VI | EN
11. Một nhà nho, một thi nhân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

MỘT NHÀ NHO, MỘT THI NHÂN
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

PHẠM ĐỨC DUẬT

Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Bình

Ông Phạm Ngọc Trâm người làng Vũ Lăng, tổng Thịnh Quang, huyện Kiến Xương (nay thuộc huyện Tiền Hải), tỉnh Thái Bình, sinh ngày 15 tháng 4 năm Quí Tỵ, tức ngày 30 tháng 5 năm 1893. Vì sinh ngày rằm nên ông được gọi là ông Rằm, tên hiệu Nguyệt Viên.

Thân sinh ông là cụ cử nhân Phạm Xuân Hòa, thi đỗ khoa Tân Mão, niên hiệu Thành Thái thứ 3 (1891) tại trường Hà Nam.

Là con trai cả cụ cử Hòa, lúc nhỏ ông học trường huyện nhà. Năm 14 tuổi, ông được cha gửi sang lớp học cụ cử Phan Cảnh Tung ở Tống Văn. Năm 15 tuổi được dự kỳ khảo hạch nhưng không đỗ. Năm sau (1911), ông đậu tân học Khóa sinh.

Năm Khải Định thứ 3 (1918), là khoa thi cuối cùng, ông cũng thi hỏng. Nhà nước bảo hộ Pháp ra Nghị định bãi bỏ các kỳ thi Hán học. Lúc này, ông thất vọng hoàn toàn về thi cử.

Ông viết liền ba bài thơ Đường luật bằng chữ Hán, xin dẫn ra đây bài đầu:

西

Đinh Mùi niên bãi cựu thí mệnh tòng Tây học bất khẳng vãng.

 

Kỳ nhất

Thế đạo canh trương tiệm nhập vi,

Ngã sinh chi hậu quả hà vi.

Cổ lai duy hữu nhất Khổng Tử,

Nhân thế nguyện vô song Chu Hi.

Quých thiệt nhân yên vưu quých thiệt,

Mị ly ngã hựu thậm mị ly.

Trầm tư ngoạn lự đô tiêu tứ,

Na lý an nhàn hữu kỉ tri.

Năm Đinh Mùi bỏ phép thi cũ bắt theo Tây học, không chịu

Kỳ nhất

Đạo học xoay vần lắm nỗi đau,

Chào đời chi để dở dang nhau.

Đã quen cửa Khổng nơi tôn kính,

Chẳng muốn sân Chu chốn khác mầu.

Cuốc gọi người đang cao giọng đọc,

Mèo kêu mình cũng gắng gào mau.

Quẩn quanh nghĩ lắm càng quanh quẩn,

Biết chỗ an nhàn mấy kẻ đâu.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Có người khuyên ông ra làm Lý trưởng như trường hợp ông Nguyễn Văn Đằng (tức Lý Thoa) người làng Phụng Thượng cùng địa hạt. Người trong vùng bấy giờ chẳng mấy ai không nghe được mấy câu thơ Nôm ứng khẩu khi ông Lý Thoa nhận chiếc triện đồng:

Nhà nước ban cho một cục đồng,

Vành ngoài quốc ngữ chữ nho trong.

Đeo vào cục ấy hay chăng nhỉ,

Đứa gọi bằng thằng, đứa gọi ông.

Ông biết thế mà vẫn phải dấn thân làm cái việc bất đắc chí này. Năm sau ông ra làm Lý trưởng, có lần quan huyện về thăm cha ông - cụ Cử Hòa. Trong cuộc rượu, ông viết hai vế đối Nôm đưa cho cụ Đề Bùi Duy Trinh xem:

Nho thường tôn Dịch, Lễ, Thi, Thư học hay thì đỗ,

Thế vẫn chuộng anh hùng hào kiệt vận đến mới thành.

Cụ Đề Bùi biết ông làm Lý trưởng là bất đắc dĩ mà thôi. Tuy nhiên, ông cũng hăng hái vận động dân xây cầu Thập Tam giáp giới làng Văn Lăng, xây cống Tam Đồng, xây khu Văn chỉ, nhà Hội đồng, chùa Tây làng, quán Nội Đông và Nội Tây làm nơi nghỉ trưa cho bà con làm đồng.

Cũng thời gian này vì bảo lãnh cho một người bạn ở làng bên vay tiền Địa ốc ngân hàng, đến hạn, bạn không trả được, ông bị truy tố, bị bắt giam 5 tháng. Gia đình phải bán hết tài sản để trả nợ, ông mới được tha. Những ngày tháng ngồi tù càng có dịp tĩnh tâm nghĩ suy về thời thế, ông viết bài thơ Nôm tỏ rõ cảnh cùng cực của dân mình:

Sinh ra gặp buổi nước non này,

Khiến kẻ anh hùng phải bó tay.

Chẳng sợ Án Dương theo luật ngốc,

Đâu lo Tuần Định dở oai chày.

Những người yêu nước đi đâu cả,

Để đám dân tàn ở lại đây.

Thịt chó chó ăn âu là thế,

Rút xương chẳng những một thằng Tây.

Có đêm dài không chợp mắt, nghĩ thương đời, thương mình, gần sáng ông ngồi bật dậy vặn to ngọn đèn viết bài:

,

.

,

穿 .

,

.

,

.

 

Trường dạ cảm tác

Độc đối hàn đăng đạt đán thiên,

Thâm tiêu tọa ngọa vị thành miên.

Sổ thanh tất suất song tiền chuyển,

Kỉ cá tiêu sao ốc thượng xuyên.

Y ốc kê canh tần báo hiểu,

Thê lương viễn địch cức thông truyền.

Minh tinh xán xán thiên tương bạch,

Đặc nhạn cao tường tứ vọng huyên.

 

Đêm dài cảm tác

Đêm khuya ngồi đứng mãi chưa yên,

Một ngọn đèn xanh thắp để bên.

Tha thiết dế kêu ngay trước cửa,

Chập chờn chuột rúc ở ngoài hiên.

Canh gà eo óc như mong sáng,

Tiếng sáo xa xôi vẫn báo tin.

Lấp lánh sao mai trời sắp sáng,

Bốn bề chim rộn gọi nhau chuyền.

Vũ Đình Ngạn dịch

 

Rồi những ngày đêm mưa dầm, ông buồn nhâm nhi chén rượu, gẩy khúc đàn tranh, giải nỗi u sầu. Thi tứ lại dạt dào, ông cầm bút viết bài Trệ vũ bằng chữ Hán và tự dịch ra thơ Nôm.

 

Trệ vũ

Trệ vũ thông tiêu hựu triệt minh,

Bách ban sầu tứ ngụ trung sinh.

Thi tài kỉ cú vô nhân hứng,

Tửu phiếm tam bôi độc tự khuynh.

Án hạ viêm cầm ti đối nhuận,

Suy tiền lộng cổ thấp vô thanh.

Đương niên tráng chí cơ tiêu tận,

Thiêm đắc tân nhiêm tứ ngũ hành.

 

Mưa dầm

Mưa hết cả ngày lại suốt đêm,

Đương xoay trăm mối chật như nêm.

Mấy câu đề họa ngâm ngâm vịnh,

Ba chén quan hà rót rót thêm.

Mượn ngón đàn tranh dây thánh thót,

Khua bầu trống nhịp tiếng êm êm.

Tấm lòng hăng hái đi đâu cả,

Chỉ thấy hàng râu mọc quái điềm.

Nguyệt Viên dịch

 

Những năm tiếp theo, ông rời quê nhà đi thăm thú nhiều nơi. Khi ông lên Hà Nội, khi vào Thanh Hóa, lúc lên trung du, khi ra vùng duyên hải,… để khảo sát thực địa các vùng. Bởi ông còn là nhà phong thủy. Có lần đến Tam Đảo, ông xem xét kỹ vùng đất địa linh, nơi ông sẽ rời phần mộ cha ông đến đó. Ông viết mấy câu thơ ghi nhớ:

Rủ nhau xem đất Đường Lăng,

Tản Viên, Tam Đảo mấy tầng non cao.

Vạch lau rẽ lối ta vào,

Thử xem thần đất có chào ta chăng.

Ở Phú Thọ khá lâu, ông có những bài tả cảnh đi săn ở rừng núi trung du, bộc lộ tâm sự nhớ nhà. Rồi chuyến đi Bắc Ninh vẫn những tâm tư day dứt của con người có kiến thức, có năng lực mà không biết dùng vào việc gì. Và cuối cùng ông về Hà Nội, nơi con cháu ông đang ở đó. Ông tham gia Hội Khai trí tiến đức, làm bạn với khách văn chương, với giới báo chí. Ông sáng tác bài Hà thành cảm tác:

Nước biếc non xanh khéo lạ lùng,

Ngàn năm ghi nhớ đất Thăng Long.

Trường giang phẳng lặng kìa sông Nhị,

Cổ thụ xanh um nọ núi Nùng.

Cửa Bắc chưa tan hồn chính khí,

Đống Đa còn rạng vẻ anh hùng.

Thanh niên ta những ai ai đó,

Ngắm cảnh mà xem có tiếc không?

Những cảnh ngang tai trái mắt ở Hà Nội, ông trông thấy cũng được ghi chép lại:

Rủ nhau thăm chợ Hàng Hoa,

Trông người ta ngắm đến ta, ta sầu.

Người Tây uống rượu đánh cầu,

Bồi xe, bồi ngựa, vú hầu là ai?

Ở Hà Nội, ông tham gia nhóm nghiên cứu văn học cổ và rất nhạy bén trước những biến động trên diễn đàn văn học. Nhiều khi ngòi bút nghị luận của ông cũng biểu hiện khá sắc sảo. Lần ông từ Hà Nội về thăm gia đình, ông cảm xúc viết bài thơ Đường luật chữ Hán:

 

Hà thành thoại sự

Gia nhi bạt thiệp tự thần châu,

Lạc thoại Hà thành cựu đế đô.

Trấn Vũ đường đàn tranh tự cẩm,

Ngọc Sơn bi tháp nhuận ư tô.

Giang bình lộ tĩnh thiên vô dạ,

Hồ sắc sơn quang nguyệt bán phô.

Tối ái giang sơn thùy thị chủ,

Nhạ quang y cựu tiếp thiên phù.

 

Kể chuyện Hà thành

Hà Nội mong tin mãi đến giờ,

Con về vui kể chuyện thành đô.

Ngọc Sơn tháp bút còn in vẻ,

Trấn Vũ ngôi đền tựa gấm tô.

Đường phố đêm khuya đèn rực sáng,

Hồ Gươm nước lặng ánh trăng phô.

Non sông tươi đẹp ai là chủ,

Rực rỡ ngàn xưa mảnh địa đồ.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Năm Giáp Tuất (1934) mẹ ông mất. Ông rời Hà Nội về cư tang. Một thời gian sau, ông lại bị người ta hối thúc ra làm Chánh hương hội. Cái vòng phiền lụy ở nông thôn lại lẩn quẩn buộc vào ông cũng không ít điều ngang trái. Ông nhận thức ra rằng cái sở học của ông không giúp gì cho ông trong hoàn cảnh hiện tại. Chạnh lòng, ông lại cầm bút viết bài Tự trào:

Học để mà chơi khoe mẽ chơi,

Nhọc nhằn chi lắm - mộng mà thôi.

Ống thơ giá bút - chừng trong trắng,

Luống cúc, thềm lan - vẻ thảnh thơi,

Ba bận rách bìa thông nghĩa Dịch,

Năm xe chở chữ hẳn hơn người.

Nước nhà có đạo sao nghèo thế,

Đến cụ Nhan Uyên khó trả lời.

Đến năm 1944 - 1945, quân đội Đức, Ý, Nhật thua to, đại chiến thế giới lần thứ hai sắp kết thúc. Không khí Tổng khởi nghĩa sôi nổi khắp mọi miền từ Bắc đến Nam. Ngày 19-8-1945, nhân dân ta giành chính quyền ở Hà Nội. Mấy ngày sau đó, quê hương ông cũng rợp đường cờ đỏ sao vàng, chính quyền về tay nhân dân. Ông cũng hòa trong niềm vui mừng chung ấy, hăng hái tham gia hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc ở địa phương. Mấy năm sau, trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, ông viết bài Thơ Xuân kháng chiến bằng chữ Hán rất hào hùng:

西

 

Xuân kháng chiến thi

Kỉ niên kháng liệt đả Tây nhung,

Tý Sửu trường kỳ khởi chiến phong.

Tam quyển binh thư tằng thục độc,

Tứ cường chiến lược mạc tranh hùng.

Nhất tâm hùng hổ dương oai vũ,

Tứ nặc sài lang dĩ vọng phong.

Dực chẩm thiên thư nguyên định phận,

Bỉ cừu vật tự Á chi Đông.

 

Thơ xuân kháng chiến

Kháng chiến trường kỳ đã mấy năm,

Qua thời Tý, Sửu đánh càng hăng.

Binh thư các cụ từng thông thuộc,

Chiến lược bè bay chớ thị hùng.

Cả nước một lòng lo giết giặc,

Quân thù bạt vía chạy không xong.

Vùng trời Dực, Chẩn phân chia rõ,

Nhòm ngó Đông Nam à chớ hòng.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Chiến công của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, thơ chữ Hán của ông cũng thật phấn chấn tự hào, nói được truyền thống anh hùng của dân tộc ta và tin tưởng vào cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Kẻ thù sẽ bại vong, chúng ta sẽ toàn thắng. Tư tưởng tình cảm của ông thể hiện trong bài:

滿

 

Kháng chiến thắng lợi

Bỉ cừu vật tự Á chi Đông,

Trục Mãn kháng Nguyên cái thế hùng.

Khích trọc nhiễu tha không thủy lục,

Thanh trần tảo tận Bắc Nam Trung.

Tham tàn vị miễn ư cùng khổn,

Ngược đãi chung hoàn dĩ bại vong.

Nam quốc sơn hà Nam tự chủ,

Thiên thu hoa biểu cựu đề phong.

 

Kháng chiến thắng lợi

Xâm lăng Đông Á chớ mà mong,

Đuổi Mãn trừ Mông tiếng khắp vùng.

Quấy rối bọn bay không thủy lục,

Dẹp yên bờ cõi Bắc Nam Trung.

Tham tàn chẳng thoát vòng cùng khốn,

Bạo ngược rồi ra chịu bại vong.

Sông núi trời Nam, Nam tự chủ,

Ngàn năm dân tộc vẫn anh hùng.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Một hôm đưa tiễn một nhà sư cán bộ vào Nam làm công tác địch vận, ông đã viết tặng một bài thơ chữ Hán. Lời thơ thật đằm thắm, chúc người vào nơi địch tạm chiếm lập được nhiều công trạng.

餞 禪 僧 敵 運 幹 部 南 行

者 番 蹤 跡 伴 嚴 林,

扒 露 披 荊 以 有 今.

好 向 清 風 和 道 思,

肯 於 濁 界 露 婆 心 .

久 懷 濟 世 安 邦 策,

逐 了 烟 波 白 浪 深 .

南 地 荣 君 歸 去 後,

作 船 作 楫 作 甘 霖 .

 

Tiễn thiền tăng địch vận cán bộ Nam hành

Giả phiên tung tích bạn nghiêm lâm,

Bát vụ phi kinh dĩ cửu câm.

Hảo hướng thanh phong hòa đạo tứ,

Khẳng ư trọc giới lộ bà tâm.

Cửu hoài tế thế an bang sách,

Trục liễu yên ba bạch lãng thâm.

Nam địa vinh quân qui khứ hậu,

Tác thuyền tác tiếp tác cam lâm.

 

Tiễn nhà sư cán bộ địch vận vào Nam

Ẩn náu rừng sâu đã bấy lâu,

Vốn quen nắng dãi với mưa dầu.

Nương theo gió mát nâng hồn đạo,

Chặn đứng bùn nhơ vẫn cõi mầu.

Vì nước vì dân vai gánh nặng,

Yên tăm yên sóng chốn lòng sâu.

Vào Nam chúc bạn nên công trạng,

Làm mái chèo đưa bạn đến mau.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Trong tập bản thảo Cuộc đời và thơ văn của ông Phạm Ngọc Trâm do con cháu tập hợp từ những sách vở cũ ghi chép của ông để lại, tuy chưa đầy đủ mà đã có tới hàng trăm bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, câu đối, bài ca, giai thoại,… Riêng về tình cảm gia đình, ông có hai bài thơ đáng chú ý. Một bài ông khóc cháu gọi ông là bác ruột. Anh Phạm Văn Truật, con cả ông Phạm Ngọc Ruẩn. Anh là đại đội trưởng một đội tự vệ chiến đấu. Anh đã hi sinh trên đường hành quân giành chính quyền ngày tổng khởi nghĩa. Tiếc thương cháu, ông viết bài:

泣 侄 范 文 怵

馬 笔 行 行 墨 未 晞,

視 之 猶 子 愛 猶 兒 .

丁 寧 早 冀 成 家 望,

慷 慨 爰 題 報 國 詩 .

寂 寞 江 頭 千 里 眼,

悠 悠 水 國 百 年 期 .

夫 非 為 慟 而 誰 為,

一 日 難 亡 十 二 時 .

 

Khấp điệt Phạm Văn Truật

Mã bút hàng hàng mặc vị hy,

Thị chi do tử ái do nhi.

Đinh ninh tảo kí thành gia vọng,

Khảng khái viên đề báo quốc thi.

Tịch mịch giang đầu thiên lý nhãn,

Du du thủy quốc bách niên kỳ.

Phù phi vi đỗng nhi thùy vị,

Nhất nhật nan vong thập nhị thì.

 

Khóc cháu Phạm Văn Trật

Dòng thư viết vội mực chưa khô,

Yêu quí như con chẳng khác xưa.

Gia thất tình riêng đang ngóng đợi,

Non sông nghĩa nặng đã không chờ.

Hồn lưu nước bạc danh còn mãi,

Phách vướng lòng sâu ảnh chẳng mờ.

Đau đớn nỗi niềm khôn giãi tỏ,

Nhớ thương vương vấn đến bao giờ.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Bài thứ hai, ông gửi cho người còn trai thứ ba là Phạm Quang Lịch sống ở miền Nam. Nghe nói anh Lịch là nhà thơ có bút danh Đồng Vọng, thơ hay có tiếng. Sau ngày giải phóng miền Nam, nhà thơ Xuân Diệu vào Nam có tìm đến gặp gỡ trao đổi văn chương. Bài thơ của ông Nguyệt Viên gửi cho con như sau:

寄子

,

.

,

.

,

.

,

.

 

Ký tử thi

Mao lý tình thâm cửu biệt ly,

Xuân hoa thu nguyệt đỗng hà ty.

Lưỡng kinh viễn cách tam thiên lý,

Nhật nhật nan vong thập nhị thì.

Tái Bắc vân trường cô nhạn ảnh,

Giang Nam xuân vọng lão nga my.

Tạc lai kỉ độ tương tư mộng,

Mã túc qui âm nghĩ hậu kỳ.

 

Thơ gửi cho con

Vắng bóng lều tranh đã bấy lâu,

Tháng năm lần lữa chất thêm sầu.

Hai kinh vời vợi bao xa cách,

Chín khúc tơ vò lắm nỗi đau.

Phương Bắc mơ màng thương nhạn lẻ,

Miền Nam mong ngóng mỏi mày chau.

Hình ai phảng phất về trong mộng,

Gặp gỡ e rằng chậm vó câu.

Phạm Kỳ Nam dịch

 

Khi người anh trai cả vào Nam thăm em, nhà thơ Đồng Vọng đã gửi về thăm cha bài thơ Nôm như sau:

Ông hỡi làm sao thế hỡi ông,

Chông gai chưa hết việc gai chông.

Hát hò đã lắm câu hò hát,

Công của thu hoài hết của công.

Có nước chẳng làm cho nước có,

Không nhà toan tính chuyện nhà không.

Bụi bờ rồi cũng ra bờ bụi,

Sông núi muôn đời vẫn núi sông.

Người anh cả từ miền Nam trở về, đọc thư em gửi cho cha nghe. Nhưng khi đó ông yếu mệt, nghe rồi chỉ còn nói nhỏ lặp đi lặp lại bốn tiếng: “Ngã tâm thê chi! Ngã tâm thê nhi!”. Nói xong, ông trút hơi thở cuối cùng.

Trong bản thảo con cháu sưu tập Thơ văn của Nguyệt Viên Phạm Ngọc Trâm có chép nhiều giai thoại, trong đó có một giai thoại ghi việc ông cùng mấy bạn đến thăm nghệ sĩ hát ca trù Quách Thị Hồ ở Hà Nội. Người viết bài này xin chép lại và đặt tên giai thoại đó là Một khúc Hồ cầm:

Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều năm nhà thơ Nguyệt Viên Phạm Ngọc Trâm sống ở Hà Nội. Có lần, ông cùng bạn bè rủ nhau đến thăm nữ nghệ sĩ Quách Thị Hồ. Khi đó, nữ nghệ sĩ họ Quách đã rất nổi tiếng, trong nhà luôn có khách văn nhân tài tử đến để được thưởng thức tài nghệ của bà. Khi đó các ông chỉ được người nhà mời trà rượu ở nhà ngoài. Chờ đợi lâu chưa được gặp người nghệ sĩ tài hoa, ông Phạm Ngọc Trâm liền viết bài thơ gửi vào nhà trong cho bà:

Nức tiếng tài hoa đã bấy lâu,

Ngày xuân hạnh ngộ buổi ban đầu.

Lưng bầu rượu thánh nâng vài chén,

Nửa nút thơ thần thưởng mấy câu.

Hồng, Tuyết ân cần vui quạt nước,

Huệ, Lan thắm thiết mải têm trầu.

Lưu thủy cao sơn đà tỏ mặt,

Tư mã cho nghe khúc phượng cầu?

Chưa cạn tuần trà, các vị khách đã thấy người nhà chuyển ra bài thơ họa nguyên vận:

Khép cửa phòng thu đã bấy lâu,

Mong gì hợp ý với tâm đầu.

Chim còn liệng tổ khôn chăng lưới,

Cá đã no mồi khó cắn câu.

Đã trải nhạt nồng từng ấm lạnh,

Biết đâu mặn nhạt với sang giầu.

Dám xin gửi lại lòng quân tử,

Nhắc nhở làm chi chuyện hảo cầu.

Bài họa nguyên vận có nội dung trả lời thật xác đáng để chối từ. Tưởng như thế đã kết thúc, chẳng ngờ bài thơ họa lại trở thành sự thách thức, gợi thêm thi hứng cho Phạm Ngọc Trâm. Ông liền viết tiếp bài thứ hai và tài tình ở chỗ, câu nào cũng có một chữ “Hồ”:

Đem thân Hồ hải đứng phong trần,

Cửa khép song Hồ trải mấy xuân.

Bóng quế Hồ trong từng mỏi mắt,

Cung mây Hồ tới đã chồn chân.

Trắng phau Hồ ngọc in vầng thỏ,

Trong vắt Hồ băng tựa vẻ ngân.

Một khúc Hồ cầm gương bạc mệnh,

Ngựa Hồ xin gửi lại tình quân.

Bài thơ gửi vào nhà trong một lát thì nghệ sĩ Quách Thị Hồ vui vẻ bước ra, vừa cười vừa nói: “Xin bái phục tám chữ “Hồ” của khách văn chương, và xin phép được họa lại bằng bốn chữ “Trâm”, mong quí khách vui lòng:

Ngọc Trâm sẵn dắt mái đầu,

Trao Trâm phải lứa gieo cầu đúng nơi.

Cùng nhau Trâm quạt đổi rời,

Rút Trâm tặng lại một bài ca ngâm.

Một nghệ sĩ, một văn nhân cùng bè bạn chuyện trò thân mật, chân tình. Cũng từ đấy, mỗi người có thêm một người bạn trao đổi thơ văn tao nhã./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.79-96)

Phạm Đức Duật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm