VI | EN
61. Khảo sát bài tựa sách Tây hành kiến văn kỷ lược (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

KHẢO SÁT BÀI TỰA SÁCH TÂY HÀNH KIẾN VĂN KỶ LƯỢC

NGUYỄN THỊ NGÂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tây hành kiến văn kỷ lược là một tác phẩm ký độc đáo của Lý Văn Phức viết về Đông Nam Á những năm 30 của thế kỷ XIX. Tác giả được đến tận nơi các xứ sở Đông Nam châu Á như Tân Gia Ba (Singapore), Ma Lạp Giáp (Malacca), Tân Lang (Pinang) hay Minh Ca (Calcutta); tận mắt chứng kiến một thế giới thuộc địa phương Tây mới lạ từ tên gọi, con người, tập quán, tính khí, phong tục, lễ nghi đến y phục, ẩm thực, văn tự, quan phủ, nhà cửa, xe cộ, tiền tệ, tàu thuyền... Các vùng đã đi qua đều được tác giả quan sát tỷ mỷ, hỏi han tường tận, rồi thu thập lại, phân ra theo môn loại để viết nên tập sách nhan đề là Tây hành kiến văn kỷ lược (THKVKL). Mục đích bài viết này là khảo sát bài tựa sách làm cơ sở để nghiên cứu tác phẩm.

1. Tình hình các văn bản THKVKL hiện còn

Hiện nay tại các thư viện Hà Nội chúng tôi mới tìm thấy hai văn bản THKVKL: một bản lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (TVHN) và một bản lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học (TVSH).

Văn bản lưu trữ tại TVHN có ký hiệu A.243, khổ 31,5x20cm, giấy dó thường, gồm 51 tờ (101 trang), trang 9 dòng, dòng 19 chữ, chữ viết chân; có viết đài, lưỡng cước; rốn sách ghi rõ từng mục tương ứng nội dung như tên sách 西Tây hành kỷ lược, mục lục sách 西Tây hành kỷ lược mục lục, phần 西Tây hành thi lược, bảng từ tiếng Anh 西Tây Dương ngữPhụ lục tiểu truyện. Nội dung sách gồm 4 phần: Tây hành kiến văn kỷ lược 西 (tờ 1a-33b), Tây hành thi lược 西 (tờ 34a-39b), Tây Dương ngữ 西 (tờ 39b-45a) và Phụ lục tiểu truyện (tờ 45b-51a). Riêng phần THKVKL có các nội dung sau:

- Bài tựa Tây hành kiến văn kỷ lược tự và dòng lạc khoản ghi ngày 13 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ mười một. Dưới tên bài tựa có ghi tên tác giả Lý Văn Phức.

- Mục lục Tây hành kiến văn kỷ lược mục lục có kèm theo Phụ lục.

- Phần chính văn gồm 14 mục là Danh hiệu (tên gọi), Nhân vật (con người), Khí tập (tính khí và tập quán), Y phục (quần áo), Ẩm thực (ăn uống), Văn tự (chữ viết), Lễ tục (lễ nghi và phong tục), Quan sự (việc quan), Thời hậu (khí hậu), Ốc vũ (nhà cửa), Xa thừa (xe cộ), Hóa tệ (tiền tệ), Châu thuyền (tàu thuyền) và Địa sản 地產 (sản vật địa phương). Phần Phụ lục ghi phong tục người Mạnh Nha Lạp , Mô Đồ và Xà Bà .

- Cuối văn bản ghi “Tây hành kiến văn kỷ lược tập tất” (hết tập THKVKL).

Văn bản lưu trữ tại TVSH đóng hai bìa. Bìa ngoài cứng, ghi ký hiệu HV.505; bìa trong mềm ghi tên sách bằng tiếng Việt THKVKL. Sách khổ 26x15,5cm, giấy dó cũ; gồm 35 tờ (70 trang), trang 9 dòng, dòng trung bình khoảng 30 chữ, chữ viết kiểu hành thảo, phần cuối sách viết chữ khải xen một đoạn chữ viết kiểu hành thảo. Bắt đầu mỗi mục đều viết thụt xuống, khi xuống dòng và viết kính từ thì viết đài hoặc viết cách chữ trước một khoảng, chú thích kiểu lưỡng cước hoặc phụ chú vào bên cạnh dòng. Rốn sách không ghi gì và cũng không có số tờ. Nội dung sách gồm 3 phần: phần một THKVKL (tờ 1a-21a); phần hai Tây hành thi lược (tờ 21b-26b); cuối sách là các bài chiếu, dụ, văn tế... ghi niên hiệu Thiệu Trị (Việt Nam) và Đạo Quang (nhà Thanh Trung Quốc).

Riêng phần THKVKL cũng giống sách A.243, gồm bài tựa, mục lục; nội dung cũng có chính văn và phụ lục nhưng dưới tên bài tựa không ghi tên tác giả Lý Văn Phức; cuối văn bản ghi “Tây hành kiến văn kỷ lược tất” (hết THKVKL).

2. Khảo sát dị biệt bài tựa sách THKVKL

Bài tựa khoảng 220 chữ và đều lần lượt ghi: tên bài tựa, nội dung bài tựa và lạc khoản. Không kể sự khác nhau về kiểu chữ viết hay cách trình bày... Sự dị biệt giữa hai văn bản A.243 (gọi tắt là bản A) và HV.505 (gọi tắt là bản B) như sau:

1) Phiên âm địa danh. A chép , B chép trong (Malacca). Rõ ràng A chép thành vì trong cả văn bản đều viết chữ ; hơn nữa A chép thiếu dấu chữ khẩu có giá trị chuyển âm đọc của chữ Hán có âm tương cận với âm tiếng Anh như Lý Văn Phức viết rằng “người Đường mỗi khi gọi tên nước ngoài thường mượn âm chữ Hoa tương cận, bên cạnh thêm vào chữ “khẩu” cho tiện chuyển đổi âm đọc”(1). Nhìn chung, bản A thường chép sót dấu chữ bên cạnh chữ Hán để phiên âm tiếng Anh.

2) Chữ viết ngược có dấu móc chỉ việc đọc đảo. A viết rồi dùng dấu móc chỉ đọc đảo lại là kiến văn. Dấu móc chỉ việc đọc đảo lại có trong cả hai văn bản.

3) Các chữ thêm bớt

- A viết thêm chữ năng trong “cố bất năng tất kỳ tường tế” (không thể tường tận hết được).

- B viết thêm chữ tất trong “diệc tất đạn kiệt ngu lậu” (cố hết sức mình, chẳng quản ngu lậu).

4) Các chữ khác nhau

- A chép 六月lục nguyệt, B chép xuất nguyệt trong đoạn câu ( / ) “dĩ tân Chính nguyệt thập bát nhật tự Quảng Nam Đà Nẵng tấn khởi, lục nguyệt/ xuất nguyệt đạt kỳ cảnh”.

nghĩa là tháng 6. Thời gian tháng 6 thì không phù hợp với thực tế chuyến đi của Lý Văn Phức. Bởi theo lời dẫn bài thơ Hồi đà trong Tây hành thi kỷ (THTK), tác giả ghi rõ ngày thuyền quay lái trở về là 25 tháng 5. Hơn nữa, lời dẫn bài thơ Minh Ca cảng tao phong (Gặp gió bão ở cảng Minh Ca) ghi rõ “Thuyền vào cảng Minh Ca ngày mồng 9 tháng tư”. Và lời dẫn bài thơ Cụ phong tức sự (Gặp gió bão lớn tức sự) viết khi đang ở trấn Minh Ca cũng ghi “Ngày mồng 4 tháng tư nhuận khi ấy thuyền bè chìm đắm đến hơn 50 mươi chiếc”... Như thế, thuyền Phấn Bằng đến trấn Minh Ca chính xác là ngày 9/4 và về ngày 25/5, cộng một tháng tư nhuận, thời gian thuyền trú tại trấn Minh Ca vừa đúng 2 tháng 17 ngày. Còn nghĩa là , tức là (qua tháng này, sang tháng sau), đoạn câu sẽ được hiểu là “ngày 18 tháng Giêng năm mới thuyền khởi hành từ cửa biển Quảng Nam Đà Nẵng, sang tháng sau (tức tháng 2) thì đến cương giới nước họ”. Điều cần được làm rõ là (biên giới, cương giới nước họ) là đâu? Lời dẫn bài thơ Côn Lôn đảo viết “Đảo Côn Lôn thuộc địa hạt thành Gia Định, liền với hải phận nước Hồng Mao”. Như vậy sẽ được hiểu là hải phận của nước Hồng Mao. Hơn nữa, “hải phận của nước Hồng Mao” vừa phù hợp với chủ ngữ ở trên “nước Anh Cát Lợi ở Tiểu Tây Dương”, vừa phù hợp với mạch văn tiếp theo “Đường đi qua các nơi như Tân Gia Ba, Ma Lạp Giáp, đảo Tân Lang...”. Và điều quan trọng hơn, “sang tháng sau” nghĩa là sang tháng 2 đến hải phận của nước Anh Cát lợi ở Tiểu Tây Dương mới phù hợp với thực tế chuyến đi.

Chúng tôi đã khảo chứng với ý nghĩa là hay (sang tháng sau) như:

「時榜。之」(2) “Thời tỉnh trường thu Hương thí dĩ bát nguyệt sơ lục nhật nhập đệ nhất trường, sơ cửu nhật nhập đệ nhị trường, thập nhị nhật nhập đệ tam trường, thập ngũ nhật văn hoàn các quy khứ, xuất nguyệt nãi phóng bảng. Án Thanh chế, Hương Hội thí các chỉ tam trường, mỗi nhập trường hành văn tam nhật hậu phương xuất, chí kỳ tái nhập, diệc như chi” (Khi ấy thi Hương mùa thu trường tỉnh lấy ngày mồng 6 tháng 8 nhập đệ nhất trường, ngày mồng chín nhập đệ nhị trường, ngày 12 nhập đệ tam trường, ngày 15 làm văn xong ai nấy trở về, tháng sau thì treo bảng. Theo quy chế nhà Thanh, thi Hương và thi Hội đều chỉ có tam trường, mỗi trường làm văn 3 ngày thì xuất trường, đến kỳ lại nhập trường, cũng như vậy);

「時榜」(3) “Thời trực tỉnh trường, kỳ pháp bát nguyệt sơ lục nhập đệ nhất trường, sơ bát xuất; sơ cửu nhập đệ nhị trường, thập nhất nhật xuất; thập nhị nhật nhập đệ tam trường, thập tứ nhật xuất, thứ nguyệt phóng bảng” (Khi ấy đúng vào dịp thi trường tỉnh, quy chế thi là ngày mồng 6 tháng 8 nhập đệ nhất trường, mồng 8 xuất trường; ngày mồng 9 nhập đệ nhị trường, ngày 11 xuất trường; ngày 12 nhập đệ tam trường, ngày 14 xuất trường, tháng sau thì treo bảng);

「鄉榜」(4) “Hương thí bát nguyệt sơ lục nhật nhập đệ nhất, sơ bát xuất, sơ cửu nhập đệ nhị, thập nhất xuất, thập nhị nhập đệ tam, thập tứ xuất, thứ nguyệt nãi phóng bảng” (Thi Hương ngày mồng 6 tháng 8 nhập đệ nhất trường, mồng 8 xuất trường; mồng 9 nhập đệ nhị trường, ngày 11 xuất trường; ngày 12 nhập đệ tam trường, ngày 14 xuất trường, tháng sau thì treo bảng).

- A chép đạn, đàn; B chép đan trong ( / ) “đạn/ đan kiệt ngu lậu”

đạn, đàn nghĩa là viên đạn hoặc nghĩa dây đàn. đan nghĩa là (dốc hết, cố hết sức). Như vậy, A chép chữ thành chữ trong “đan kiệt ngu lậu” (chẳng quản sự dốt nát).

- A chép giang sơn, B chép giang tâm trong ( / ) “cẩu dĩ bị chỉ thượng giang sơn/ giang tâm chi nhất khảo vân”

nghĩa là núi sông, đoạn câu sẽ được dịch là “tạm góp một phần khảo chứng về núi sông trên trang giấy”. Còn thường được hiểu là “giữa lòng sông”, nhưng “giữa lòng sông” trong ngữ cảnh câu văn thì vô nghĩa. Có thể hiểu theo nghĩa khác không? Chúng tôi thử tìm hiểu khái niệm trong của Lưu Hiệp người thời Nam Triều, lời tựa sách viết: 「夫也」”Phù văn tâm giả, ngôn vi văn chi dụng tâm dã” (Văn tâm là nói sự dụng tâm của việc làm văn)(5). Sau cũng chỉ (văn chương) hay (văn tứ). Như vậy, trong “giang tâm chi nhất khảo” có thể hiểu là “một sự dụng tâm khảo chứng về núi sông” (riêng chữ cũng có nghĩa là “núi sông”). Hơn nữa, trong (Tạm góp một phần khảo chứng về núi sông trên trang giấy) trong THKVKL như là vế đối của trong bài thơ Khai thuyền trong tập THTK của Lý Văn Phức cùng sáng tác trong chuyến đi hiệu lực ở Tiểu Tây Dương năm 1830 vậy:

Văn tứ đa tòng du lãm đắc,

Long Môn chi hậu kỷ nhân hào.(6)

(Tứ văn thường có được từ những cuộc du lãm,

Hỏi sau Long Môn đã được mấy người hào phóng).

Lời bạt của tác giả Lý Quả Thọ người Trung Quốc trong tập THTK cũng có câu “vi thần vi tử chi dụng tâm” (sự dụng tâm của đạo làm tôi, làm con). Hoặc như “cầm tâm” có nghĩa là “ký tâm tư ư cầm thanh” (gửi tâm tư ở tiếng đàn)(7)...

- Dòng lạc khoản ở bản A ghi “Tự Đức thập bát niên bát nguyệt thập tam nhật” (Ngày 13 tháng 8 năm Tự Đức thứ mười một) rồi chữa thành niên hiệu vào bên cạnh dòng. Còn bản B ghi “Hoàng triều Minh Mệnh thập nhất niên bát nguyệt thập tam nhật” (Hoàng triều, ngày 13 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ mười một).

Xét hai chữ “Hoàng triều” ở bản B cho thấy người viết đã tuân thủ nghiêm túc quy chế của một văn bản hành chính, bởi theo nguyên chú bài thơ Đắc chỉ do Phú Yên đăng lục trình trong tập THTK, chuyến dương trình hiệu lực năm 1830 ấy Lý Văn Phức viết được 5 tập thơ văn, trong đó hai tập THKVKLNhật trình ký đã có tấu tiến trình lên nhà vua khi thuyền về đến Phú Yên ngày 12 tháng 9. Xin khảo sát về tính công thức của bản ghi “Hoàng triều” qua dòng lạc khoản một số văn bia Đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu Huế như sau: “Hoàng triều Minh Mệnh tam niên Nhâm Ngọ Hội thí khoa Tiến sĩ đề danh bi” (1822); “Hoàng triều Minh Mệnh thất niên Bính Tuất Hội thí khoa Tiến sĩ đề danh bi” (1826); “Hoàng triều Minh Mệnh thập niên Kỷ Sửu Hội thí khoa Tiến sĩ đề danh bi” (1829); “Hoàng triều Minh Mệnh thập tam niên Nhâm Thìn Hội thí khoa Tiến sĩ đề danh bi” (1832); “Hoàng triều Minh Mệnh thập lục niên Ất Mùi Hội thí khoa Tiến sĩ đề danh bi” (1835)...(8) Hơn nữa tác giả lại sao chép vào thời điểm văn bản hoàn thành, và cho dù là người đời sau sao chép lại đi chăng nữa thì đó là một sự sao chép nguyên xi theo niên hiệu Minh Mệnh khi văn bản ra đời. Bản A ghi niên hiệu Tự Đức (sau sửa lại là Minh Mệnh) cho thấy hai vấn đề. Một là sao chép muộn hơn; hai là người sao chép tự sửa lại, hoặc người đời sau sửa lại khi đọc.

Trước hết nói về niên hiệu Tự Đức và thời điểm sao chép: Sự xuất hiện niên hiệu Tự Đức cho thấy văn bản được chép sớm nhất là vào tháng 10 năm Thiệu Trị thứ bảy 1847 khi vua Thiệu Trị mất, hoàng tử Hồng Nhậm là người kế vị lấy năm sau Mậu thân 1848 làm niên hiệu Tự Đức nguyên niên(9). Nhưng nếu là văn bản thời Nguyễn kể từ lệnh kiêng húy đời Tự Đức lần thứ nhất (tháng 10 năm Thiệu Trị thứ bảy 1847) thì phải viết kiêng húy chữ Thì . Xét chữ ở bản A không viết kiêng húy nên văn bản này không thể được sao chép vào thời Nguyễn khi vẫn còn lệnh kiêng húy đối với chữ Thì . Thứ nữa nói về việc sửa niên hiệu Tự Đức thành niên hiệu Minh Mệnh: có ba dấu chấm (mực đen) ở phía bên trái của hai chữ Tự Đức để sửa thành hai chữ Minh Mệnh (chữ viết nhỏ hơn) ở bên phải dòng. Điều đó cho thấy là người sao chép đã tự sửa chứ không phải người đời sau sửa lại khi đọc.

Tóm lại, những khác biệt có ý nghĩa xác định đặc điểm và tính chất văn bản THKVKL trong bài tựa như sau

 

TT

Sự khác biệt

Số trường hợp

Bản A

Bản B

1

Có cụm từ “Hoàng triều” ở đầu dòng lạc khoản

 

x

2

Chép niên hiệu “Tự Đức” rồi sửa lại là “Minh Mệnh”

x

 

3

Phiên âm địa danh

Thường sót dấu

Chép đủ dấu

4

Chép sai chữ

Chép thành ; thành

 

Hai chữ “Hoàng triều” ở đầu dòng lạc khoản bản B cho thấy niên đại năm Minh Mệnh 1830 khi văn bản ra đời cũng như tính công thức của một văn bản viết dâng vua, và hơn nữa là độ chính xác của văn bản B so với A. Dưới đây chúng tôi phiên âm, dịch nghĩa bài tựa sách THKVKL theo bản HV.505 hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học.

A. Phiên âm

Tây hành kiến văn kỷ lược tự

Canh Dần xuân phụng phái Phấn Bằng, Định Dương nhị đại thuyền tiền vãng Tiểu Tây Dương chi Anh Cát Lợi quốc Minh Ca trấn dương phận thao diễn thủy sư. Dĩ tân Chính thập bát nhật tự Quảng Nam Đà Nẵng tấn khởi định, xuất nguyệt đạt kỳ cảnh. Đồ kinh Tân Gia Ba, Ma lạp Giáp, Tân Lang dữ, nãi để Minh Ca trấn trị tân thứ đình túc, sổ nguyệt nhi phản. Kỳ quốc trung phong tục chi hiếu thượng, quan phủ chi thi thiết dữ phù thiên thời chi hỗ dị, địa sản chi sở nghi cố bất tất kỳ tường tế, nhiên hoặc đắc chi mục đổ, hoặc bằng chi tuần vấn, diệc tất đan kiệt ngu lậu thái nhi tập chi, nhưng phân biệt môn loại dĩ đăng vu kỷ, nhan viết Tây hành kiến văn kỷ lược, cẩu dĩ bị chỉ thượng giang tâm chi nhất khảo vân nhĩ. Cẩn tự.

Hoàng triều Minh Mệnh thập nhất niên bát nguyệt thập tam nhật.

B. Dịch nghĩa

Lời tựa sách Tây hành kiến văn kỷ lược

Mùa xuân năm Canh Dần vâng mệnh phái hai chiếc thuyền lớn Phấn Bằng và Định Dương đến dương phận trấn Minh Ca nước Anh Cát Lợi ở Tiểu Tây Dương để thao diễn thủy quân. Ngày 18 tháng Giêng năm mới khởi hành từ cửa bể Quảng Nam Đà Nẵng, sang tháng sau thì đến hải phận của nước ấy. Trên đường đi qua các nơi như Tân Gia Ba, Ma lạp Giáp, đảo Tân Lang..., đến trú lại ở bến sông trấn Minh Ca, mấy tháng rồi quay về. Những phong tục tập quán, sự thiết lập quan phủ và sự khác biệt về thời tiết, sự thích nghi của sản vật địa phương nước ấy tuy không thể tường tận hết, nhưng những gì tận mắt nhìn thấy hay hỏi han được đều chẳng quản sự dốt nát mà thu thập lại, phân ra theo từng môn loại để ghi chép thành tập sách, lấy tên là Tây hành kiến văn kỷ lược, tạm góp một phần dụng tâm khảo chứng về núi sông trên trang giấy. Nay kính cẩn viết lời tựa.

Hoàng triều, ngày 13 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830).

Chú thích:

(1) THKVKL. TVSH, HV.505, tờ 3a.

(2) Lời dẫn bài thơ Đồ ngộ ứng thí sĩ tử tự tỉnh trường hồi trong Mân hành thi thoại tập, VHv.2258, tờ 17b.

(3) Lời dẫn bài thơ Đồ ngộ ứng thí sĩ tử tự tỉnh trường hồi trong Mân hành thi thoại tập, A.2953, tờ 22b.

(4) Lời dẫn bài thơ Đồ ngộ ứng thí sĩ tử tự tỉnh trường hồi trong Mân hành tạp vịnh thảo, bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo, VHv.110, tr.32.

(5) Hán ngữ đại từ điển. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, tr.4023.

(6) THTK. TVHN, A.2865/1, tờ 7a.

(7) Từ nguyên. Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1999, tr.1119.

(8) Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu, biên dịch và chú thích, Nxb. Giáo dục, xb lần thứ hai, H. 2008.

(9) Ngô Đức Thọ: Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, H. 1997, tr.151.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.717-727

Nguyễn Thị Ngân
Tin liên quan
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm