỷ XVIII có một thần sắc chép sự tích về Dương Tự Minh./.