11. Giới thiệu một số tài liệu về "Truyện Kiều" ở Thái Bình (TBHNH1996)
GIỚI THIỆU MỘT SỐ TÀI LIỆU VỀ “TRUYỆN KIỀU” Ở THÁI BÌNH
Nguyễn Tiến Đoàn
Sở Văn hóa và Thông tin Thái Bình
Chúng tôi được ông Nguyễn Doãn Tấn ở phố Lý Thường Kiệt thị xã Thái Bình giao cho hai cuốn sách và ghi vào sổ công tác của tôi như sau:
“Mấy ý kiến về văn bản tập Truyện Kiều của Nguyễn Du soạn. Do cụ nội tôi, cụ Nguyễn Doãn Cử (1821-1890) nguyên giảng quan phủ tôn nhân kiêm Quốc sử quán Biên tu triều Tự Đức, khi cụ về hưu quan đã mang về và gia đình lưu trữ đến hôm nay.
Xét thấy ở văn bản Kiều này có nhiều điều đáng quan tâm. Chúng tôi chuyển để bạn Nguyễn Tiến Đoàn nhà nghiên cứu Hán Nôm và sử học ở Thái Bình tìm hiểu khai thác”(1).
Thị xã Thái Bình ngày 4-10-1993
Chủ thư
NGUYỄN DOÃN TẤN 62 tuổi
- Cuốn thứ nhất là Văn bản Kiều. Khổ 16x28cm. Chữ viết đá thảo, linh hoạt. Chấm son rất kỹ, người đọc có thể phân biệt rõ tên người, tên đất, tên sách. Vì quá lâu ngày nên đã bị mất một số trang đầu, đã đóng lại bìa các tông.
Tờ đầu chép tiểu sử Nguyễn Du, tiếp là thơ đề từ của Phạm Quý Thích.
Phần còn lại là nội dung truyện Kiều với 88 tờ rưỡi (177 trang). Mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 22 chữ. Sách không chia thành 3 tầng như bản khắc gỗ. Các chú thích đều viết liền vào chính văn, chữ nhỏ (2 dòng nhỏ ăn 1 dòng lớn). Đầu mỗi trang chừa một khoảng rộng 5cm, ghi chú những câu trong nguyên tác và lời phê của các ông Vũ Trinh, Nguyễn Lượng.
Chúng tôi sơ bộ đối chiếu qua mấy bản:
Với bản của Kiều Oánh Mậu khắc in năm Nhâm Dần (1902) thì bản này số câu bằng nhau (3256 câu), số chữ khác nhau không đáng kể. Chú thích kỹ như bản KOM.
Với bản của Nguyễn Thạch Giang (NXB. DDH và THCN - 1975) (chắc cũng dựa vào bản KOM) số lần phê của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng, bản này nhiều hơn 4 lời phê.
Bản Nguyễn Thạch Giang, Vũ Trinh phê 9 ở các câu: 1-6, 1533, 34, 1800, 2248, 2371, 3076, 3204, 3216.
Nguyễn Lượng phê 5 ở các câu: 713, 1148, 2570, 2390, 3014. Tổng cộng 14 lời phê của Vũ và Nguyễn.
Bản này phê đủ như thế và thêm 4 lời phê như sau: Vũ Trinh phê ở câu 2187, 2188 và 3161 (thêm 2 lời phê). Đó là các câu:
“Chút riêng chọn đá thử vàng
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu”
Vũ Trinh phê: “Hiền giả tự ty chi từ, hiền giả bất ngộ chi thán, hiền giả một nại hà chi ngữ” (Đó là lời nói nhún của bậc tài hoa, là lời than chẳng gặp được tri kỷ, chả còn cách nói nào khác của bậc hiền giả).
Đoạn:
“Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan!
Còn nhiều ân ái chan chan
Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi?”
Vũ Trinh phê: “Độc chi thử phương xưng Kiều chi trinh. Nhiên Kiều chi trinh đương ư bình khang lưu lạc thời khán chi. Chi thử tắc xử đắc ý chi sự tố cá bảng dạng dĩ tự kỷ trinh chỉ khả vị Kiều tác thí nhãi. Tuy nhiên năng xưng Kiều trinh diệc bất đa đắc. Hoặc viết vương tôn công tử tự thị quán kiến tích thời kiêu khiếp. Bút ý bất phục trí tại nhãn lý. Oan tai!”
(Đọc đến đây mới khen cái trinh tiết của Kiều. Song cái trinh tiết của Kiều phải xem xét ở thời kỳ nàng lưu lạc chốn bình khang. Đây là ở vào chỗ sự việc đắc ý rồi mà còn lấy cái trinh tiết của mình e dè kiểu đó, chỉ có thể gọi là cách làm dáng của Kiều vậy. Tuy nhiên có lời khen Kiều trinh tiết cũng không nhiều. Hoặc là nói các vương tôn, công tử từ đó mà thấy quen cái nỗi khiếp sợ thơ ngây ngày trước. Bút ý của tác giả chẳng đặt trở lại trong mắt mình nữa. Oan thay!
Nguyễn Lượng Phê ở câu 3186: trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay. “Nhị nhân phục nhập tư tưởng, bách trừng hoan ngu chỉ bất ngôn vân vũ sự. Thử Kiều đoàn tiết xứ diệc văn chương tam mạch xử”.
(Hai người lại vào màn thêu. Bao lần vui vẻ với người khác mà không nói đến chuyện mây mưa. Đó là chỗ tam tiết của Kiều. Văn chương cũng xử sự qua ba mạch đó).
Câu:
“Thương thay cũng một kiếp người,
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi”.
Nguyễn phê: “Quá mạch sinh xuất dư ba diệc diệu” (Qua mạch văn, cái âm hưởng tuyệt vời vẫn cứ dạt dào).
So với bản Đào Duy Anh (Nxb.VH, H. 1979) có 363 chữ và câu khác nhau.
- Cuốn thứ hai bàn cuốn “Tập Kiều” bằng thơ Hán cổ. Khổ (16-28). Viết thảo khổ chữ to. Đã mất trang đầu, trang cuối. Hiện còn 36 tờ rưỡi (73 trang). Mỗi trang 8 câu thơ Hán cổ, có gi chú xuất xứ ở sách nào, bài nào và 8 câu lục bát trong Kiều tương ứng. Giấy đã mủn mấy trang đầu. Tôi đã chép ra sổ tay gồm 592 câu thơ Hán cổ ứng với 592 câu Kiều. Riêng tập này theo nhận định cá nhân có thể còn nhiều hơn nữa. Về tự dạng giữa 2 cuốn có khác nhau chút ít nhưng khó phân biệt. Vì 2 cuốn chữ đều đẹp, song ở cuốn 2 chữ viết phóng khoáng, tài hoa hơn.
Nếu thuần túy chỉ là tập Kiều bằng thơ Hán Cổ thì tập này có thể đứng vào hàng quán quân. Vượt bản của Phan Mạnh Danh 408 câu và của Tú tài Nguyễn Nhạ (Vũ Thư - Thái Bình) 472 câu(2).
Một nét độc đáo khác, dưới mỗi câu thơ Hán đều ghi xuất xứ rút ở bộ sách nào hoặc bài nào. Cụ thể là các bộ sách (hoặc bài) sau:
Thi lâm - Nhi nữ - Đường thi - Hồng lâu mộng. Các bộ tài tử: Nhị tài tử - Cửu tài tử - Thập tài tử. Các bài hành: Đào Nguyên hành - Tỳ bà hành - Cồ bách hành - Ỷ lâu - Hoa nguyệt ngân - Tống thi - Đạm doanh - Điền doanh - Đường biệt tài - Bách mỹ - Tình sử - Tái sinh duyên - Tây sương ký - Uyên giám - Kiển đào hoa - Chính khanh tập - Mộng trung - Ngũ mỹ - Thập mỹ - Cổ xúy - Tô thị - Liêu trai, Kỳ quan - Thanh lâu - Trường hận ca - Nhi nữ tình - Hồi văn thi thoại - Tùy lệnh - Cổ văn - Thi ngữ - Thanh nhi - Vương các thiên gia thi - Thiên gia thảo - Kính hoa duyên, Tùy toàn tập - Mộng trung duyên - Phong tình lục - Trụ xuân viên - Hoa nguyệt Lưỡng toàn tập - Thăng bình - Ngọc kiều lê - Tập thành Thanh biệt tài. Bút sinh hoa - Hồng viên mộng - Hoa tiên hiếu thuật - Địa ngục - Nhị sinh duyên - Thanh lâu mộng - Xuân khuê thi. Thất mỹ - Đề Hạng vương - Cầu phượng khúc - Chinh phụ ngâm - Đông chu - Tùy Đường - Bình quỷ.
Tổng cộng 74 đơn vị. Một điều thú vị, tập cả thơ Hán Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và cũng chỉ chọn được 1 câu. Ví dụ: Câu 1999 và 2000.
Biết bao đoạn khổ tình thương
Nỗi ông vật vã nỗi nàng thở than
(Mang mang kham tận bi sầu khổ (Hồng lâu mộng)
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường (Chinh phụ ngâm)
Một số câu dù chú thích bản 1 đã có, nhưng ở bản 2 lại tập ở sách khác.
Ví dụ câu 2173 và 2174.
“Giang hồ quen thú vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”.
Ở văn bản 1 dẫn thơ Hoàng Sào
“Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng
Nhất trạo giang sơn tận địa duy”
Ở văn bản 2 lại dẫn trong thi lâm:
“Mãn nhãn giang hồ khinh nhất trạo,
Đảm đầu cầm kiếm thế lăng vân”.
Câu 1281, 1282.
“Trướng tô giáp mặt hoa đào
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chẳng ưa”.
(Xuân phong ỷ các lưu tô trướng
Tự hỷ tầm phương thán dĩ tao).
Đều rút ở Tình sử. Trong các bản Kiều tiếng Việt hiện nay chỉ chú do chữ “lưu tô trướng”, không nói rõ xuất xứ.
Tập nhiều câu rất sát với Nguyễn Du.
Ví dụ: “Tiết vừa con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(Cửu thập thiều quang kim quá bán (Tống thi)
Đầu thoa yến tử dĩ quy lai (Đường biệt tài)
Mạch thượng thảo bình thiên nhất sắc (Thi lâm)
Lê hoa điểm điểm sân si khai (Đường biệt tài)
Nhiều câu tập linh hoạt về ngữ nghĩa mà không phản nguyên tắc.
Ví dụ: Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh
(Trang sinh mộng lý mê hồ điệp (Đường thi)
Kiến đắc tình xuân các thượng hoa (Tình sử)
Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
(Đã ai sung thiện cam trường hoắc (Tình sử)
Tiêu thụ yên hà thú hữu dư (trong toàn tập)
Xưa nay những người tập Kiều, tập cổ thường không ghi xuất xứ từng câu thơ trích ở sách nào và ghi lạc khoản như bản này. Có thể đoán định người sưu tập muốn phục vụ cho một tiêu chí, một mục đích nào đó. Qua bản này còn phát hiện được nhiều chữ khác với một số bản Kiều tiếng Việt. Nhưng đây là vấn đề phức tạp. Chúng tôi không nêu dẫn chứng.
Dưới đây xin giới thiệu qua về Nguyễn Doãn Cử, người chủ văn bản này từ thời Tự Đức và truyền lại cho con cháu đến hôm nay.
Ông hiệu Bằng Phi, sinh năm Tân Tỵ (1821) quê xã Hành Dũng Nghĩa, huyện Vũ Tiên, Thái Bình (nay là xã duy nhất huyện Vũ Thư). Gia đình vốn dòng thi thư. Anh cả là cử nhân Nguyễn Doãn Vọng, đốc học tỉnh Nghệ An là thày học của các ông tiến sĩ Phan Đình Phùng, Phan Huy Nhuận, Phan Trọng Mưu em út ông là Cử nhân Nguyễn Doãn Tựu làm tuần phủ Hà Tĩnh.
Hồi trẻ Nguyễn Doãn Cử theo học Tiến sĩ Ngô Thế Vinh làng Bái Dương - Nam Trực. Mặc dù học lực khá, được Vũ Phạm Khải khen ngợi, năm 43 tuổi mới đậu Cử nhân. Được bổ chức huấn đạo Thanh Ba - Phú Thọ sau thăng Giáo thụ rồi làm Tri huyện Lập Thạch, Tri huyện Hải Lăng. Sau đó được điều về chiến khu Sơn Hưng huyện (1874) cùng các văn thần khác lo việc chuẩn bị chống Pháp.
Tháng giêng năm Tự Đức 32 (1879) nhà vua triệu ông về kinh nhận chức giảng quan phủ tôn nhân, thăng Hàn lâm viện thị giảng kiêm biên tu ở Quốc Sử quán. (Gia đình hiện còn sắc phong). Trong đám con em hoàng tộc do ông dạy bảo có Ưng Lịch (sau là vua Hàm Nghi)? Năm 1881 vừa tròn 60 tuổi ông dâng sớ xin nghỉ hưu ở quê nhà.
Khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ 2 (1882) ông cùng với thân gia Nguyễn Hữu Bản đem nghĩa binh sang giữ thành Nam Định cùng với Đề đốc Lê Văn Điếm, Án sát Hồ Bá Ôn. Khi ấy ông đang làm gia sư cho Tổng đốc Nam Định Vũ Trọng Bình, gia đình ông cũng là thân gia với gia đình Tiến sĩ Hy Long Đăng Xuân Bảng (Hành Thiện - Xuân Trường) với gia đình nhà văn thân yêu nước Nguyễn Mậu Kiến (xã Vũ Trung - Kiến Xương). Ông là thầy học khi đã hưu quan của các ông Phó bảng Đông Thành Trần Xuân Sắc, ông Phó bảng Nguyễn Tái Tích, Cử nhân Nguyễn Kỳ Nam, Nguyễn Thiện Kế v.v...(3).
Ông Nguyễn Doãn Tấn còn cho biết thêm - Khoảng năm 1939-1940 có ông phán Trân, người của Viện Viễn đông bác cổ về sửa chữa chùa Keo, có gặp thân phụ ông Tấn là cụ Nguyễn Doãn Khiên một lương y đanh tiếng và được xem cuốn Kiều này. Ông Trân ngỏ ý hỏi mua và nói: “Nhà cửa anh tồi tàn thế này, anh nên để cuốn Kiều cho Viện Bác cổ, nhà cửa anh sẽ được khang trang”. Cụ Khiên trả lời: “Đây là bảo vật của gia đình. Bố tôi (tức cụ Ấm Chí) dặn lại dù chết đói cũng không bán”.
Ở Thái Bình hiện nay, trong dòng họ Nguyễn Doãn, có nhiều thuyết truyền lại về bản Kiều này. Có thuyết cho rằng: bản Kiều này chính gốc là của cụ Nguyễn Tú, Thị lang bộ Lễ triều Minh Mệnh, quê ở xã Phượng Để, huyện Trực Ninh, Nam Định. Cuốn Kiều này chính là bản thảo mà Nguyễn Tú soạn theo lệnh của Minh Mệnh. Sau đó, con trai Nguyễn Tú là Nguyễn Chíên mang cuốn Kiều này và cả bản “Tập Kiều nói trên đưa tặng Nguyễn Doãn Cử.
Theo lời ông Nguyễn Doãn Khiết thì cuốn Kiều này sinh thời bố tôi (tức cụ Ấm Chí là con Nguyễn Doãn Cử) chỉ cho mấy người xem - trong đó có phó bảng đốc học Nguyễn Tái Tích, người Khê Thượng - Bất Bạt - Sơn Tây là anh cùng cha khác mẹ với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu - học trò Nguyễn Doãn Cử.
Chúng tôi đã ghi chép nhiều thông tin do ông Nguyễn Doãn Khiết cung cấp, trong đó có những thông tin mang nhiều màu sắc truyền thuyết. Một trong những thông tin loại này liên quan tới Doãn Khiết cung cấp, trong đó có những thông tin mang nhiều màu sắc truyền thuyết. Một tỏng những thông tư loại này liên quan tới Nguyễn Tú. Tháng 6 năm 1995, cùng với ông Nguyễn Doãn Khiết chúng tôi đã qua sông Hồng tìm tới nhà thờ Nguyễn Tú và được tiếp xúc với gia phả của dòng họ Nguyễn.
Theo gia phả này thì:
Nguyễn Tú người thôn Cổ Chất, xã Phương Để huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nay là xã Trực Phương, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Hà). Ông sinh năm 1794. Hồi nhỏ học ở nhà, 16 tuổi đỗ khóa sinh, 17 tuổi lên Bắc thành (Hà Nội) thụ nghiệp Hoa Đường tiên sinh Phạm Quý Thích (1759-1825) năm Gia Long 15 (1816) 22 tuổi đậu Cử nhân. Quê ông bấy giờ có loạn Chỉ Sáu (tức cuộc khởi nghĩa nông dân Vũ Dình Lục - TG). Tình hình khá rối ren nên ông ở nhà lấy vợ. Sau đó Nguyễn Tú được bổ Tri huyện Tiên Du (Bắc Ninh). Năm 32 tuổi cha mất, ông về quê chịu tang sau ông được đổi đi Tri huyện Kim Thành (Hải Dương).
Năm Minh Mệnh 2 (1821) được thăng Tri phủ Tiên Hưng (nay thuộc Thái Bình) khi ông 36 tuổi.
Năm 41 tuổi được vời vào kinh, biên chế vào Binh bộ giữ chức Lang trung.
Năm 1827 thăng bố chính tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 1828, 43 tuổi thăng hiệp trấn Thuận An.
Năm 1829, 44 tuổi làm thị lang bộ Lễ phụ trách việc nghiên cứu sửa đổi các điều luật.
Năm 1831 thăng hữu tham tri bộ Công và làm chủ khảo trường thi Gia Định. Cũng năm đó Nguyễn Tú lại chuyển làm Tả tham tri bộ Lại, rồi điều ra làm bố chính tỉnh Quảng Trị và được ban chức tuần phủ.
Năm Giáp Ngọ (1834) Minh Mệnh 15 được cử ra đảo Cửu Chu (có lẽ là Thổ Chu bây giờ. TG). Dẹp bọn giặc Xiêm lập được quân công, Minh Mệnh ban thưởng “phi long kim tuyến” và chiếc áo gấm.
Năm 1841 Thiệu trị thứ 1, tháng 6 làm chủ khảo trường thi Nghệ An. Sau đó ông được lệnh ra đảo Phú Quốc cùng với một viên quan cộng sự. Nhưng hoàn cảnh gia đình thanh bạch, là người con chí hiếu lại có mẹ già ốm yếu, ông xin nghỉ phép để trông nom phụng dưỡng.
Năm 1842 triều đình bắt ông đi làm lính ở tỉnh Hưng Yên (có lẽ ông nghỉ quá phép nên phải chịu kỷ luật chăng? (TG). Một năm sau ông được trở về quê quán làm người dân thường. Năm ấy thân mẫu ông đã qua đời. Ông trở lại Hưng Yên làm nghề dạy học. Năm 63 tuổi, ông về dạy ở xã Trà Lũ, huyện Giao Thủy, 66 tuổi ông chuyển về dạy ở xã Hoàng Nha cùng huyện. Năm Tự Đức thứ 8 (1855) ông ở tại gia đình giảng tập cho các tỉnh thần. Cũng năm đó ông qua đời, thọ 71 tuổi. Mất ngày 9 tháng 11 - mộ táng trước cửa chùa tọa Nhâm, hướng Bính.
Từ đường thờ ông còn câu đối sau
Cố gia sự nghiệp tồn biên lục
Nho hoạn phong thanh hữu cổ kim
(Sự nghiệp của gia đình xưa còn ghi ở sử sách(4)
Thanh danh và phong khí khi làm quan có công luận của cổ kim.
Hai tấm biển sơn son thếp vàng:
- Trầm Anh dịch thế (Đời đời dòng dõi trâm anh)
- Y bát truyền gia (Nếp nhà nối đời theo Phật)
Đáng lưu ý mấy điều ghi trong gia phả:
Nguyễn Tú năm 17 tuổi (1811) lên Hà Nội học Hoa Đường Phạm Quý Thích. Năm 22 tuổi (1816) đậu Cử nhân khi thày học mình vẫn còn khỏe mạnh. (9 năm sau Phạm Quý Thích mới qua đời).
Năm 1829 với chức Thị lang bộ Lễ phụ trách nghiên cứu sửa đổi các điều luật.
Nghiên cứu hai văn bản trên đây, trừ những tư liệu mang màu sắc truyền thuyết do gia đình họ Nguyễn Doãn cung cấp, chúng tôi rất cẩn thận trong việc khảo sát mối quan hệ giữa hai văn bản này. Liệu hai văn bản này (văn bản Kiều và cuốn Tập Kiều). Có phải do cùng một người biên soạn? Các văn bản đó vốn là của Nguyễn Tú hay Nguyễn Doãn Cử?
Có phải chúng được biên soạn do chỉ thị của Minh Mệnh như lời kể hiện nay không?...
Những câu hỏi đó, chỉ có thể trả lời chắc chắn sau khi nghiên cứu trên văn bản cụ thể - khi mà đã được phiên âm dịch nghĩa toàn bộ để tranh thủ ý kiến các nhà nghiên cứu.
Nhưng, một điều có thể chắc chắn ở đây là: Loại văn bản Kiều chép tay một cách quy củ như thế này, hiện nay đã là loại văn bản quí hiếm. Điều chúng ta đặc biệt chú ý là: dù vốn là của Nguyễn Tú hay Nguyễn Doãn Cử thì văn bản này cũng là văn bản có xuất xứ Từ những vị khoa bảng, những ông quan của hai triều Minh Mệnh và Tự Đức. Hơn nữa, văn bản này được bảo lưu tại quê hương Thái bình là một địa bản Nguyễn Du đã từng sông và làm việc nhiều năm, hẳn cũng là một lý do để chúng ta tin tưởng sẽ có những điều lý thú khi nghiên cứu cụ thể vào câu chữ trong tác phẩm.
Chú thích:
1. Bản Kiều này đã được nhà báo Nguyễn Dương Côn đưa tin trên báo Thái Bình ngày 13-8-1994. Nhà văn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phó tiến sĩ Đào Thái Tôn đã nhắc đến 3 lần trong các bài viết của ông trên tuần báo Văn Nghệ (Hội nhà văn Việt Nam) trên các bài:
- Đọc lại Truyện Kiều, hiểu thêm một chữ: Bụi hồng - Bóng hồng. Văn nghệ số 11 năm 1995.
- Một thôi đường đi tìm chữ “cổ” trong Truyện Kiều. Văn Nghệ số 18 năm 1995.
- Gươm đàn không phải là gươm và cung bắn đạn tròn. Văn Nghệ số 11 năm 1996.
2. Xem thêm: Thế Anh: Một bản dịch truyện Kiều độc đáo. Tạp chí Hán Nôm số 1 - 1996 - Theo Thế Anh - Bản tập Kiều của Phan Mạnh Danh chỉ có 184 câu.
- Theo tư liệu của ông Nguyễn Doãn Khiết. Bản của Tú tài Nguyễn Nhạ có 120 câu.
3. Xem thêm: Nguyễn Thanh Vân - Nguyễn Tiến Đoàn: “Nguyễn Doãn Cử người thày học, nhà văn thân yêu nước”. Tạp chí NC Lịch sử số I, II 1992.
4. Chúng tôi đã đối chiếu những chức vụ Nguyễn Tú đảm nhiêm trong “Đại nam thực lục chính biên - Đệ nhị kỷ - Tập IX - X (Viện Sử học xb-1962-HN) đều thống nhất như gia phả đã chép.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr95-107)