VI | EN
11. Những bài vè qua sách chữ Nôm
tb2006

NHỮNG BÀI VÈ QUA SÁCH CHỮ NÔM

PHẠM ĐỨC DUẬT

Quận Thanh Xuân, Tp. Hà Nội

Vè là một thể loại sáng tác dân gian bằng văn vần mang tính kể chuyện về người thật việc thật xảy ra ở làng xã. Đó là loại vè thế sự. Nếu những sự kiện ấy phản ánh những sự kiện phổ biến vang động đến cả nước, thì gọi đó là vè lịch sử. Nhiều bài vè thế sự phản ánh những hiện tượng trái đạo đức, thuần phong mỹ tục như nạn rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, dâm ô trụy lạc... những bài vè phản ánh tầng lớp lao khổ ở nông thôn ngày xưa như Vè đi ở, Vè chăn trâu,... đã đạt đến trình độ cao về nghệ thuật. Những bài Vè về lịch sử phản ánh những cuộc khởi nghĩa nông dân, hoặc những cuộc đấu tranh chống pháp xâm lược như: Vè Chàng Lía, vè Bà Ba Cai Vàng, vè bà Thiếu phó, vè Quan Đình, vè Thất thủ Kinh đô, vè Tán Thuật, vè Đề Thám,... có sức truyền cảm mạnh mẽ trong dân gian.

Tuy nhiên, khi đi sưu tầm trên thực địa ở một tỉnh như Thái Bình, từ vài chục năm nay, chúng tôi thấy một thực tế là số lượng vè nhớ trong nhân dân còn khá nhiều, song nhiều bài đã mất đi, không còn ai nhớ nữa, và rất nhiều bài, các cụ bẩy, tám mươi chỉ còn nhớ từng đoạn, thậm chí mấy câu.

May thay, nhiều bài tưởng như mất đi, hoặc chỉ còn được truyền lại đứt đoạn ấy lại được các nhà nho nông thôn ở Thái Bình hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chép lại trong các sách chữ Nôm như: Phương ngôn quốc âm trích lục, Phương ngôn ký lược, Thiền Định xã chí, Tạ tộc kỷ niệm văn... có số lượng hàng trăm bài vè lịch sử, như vè Bùi Đá và Hoàng Sỏi, vè Phan Bá Vành, vè chống giặc biển, vè Tạ Hiện, vè Bang Tốn Thành Thà, Vè Đề Dần, vè Đốc Chính, Vè Đốc Nhưỡng, Vè Lãnh Hoan, Vè Đốc Phước, Vè Đề Hổ, Vè Sư Thuyền Quan, Vè Sư Năm Thượng, Vè Ông Lý Sung thay ông Giới, ông Mịch nuôi quân, Vè Ngũ Dinh, Vè Kỳ Đồng ở Yên Thế, Vè Thiên Binh đánh tỉnh,... Về vè bão lụt như bài Vè bão năm Quí Mão (1903), Vè Vỡ đê Phú Chử (1913), Vè vỡ đê Bỗng Điền và đê Hà Lão, Vè Nạn lụt (1921), Vè bảo Kỷ Tỵ (1929), Vè vỡ đê Hưng Nhân,...

Ở đây, xin giới thiệu bài Vè Thị Đề.

Thị Đề là vợ Đốc Nhưỡng. Đốc Nhưỡng tên đầy đủ là Đinh Khắc Nhưỡng, còn có tên khác là Đinh Quang Nghĩa, người thôn Phú Lãng Đông, xã Đô Kỳ, nay thuộc xã Đông Đô, huyện Hưng Hà. Họ Đinh này dòng dõi Thái sư Đinh Liệt là con thứ ba Đinh Tôn Nhân, quê gốc ở Khúc Thủy Cối, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ông là một trong mười tám người tham gia Hội thề Lũng Nhai, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở thế kỷ XV. Ông tham gia nhiều chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thời đó. Đinh Liệt đã cùng với Lưu Nhân Chú phục binh ở Chi Lăng, chém được tướng giặc là An Viễn hầu Liễu Thăng. Theo gia phả họ Đinh, ông đã cùng Chư tướng bắt được các tướng giặc như Lý An, Hoàng Phúc, Mộc Thạnh. Sau khi bình định được giặc Minh, Lê Lợi phong cho ông là Thái Bảo quận công, suy tôn là Trung Tán Trị Dương Vũ thần công. Ông làm bề tôi suốt bốn triều vua: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông. Đến thời Lê Thánh Tông, ông được phong là Thái sư Lân Quốc Công. Khi mất ông được phong là Trung Mục Đại vương.

Đinh Khắc Nhưỡng là cháu nhiều đời của dòng họ Đinh này. Ông là con thứ ba cụ Đinh Quang Khánh. Hồi nhỏ, Nhưỡng học chữ Hán thầy Lương Qui Chính. Khi Chính làm quan cho Pháp, Nhưỡng chuyển sang học thầy Nguyễn Hi, thường gọi là Xứ Hi, một người thầy nổi tiếng văn hay và giàu lòng yêu nước. Đinh Khắc Nhưỡng còn học võ ông Đinh Tiến Đức, làm Hiệp quản, được phong lục phẩm thời Tự Đức (1848-1883) giữ đồn tiền tiêu ở Quảng Yên. Vì bất mãn với việc đầu hàng giặc của triều đình, ông bỏ quan về làng mở trường dạy võ mong đào tạo người tài để cứu nước. Đinh Tiến Đức rất quý mến Nhưỡng. Muốn cho Nhưỡng giỏi cả văn, ông đã dẫn Nhưỡng sang thành Nam Định, gửi vào trường đại tập của ông Nghè Giao Cù là Vũ Hữu Lợi. Nhưỡng học ở đây được hai năm, nhưng sắp đến kỳ thi hương thì thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai. Ông Nghè Giao Cù cùng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị là thầy học cũ, lập căn cứ chống Pháp. Nhưỡng được giao sang đội “Anh danh giáo dưỡng” (giống như thiếu sinh quân sau này), dưới sự chỉ huy của ông Thành Thà, tức Nguyễn Khả Dã giữ chức Thành thủ úy thành Nam Định (người làng Phươn, nay thuộc xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà).

Sau khi thành Nam Định thất thủ (27-3-1883), các tướng lĩnh chia tay nhau về quê hương tuyển mộ nghĩa dũng, xây dựng căn cứ để chiến đấu lâu dài. Khi đó, ông Nghè Giao Cù về xây dựng căn cứ ở vùng Nam Định (Nam Định), ông Thành Thà về làng Nấp (Hưng Hà), Lãnh Hoan (tức Vũ Văn Hoan) về làng Thọ Vực (Đông Hưng) thì Đốc Nhưỡng về quê ở Đô Kỳ (Hưng Hà).

Vào thời điểm này, ở Nam Định có một việc làm kinh hoàng cả giới nhà Nho. Vũ Văn Báo là học trò ông Nghè Giao Cù Vũ Hữu Lợi. Sau khi Pháp chiếm được thành Nam Định, Vũ Hữu Lợi cùng Phạm Văn Nghị lập căn cứ chống Pháp, thì Báo ngấm ngầm làm gián điệp cho Pháp. Vì được Vũ Hữu Lợi tin cẩn, Báo đã vạch kế hoạch cho nghĩa quân chuẩn bị đánh thành Nam Định. Nhưng rồi chính Báo đã dẫn quân Pháp về bao vây bắt được toàn bộ tướng lĩnh của nghĩa quân, kể cả Vũ Hữu Lợi, thầy học của y. Khoảng mười ngày sau Báo hèn hạ đem ông Nghè ra pháp trường xử tử.

Nhân dân vùng Nam Định, Thái Bình vô cùng căm phẫn Vũ Văn Báo. Quyết không tha tội tên phản quốc, phản thầy này, Đốc Nhưỡng đã lập mưu bắt Báo, giết đi, thiêu thân hắn để tế thầy và làm lễ tế cờ khởi sự.

Theo Phạm Văn Thụ trong Thái Bình tỉnh thông chí, tháng 11 năm Thành Thái thứ 2 (1890), Đốc Nhưỡng cùng một số nghĩa quân mặc giả quần áo lính tập, đến xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xương, nay thuộc Hà Nam, bắt Vũ Văn Báo và kết liễu đời tên phản bội này tại làng Khả Lậu, nay thuộc xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà.

Nghĩa quân của Đốc Nhưỡng hoạt động khi ẩn, khi hiện, quân Pháp phải chống cự rất vất vả. Bọn sĩ quan Pháp lập kế bắt Phạm Thị Đề là vợ Đốc Nhưỡng lên đồn Đô Kỳ ép phải lấy quan đồn Tây. Được tin ấy, Đốc Nhưỡng viết một tờ đơn bằng văn vần để vợ gửi cho Tri huyện Thần Khê xin ly dị chồng. Nhận được đơn, Tri huyện Thần Khê rất khó xử. Nếu y phê đơn không cho Phạm Thị Đề lấy quan đồn thì sợ mất lòng quan đồn, Đốc Nhưỡng sẽ về lấy đầu y. Cuối cùng, y đã nghĩ ra mấy câu văn vần để phê đơn rất khéo.

ĐƠN PHẠM THỊ ĐỀ XIN LY DỊ CHỒNG

Bẩm quan Tri huyện Thần Khê,

Tên con là Phạm Thị Đề làng Sang.

Thuộc về trong hạt phủ Tiên,

Làm đơn khiếu tội võ biền phu gia.

Cùng người trong huyện hạt nhà

Chính danh khắc Nhưỡng, chức là Đốc binh.

Tháng năm chống đối triều đình

Về Sang gặp thiếp duyên tình lấy nhau.

Biết bao ý hợp tâm đầu

Không ngờ từ thuở thuyền tàu càn vây.

Nhưỡng đưa thiếp lánh về đây

Rồi bỏ đi biệt ít ngày gặp nhau.

Sớm đứng ngõ, tối trông sao

Ngẩn ngơ ngơ ngẩn biết bao đợi chờ.

Thế rồi đồn đóng Đô Cờ

Nhưỡng về đánh trận càng thờ ơ hơn.

Mới rồi quan gọi lên đồn

Được tin, Nhưỡng lệnh bắt luôn thiếp mà.

Bắt đem ra bãi tha ma

Nhưỡng tra, Nhưỡng hỏi, thiếp đà thực khai.

“Lên đồn gặp mặt quan hai

Bảo thiếp bỏ Nhưỡng lấy ai - đồn giùm”.

Thiếp rằng: “Phận đã hứa hôn,

Lẽ đâu thay đổi luôn luôn được nào.

Chồng con dù có thế nào

Chẳng như châu chấu sáng vào tối ra”.

Đồn rằng: “Thời ấy đã qua”.

Bây giờ bảo hộ đâu là thờ vua”.

Thiếp rằng: “Sớm nắng chiều mưa,

Thay chồng đổi chủ là đồ bỏ đi”.

Nhưỡng nghe thiếp kể vân vi

Không tin, còn đánh, bắt thì thực khai.

Thiếp lăn lóc thiếp kêu giời

Nhưỡng lệnh bảo thiếp: “Lấy ai cho quyền!”

Thế rồi Nhưỡng bỏ đi luôn

Lính đã đưa thiếp về bên cửa hàng.

Thiếp buồn về ở làng Sang

Chồng đã phũ phàng, đồn lại bài bây.

Ngán cho cái buổi thời này

Thương cho phận gái đồn Tây đóng liền.

Thật là hẩm phận nát duyên

Thật là thời buổi đảo điên nghĩa tình.

Thế là giữa buổi văn minh

Mọi người vinh hiển riêng mình thiếp đau.

Làm đơn thiếp những dãi dầu

Bỏ Nhưỡng lòng thiếp đớn đau rất nhiều.

Nhưng vì đồn cứ sớm chiều

Bắt thiếp bỏ Nhưỡng để yêu quan đồn.

Trước sự thế, thiếp lệ tuôn

Làm đơn bỏ Nhưỡng xin quan thương giùm.

Vì rằng Nhưỡng đã cho quyền

Bước đi nữa vui duyên cùng đồn.

Xin quan soi xét căn nguyên

Phê cho thiếp được ly hôn kịp thì.

Để đồn khỏi phải tình nghi

Chẳng phải nội ứng thị phi rạch ròi.

Để thiếp đỡ khổ hơn người

Để thiếp đỡ phận ngậm ngùi cô đơn.

Lời hèn chẳng dám chi hơn

Chỉ mong lượng cả gia ơn thiếp nhờ.

Nộp đơn lòng thiếp trông chờ

Cúi mong phụ mẫu khoan từ giúp cho.

LỜI PHÊ CỦA TRI HUYỆN THẦN KHÊ

Nhưỡng đi rồi Nhưỡng lại về

Làm thân phận gái liệu bề nói năng.

Quan phê đôi chữ cho rằng:

“Lấy ai thì lấy, tội mang mặc mày!”

Huyện Thần Khê, xưa nằm trong phủ Tiên Hưng, nay thuộc huyện Đông Hưng. Làng Sang, tức làng Khả Lang, nay thuộc xã Quỳnh Châu huyện Quỳnh Phụ phủ Tiên Hưng xưa gồm ba huyện: Thần Khê, Duyên Hà và Hưng Nhân. Phủ Tiên Hưng lúc này còn thuộc tỉnh Hưng Yên. Từ năm Thành Thái thứ 2 (1890) thuộc tỉnh Thái Bình.

Tháng 11 và tháng 12 năm 1885, Pháp đem 10 đại đội bộ binh, hai trung đội pháo binh, một đoàn thuyền máy và vài chiếc phóng ngư lôi hạm. Tất cả do tướng Munier (Mu-nhê) cầm đầu, chia làm ba đạo để càn quét, đốt phá làng mạc. Trước số bộ binh và thủy quân địch mạnh, nghĩa quân không giáp chiến trận nào lớn, chỉ chiến đấu lẻ tẻ.

Đô Cờ, tức làng Đô Kỳ, nay thuộc xã Đông Đô, huyện Hưng Hà.

Ngày 17 tháng 6 năm Thành Thái thứ ba (1891) Đốc Nhưỡng tập hợp 100 nghĩa binh mặc quần áo lính tập, có đầy đủ vũ khí, tiến công thị xã Thái Bình. Cuộc xung đột dữ dội này đã làm cho tiền quân Khái bị thương và trốn về Thư Trì, thì bị viên tri huyện ở đó là Nguyễn Duy Tiên bắt được, nộp cho công sứ Thái Bình. Còn Đốc Nhưỡng thì chạy lên Sơn Tây, cuối cùng cũng bị phát giác, giặc bắt ông giải về Hà Nội.

Bài Vè Thị Đề gồm phần Đơn Phạm Thị Đề xin ly dị chồng và Lời phê của Tri huyện Thần Khê là minh chứng soi sáng thêm cho những sự kiện thời kỳ cận đại của lịch sử địa phương./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.126-132)

Phạm Đức Duật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm