11 . Về tác giả một bài Nữ huấn (TBHNH 1998)
MỘT TÁC GIẢ MỘT BÀI NỮ HUẤN
PHẠM VÂN DUNG
Đại học KHXH và Nhân văn
Gia đình là trường học đầu tiên của mỗi con người mà ở đó người mẹ đóng vai trò người thầy đầu tiên. Do vậy, giáo dục gia đình, giáo dục người phụ nữ trong gia đình đương nhiên trở thành lĩnh vực đáng được coi trọng. Từ xưa, các nhà Nho có lẽ đã ý thức rất rõ điều đó khi đặc biệt chú ý tới việc biên soạn, sáng tác các tác phẩm Gia huấn – sách có nội dung khuyên dạy con cái trong nhà, mà Nữ huấn – sách dành riêng cho con gái khảo sát tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và sưu tầm tại địa phương, Nữ huấn lên tới con số 23 quả là một tỷ lệ không nhỏ. Xung quanh những văn bản này, chúng ta sẽ còn tìm tòi, thu nhận được không ít những bài học quý báu về nội dung giáo dục, phương thức giáo dục cũng như nhiều ý nghĩa học thuật khác. Tuy nhiên ở bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập tới một bài Nữ huấn và chủ yếu dưới góc độ văn bản học, cụ thể là tìm hiểu ai là tác giả của phần diễn Nôm của tác phẩm này.
Khảo sát tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay có hai tên sách loại Nữ huấn có nội dung giống nhau:
1. Cổ huấn nữ ca: Là một bài ca cổ khá hay được viết bằng chữ Nôm, dạy con gái về cách cư xử từ khi còn ở nhà với cha mẹ tới khi xuất giá trở thành một nàng dâu, một người vợ, người mẹ, nằm trong sách Thánh tổ hành thực diễn âm ca mang ký hiệu VHv.2380 do Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962, Nguyễn Tấn Minh kiểm duyệt (Theo lợi ghi trong trang 18b). Sách gồm ba phần được sắp xếp theo thứ tự: Thánh tổ hành thực diễn âm ca; Cổ huấn tử ca; Cổ huấn nữ ca; trong đó, chỉ có phần Thánh tổ hành thực diễn âm ca ghi chú rõ là do Tiến sĩ, Tuần phủ họ Đặng đã trí sĩ vâng soạn (Tiến sĩ lĩnh Tuần phủ trí sĩ Đặng phụng soạn. Trang 1b), được khắc in năm 1898 (Thành Thái, Mậu Tuất niên đông, thập nguyệt, cát nhật tân thuyên. Trang 3). Nhìn vào cách bố cục của sách, chúng ta có thể đoán định Cổ huấn tử ca và Cổ huấn nữ ca có tính chất như phần Phụ chép. Đã có tính chất như phần Phụ chép, không có lạc khoản cụ thể thì khó có thể xác định đây là tác phẩm do Đặng Xuân Bảng soạn. Nhưng cũng chính vì cách sao chép không ghi chú rõ ràng này dễ dẫn tới sự lầm tưởng cho rằng Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng là tác giả của Cổ huấn nữ ca. Vậy thực chất đây là bài ca của ai? Ra đời khi nào? Cổ huấn nữ ca có phải tên thực của tác phẩm?
2. Huấn nữ diễn âm ca tân đính: Ký hiệu AC.552. Sách in chữ Nôm, tại đàn Khuyến Thiện, Nam Định gồm 28 trang, khổ 26 x 13,5 cm, 1 bài dẫn, 1 mục lục.
Bản thân tên tác phẩm đã cho biết đây là bản hiệu đính lại của Huấn nữ diễn âm ca. Sau tiêu đề cho biết cụ thể hơn: Canh Tý niên xuân nguyệt phụng san vu An Khánh, Bồng Hải, Hiếu Thiện chi tư thục đường. Nghĩa là: Tháng xuân năm Canh Tý (1900) phụng in ở nhà tư thục Hiếu Thiện, Bồng Hải, An Khánh.
Sau lời tiểu dẫn cũng ghi: Nhâm Dần niên, quý xuân trùng san. Nghĩa là: Cuối xuân năm Nhâm Dần (1902) in lại.
Như vậy, đây là lời dẫn khi in lại từ lời dẫn của Đặng Trung Trai viết ngày 15 tháng 10 mùa đông năm 1899, khi dạy học ở nhà tư thục Trình Phố, Trực Định, mà cuối lời dẫn ghi rõ: Thành Thái thập nhất niên Kỷ Hợi đông, thập nguyệt, vọng nhật, Công Thiện Đường Đặng Trung Trai tự vu Trực Định, Trình Phố chi tư thục đường.
Cũng chính vì đây là bản in lại sau mấy năm nên có sự thiếu thống nhất: Trong lời dẫn (đã sửa lại) cho biết bản Nữ huấn do hai học trò Đặng Trung Trai là Đình Thiết và Viết Huyến diễn Nôm, đem tới cho Đặng Trung Trai giám định (dư môn nhân Đình Thiết, Viết Huyến nhị tử nhân phân môn loại diễn vi quốc âm). Nhưng trước khi vào phần nội dung chính lại chú: Công Thiện Đường Đặng Trung Trai giám định, môn nhân: Động Trung, Nguyễn Đình Tứ, Cổ Am, Lê Viết Huyến phụng diễn (Đặng Trung Trai – Công Thiện Đường giám định, học trò là Nguyễn Đình Tứ người Động Trung và Lê Viết Huyến người Cổ Am phụng diễn).
Về tên người giám định thống nhất là Đặng Trung Trai, nhưng còn tên một người diễn Nôm thì vẫn còn nghi vấn là Đình Tứ hay Đình Thiết?
Trong khi câu hỏi còn chưa có lời giải đáp thì rất may mắn, chúng tôi lại sưu tầm được tại Thái Bình một bản Huấn nữ diễn âm ca, sách chép tay, 31 trang, khổ 22 x 13cm. Sau tên sách nói trên có một dòng 5 chữ: Công Thiện Đường san bản. Tiếp đó là lời huấn dẫn bằng chữ Hán. Lời huấn dẫn này cũng không sai khác nhiều so với lời tiểu dẫn trong Huấn nữ diễn âm ca tân đính. Người giám định sách vẫn là Đặng Trung Trai, hiệu là Công Thiện Đường, thời điểm viết huấn dẫn vẫn là vào ngày 15 tháng 10, mùa đông, niên hiệu Thành Thái thứ 11 (1899), khi dạy học tại nhà tư thục Trình Phố. Nhưng tên hai người diễn Nôm đều thống nhất là Nguyễn Đình Tứ và Lê Viết Huyến.
Qua khảo dị cho thấy, về mặt câu chữ diễn Nôm, cả ba bản không khác nhau nhiều, có điều cả hai bản tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm đều thiếu 6 câu so với bản sưu tầm.
Nhìn vào thực trạng rách nát của văn bản và những điều cụ thể trên, cho phép chúng ta suy ra, không phải bản chép tay mới sưu tầm sao chép từ bản in trên. Và nếu không phải nguyên bản thì nó có thể được sao chép từ nguyên bản khá sớm. Từ đây cũng có thể nói, những thông tin về tác giả, thời điểm ra đời và tên tác phẩm của văn bản này là đáng tin cậy.
Qua những cuộc tiếp xúc gần đây, chúng tôi thấy vẫn còn một số cụ già vùng Kiến Xương, Tiền Hải (Thái Bình) thuộc lòng bài Nữ huấn này và nói, trước đây nó được phổ biến khắp hai tỉnh Thái Bình, Nam Định.
Trong tình hình văn bản trên, chúng tôi chọn văn bản chép tay mới sưu tầm làm bản trục để so sánh đối chiếu với hai văn bản kia, tìm ra một văn bản gần nguyên bản nhất.
Về Đặng Trung Trai, ông tên thật là Đặng Ngọc Toản, em ruột Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828-1910). Đặng Ngọc Toản học giỏi, đỗ Cử nhân năm Tự Đức, Mậu Thìn (1868) và làm Giáo thụ phủ Kiến Xương (Thái Bình). Ông từng dạy học ở Động Trung, Trình Phố, Vũ Lăng,… và Đặng Xuân Bảng cũng từng dạy học ở Lại Trì, đều thuộc huyện Trực Định, phủ Kiến Xương cũ. Học trò của anh em Đặng Xuân Bảng, Đặng Ngọc Toản, những khoa thi Hương cuối thế kỷ 19, 20 thường có số lượng đỗ đạt đông nhất trường Nam. Về trước thuật, ông không có nhiều sách để lại như Đặng Xuân Bảng, song ngoài Huấn nữ diễn âm ca, ông còn có Âm chất diễn âm ca (A.116) và Quốc triều lịch khoa hương sách tập (A.486). Vì thế, cơ bản nội dung tư tưởng Huấn nữ diễn âm ca của thầy trò Đặng Ngọc Toản cũng chính là tư tưởng chủ đạo của gia đình Nho học Đặng ở Hành Thiện, tỉnh Nam Định.
Để kết thức bài viết ngắn này, xin trích một câu của Đặng Trung Trai viết trong lời dẫn Huấn nữ diễn âm ca: Cổ lai gia đạo chi thịnh, vị bất hữu do hiền phụ nhi thành giả, nhi gia đạo chi suy diệc vị bất hữu do ngoan phụ nhi chí giả (Xưa nay, sự hưng thịnh của gia đạo chưa bao giờ không do người phụ nữ hiền thục tạo nên, mà sự suy vong của gia đạo cũng chưa bao giờ không do người đàn bà ương ngạnh mang lại). Như vậy, sự thịnh hay suy của một gia đình gắn liền phẩm cách của người phụ nữ. Người phụ nữ là nhân tố chủ chốt trong xây dựng gia đình. Muốn tạo nên gia đình tốt trước hết phải tạo nên người phụ nữ tốt. Và Nữ huấn được làm ra trên cơ sở quan niệm, nhận thức về vai trò của người phụ nữ đối với gia đình của nhà Nho là như vậy.
Ngót một thế kỷ đã trôi qua, nhưng có lẽ những giá trị tư tưởng, những lời khuyên nhủ thiết tha của Huấn nữ âm ca phần nào đó vẫn chưa hoàn toàn xưa cũ.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.96-100)