11. Về hai tấm bia mộ mới phát hiện tại thôn Kim Thạch, xã Minh Ngọc, huyện Bắc Mê, Hà Giang (TBHNH 2003)
VỀ HAI TẤM BIA MỘ MỚI PHÁT HIỆN TẠI THÔN KIM THẠCH,
XÃ MINH NGỌC, HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
TRÌNH NĂNG CHUNG
TS. Khảo cổ học
NGUYỄN HỮU TƯỞNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Theo đề nghị của Bảo tàng tỉnh Hà Giang, Viện Khảo cổ học Việt Nam đã cử một đoàn cán bộ lên khảo sát những di tích và di vật tại địa bàn thôn Kim Ngạch, xã Minh Ngọc, huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang.
Hai tấm bia nằm gần trung tâm xã Minh Ngọc, cách trụ sở UBND xã Minh Ngọc khoảng 3 km về phía Nam. Địa điểm phát hiện được nhiều đồ gốm sứ cổ thuộc đội I Hợp tác xã Kim Thạch. Địa hình vùng này là một thung lũng lớn vùng ô van chạy dài từ Bắc đến Nam, xung quanh là những dãy núi, đồi thấp bao bọc. Chảy dọc theo mạn phía Đông của thung lũng là dòng suối Khuổi Mạ, thành phần cư dân chủ yếu là người Tày trú chủ yếu dọc những doi đất ven suối.
Qua khảo sát, Đoàn khảo sát quyết định đào 4 hố thăm dò tại khu vực Nà Lằm. Khu vực này nằm cách bờ suối Khuổi Mạ khoảng gần 100m về phía Tây, cách núi Lằm khoảng 500m về phía Đông. Tại đây đoàn đã phát hiện được nhiều di vật cổ, đặc biệt là hai tấm bia chữ Hán.
* Chiếc bia thứ nhất
Tại Nà Lằm, ngày 25-11-2003, ông Ngô Văn Long đã phát hiện được một tấm bia được khắc trên một phiến đá mỏng trong khu ruộng nhà ông nằm ở độ sâu 0,40m. Chiếc bia được phát hiện trong tư thế nằm úp mặt có chữ xuống dưới, phía dưới tấm bia chừng 20 cm phát hiện được 2 bát sứ thời Lê (thế kỷ 15-16) với đặc điểm chân cao, lòng sâu, có ve lòng, đáy có bôi son màu sẫm, hoa lam hình cánh sen cách điệu trên thân bát.
Bia được khắc trên một phiến đá mỏng có 2 mặt khá phẳng dài 91 cm, rộng trung bình 28 cm, dày 8 cm. Bia có 18 chữ Hán được khắc theo 2 cột dọc, cột bên phải có 10 chữ, cột bên trái 8 chữ như sau:
近 化 阮 鄉 西 李 什 大 郎
亡 父 才 吏 正 魂 之 立
Phiên âm:
Cận hóa Nguyễn hương tây lý thập đại lang
Vong phụ tài lại chính hồn chi lập
Việc giải nghĩa những dòng chữ trên cần phải có sự nghiên cứu trợ giúp của tài liệu sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian... trong vùng. Chúng tôi tạm đưa ra một cách hiểu như sau:
近化(Cận Hóa) là địa danh,
阮鄉(Nguyễn hương) là địa danh,
西李(Tây Lý) là địa danh, một đơn vị hành chính cổ mà hiện ta chưa rõ,
什大郎(thập đại lang) người con trai trưởng tên là Thập, hoặc thuộc chi thứ 10.
才吏(tài lại) chức vụ hoặc tên hiệu người cha.
Như vậy chúng ta tạm hiểu đây là bia mộ do người con trai trưởng tên là Thập (hoặc thuộc chi thứ 10) ở Tây Lý, làng Nguyễn lập cho người cha có chức vụ là Tài lại (hoặc hiệu là Tài Lại).
* Chiếc bia thứ hai:
Do đoàn khảo sát phát hiện ngày 28-11-2003 tại khu vườn nhà anh Nông Văn Phong, nằm ở độ sâu 0,45m. Cũng giống như chiếc thứ nhất, chiếc bia này được tìm thấy trong tư thế nằm úp mặt có chữ xuống dưới. Vị trí phát hiện chiếc bia thứ hai cách bia thứ nhất khoảng 8m.
Bia được khắc trên một phiến đá mỏng có 2 mặt khá phẳng dài 115cm, rộng trung bình 29cm, dày 10cm. Có 9 chữ Hán được khắc theo 1 cột dọc như sau:
近化龍州號敬義娘清
Phiên âm: Cận hóa Long Châu hiệu kính nghĩa nương thanh.
近化(Cận Hóa) 龍州(Long Châu) là địa danh
號敬義娘清(hiệu Kính Nghĩa Nương Châu), người phụ nữ có hiệu Kính Nghĩa Nương Thanh.
Tuy bia này không có những chi tiết để xác định là bia mộ như bia trên nhưng qua hình thức và nơi phát hiện, chúng tôi vẫn xác định đây là bia mộ. Vậy có thể hiểu đây là bia mộ của người phụ nữ có hiệu là Kinh Nghĩa Nương Thanh, người Long Châu, Cận Hóa. (Long Châu là một huyện cực nam Quảng Tây Trung Quốc, giáp với tỉnh Hà Giang, Việt Nam).
Ngoài 2 tấm bia có khắc chữ Hán ra, còn một số tấm đá khác có kích cỡ tương tự, nhưng không có chữ cũng được nhân dân phát hiện trong quá trình đào tìm hiện vật cổ.
Một vài nhận xét:
1. Tổng hợp các dữ kiện khảo cổ như sự có mặt của những bia đá có khắc chữ và không có chữ, kèm theo là những di vật đồ gốm sứ, dấu vết than tro vv... chúng tôi cho rằng đây là những dấu tích một khu mộ cổ thuộc thế kỷ 15 đến thế kỷ 17. Những tấm đá có khắc chữ và không khắc chữ chính là những tấm bia ghi dấu mộ.
2. Theo những tài liệu khảo cổ mới phát hiện được ở Bản Lòa xã Thúy Loa, và bản Túc Lương xã Trùng Khánh huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang (rất gần với xã Minh Ngọc, Hà Giang), các nhà khảo cổ cũng phát hiện được những hiện tượng tương tự địa điểm Kim Thạch, Minh Ngọc. Theo nghiên cứu ban đầu đó là những mộ cổ của người Tày thuộc thế kỷ 16-18. Dựa vào sự so sánh những tài liệu nói trên, chúng tôi cho rằng khu mộ cổ là khu mộ Tày cổ. Đây là lần đầu tiên khảo cổ học mới tiếp cận được các tài liệu về mộ cổ của người Tày. Việc nghiên cứu kỹ những khu mộ này sẽ góp phần tìm hiểu lịch sử phát triển của dân tộc Tày, cũng như là mối quan hệ của dân tộc Tày trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 85-88