11. Về tấm bia tự thuật của Liêu Quận công Lê Hữu Kiều ở Liêu Xá (TBHNH 2009)
VỀ TẤM BIA TỰ THUẬT CỦA
LIÊU QUẬN CÔNG LÊ HỮU KIỀU Ở LIÊU XÁ
LÊ QUANG CHẮN
Viện Sử học
Trong đợt điều tra, khảo sát tại làng Liêu Xá xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên, chúng tôi có sưu tầm được nhiều tư liệu Hán Nôm (gia phả, bia ký, câu đối,...) liên quan đến dòng họ Lê Hữu. Trong số đó, có tấm bia tự thuật của Liêu Quận công Lê Hữu Kiều (1691 - 1760). Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản dịch:
Bài ký về lý lịch của Tốn Trai
Cư sĩ Tốn Trai, người làng Liêu Xá, Đường Hào, họ Lê, tên hồi nhỏ gọi là Nhượng, lớn lên gọi là Hữu Kiều, là con trai thứ 10 của cụ Hoàng giáp Thung Am Tiên sinh (Thế hệ quan tước của Tiên công đã ghi rõ ở bài ký Từ đường(1); con trai của Ngài 10, con gái 2; bản thân là con út). Mẹ là bà Dương thị(2) (cháu gái quan Thượng thư ở Lạc Đạo, cháu ngoại cụ Phạm Quốc lão làng Liêu Xuyên), bà sinh được 5 trai. Năm Tân Mùi, niên hiệu Chính Hòa thứ 12 (1691), tháng 9, ngày mồng 2 (Quý Sửu), giờ Ngọ cất tiếng chào đời. Mới được 3 tháng tuổi thì mất cha, 4 tuổi lại mồ côi mẹ. Được nuôi dưỡng ở nhà bà ngoại là quan Hiến phó Phạm phu nhân và cậu ruột là Vệ úy Lạc Sơn công. Lúc nhỏ, người gầy yếu. 7, 8 tuổi đã biết đọc sách chút ít. Lên 10 tuổi, người anh đầu là Phiên Đình công(3) đỗ Tiến sĩ kèm theo để dạy bảo. Tính con trẻ ham chơi, nhiều lần phiền đến răn đe, roi vọt. Năm 15 tuổi, thi Hương trúng Tam trường. Năm 18 tuổi, cùng với người anh ruột thứ hai là Phu Đình công(4) đỗ Hương giải. Hai anh liên tiếp có tin mừng thi đỗ, còn bản thân bị liệt vào hạng kém, bê trễ việc học tập; về sau biết thế là sai mới tu chí rèn luyện.
Năm 25 tuổi thi trúng thẳng Hoành từ(5), được bổ dụng một văn chức trong nội điện. 28 tuổi, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1718), rồi trải qua các chức: Sát đề hình Thanh Hoa, rồi nhậm chức Bắc Hiến(6). Vì bệnh lâu ngày, nên xin nghỉ việc. Được 3 năm, lại được cử làm Đốc đồng Thái Nguyên, thăng Đãi chế Thanh hiến Học sĩ, thị Tiết chế phủ, Tri Binh phiên; lại được cử làm Bồi tụng, Tri Lại phiên; thăng chức Tự khanh Tế tửu, được cử vào chức quan Thượng hầu mệnh. Năm 42 tuổi được cử làm Đốc trấn Cao Bằng; được một năm triệu hồi về triều thăng chức Phó đô Ngự sử. Vì có việc tang của mẹ đầu(7) nên xin giải chức. Năm 47 tuổi, thăng chức Thừa chỉ Hữu công, sung làm Phó sứ đi chúc mừng Bắc quốc(8). 2 năm sau trở về bái mệnh. Gặp buổi nước nhà nhiều việc, nên được điều đi trấn Nghệ An coi việc biên phòng, sau lại được sai đi Đốc chiến ở đạo Cẩm Thủy(9). Nhân đi Bắc sứ có công, được thăng Tả công, Liêu Đình bá. Năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Hưng (1740) được triệu hồi về làm Bồi tụng, thăng Đô ngự sử, vì có công trong việc quân nên được thăng tước Hầu, và được cử đi làm Lưu thủ Thanh Hoa. Năm Tân Dậu (1741), triệu hồi về kinh làm Bồi tụng. Năm Nhâm Tuất (1742) thăng Thượng thư Bộ Công, lại vâng mệnh đi Lưu thủ Thanh Hoa lần thứ hai. Năm Quý Hợi (1743) triệu hồi làm Tham tụng. Năm Giáp Tý (1744), lại vâng mệnh làm Đốc trấn Thái Nguyên. Năm Ất Sửu (1745), vâng mệnh làm Giám tri từ tụng. Năm Bính Dần (1746) vâng mệnh làm Tri cống cử coi việc thi Hội, lại vâng mệnh làm Tham thị Nghệ An. Năm Đinh Mão (1747) vâng mệnh về triều với chức Giám tri từ tụng như trước. Năm Mậu Thìn (1748) vâng mệnh làm Tri Cống cử coi việc thi Hội và làm Thượng thư Bộ Lễ. Năm Kỷ Tỵ (1749) vâng mệnh làm Tham tụng. Năm Canh Ngọ (1750) vânh mệnh đi giúp địa phương lập nền cai trị ở vùng đất Cổ Dương(10), lại được lệnh đi hộ giá bình giặc Tây. Năm Tân Mùi (1751) vâng mệnh giúp địa phương lập nền cai trị xứ Thanh Hoa. Năm Nhâm Thân (1752) với thành tích hộ giá và giúp địa phương như trên nên lần lượt được thăng làm Thượng thư Bộ Hình và Bộ Binh. Tự nhận thấy mình vụng về, nông cạn, không có tài, tuổi già, lắm bệnh cho nên đã mấy lần xin giải chức nhưng không được. Năm Giáp Tuất (1754), vâng lệnh vào chầu vua học tập và cũng năm ấy (ông) bị nhọt ở lưng nhưng may mà khỏi. Năm Ất Hợi (1755), ông 65 tuổi, trình bày theo lệ và đến ngày 26 tháng 10 năm ấy từ giã nhà vua về làng, được ban Thái kỳ (cờ hiệu), tám đôi câu đối cho xã dân sáu tổng trong huyện ra nghênh tiếp. Các quan trong triều đều đến họa tặng theo bài thơ xướng ở trên gửi tặng lụa là, tô tiền. Tự nghĩ khi còn nhỏ cô khổ, may mà thành người, về đức hạnh, văn học thật lấy làm thẹn với cha anh, cũng lạm kế gót khoa mục, qua các chức tướng văn, tướng võ, lại được dài tuổi thọ. Nhìn lại đường làm quan 40 năm qua, đứng giữa bình an và nguy hiểm, việc ứng xử rất khó khăn và nguy kịch. Thế mà đã tránh được tai họa, tránh được lỗi lầm, bảo toàn được danh tiết. Đó là phúc của kẻ ngu này chăng? Hay do đức dày của Tổ tiên để lại? Tự đặt hiệu là Tốn Trai, đó là có ý dùng cái tên gọi nhỏ bé để muốn giữ sự khiêm tốn về cái chí của mình, thế mà vẫn chưa làm được. Nay già rồi làm một nhà Nho mẫu mực thì không có sự hiểu biết thâm thúy của ông Liêm, ông Lạc; bàn về đạo thiền thì không có vốn trí thức của ông Bạch, ông Tô(11). Bóng dâu đã xế chiều, tự thấy không thể tịnh tiến được. May nhờ ơn trên, được chuẩn y cho nghỉ lại, được thăng Thượng thư Bộ Lễ và được cấp huệ dưỡng theo điển lệ. Có bài thơ tạ triều đình như sau:
"Tài hèn việc lớn biết khôn đương
Già yếu ơn trời chút đoái thương
Ba kỷ quan trường công nhỏ mọn
Bốn tào áo mũ thẹn xênh sang
Những muốn lòng băng dâng bệ ngọc
Dám đâu non thẳm đổi lầu vàng
Thái bình vận hội ngày mai đó
Nguyên dạo đàn ca khắp phố phường".
Để có gì lưu lại về sau, bèn viết bản tự thuật đại lược để chỉ bảo cho con cháu ta sau này.
Vợ cả là Nguyễn thị, người Lôi Xá, huyện Cẩm Giàng, dòng dõi của Tiến sĩ tiền triều, quê quán xã Liêu Trung.
Vợ thứ là con gái quan võ Đông Sơn, người họ Nguyễn.
Thiếp: Lưu Diệm, Luyện Đoàn, Lưu Thao đều là người Liêu Trung và đều có sinh nở.
Con trai, con gái có 10 người. Con trai cả là Cẩn có được học hành, từng làm quan Tri phủ nhưng chết non; còn các con khác chưa thành lập; con gái về cửa người cũng có hiển đạt. Các cháu trai gái hơn 20 người.
Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 17 (1756) Bính Tý, tháng 5 mùa Hạ Cư sĩ Tốn Trai tự sự (tự thuật)
Qua nội dung tấm bia trên, chúng tôi có một số nhận xét sau:
1. Lê Hữu Kiều sinh ra và lớn lên trong một làng quê văn hiến - làng Liêu Xá. Đây là một làng cổ, thuộc vùng Ngũ Liêu nổi danh, với cội nguồn văn hóa đặc sắc: Liêu Xá (xã Liêu Xá) và Liêu Xuyên (nay là thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp) có truyền thống hiếu học; Liêu Hạ (xã Tân Lập) nổi tiếng với truyền thuyết Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Liêu Trung (xã Liêu Xá) lại rộn ràng với lễ hội Tứ Pháp; trong khi đó, Liêu Thượng (xã Liêu Xá) là đất khéo tay hay nghề, với nghề bưng trống và nhuộm vải(12).
Ngày nay, Liêu Xá là một trong bốn thôn (Liêu Xá, Liêu Trung, Liêu Thượng và Ông Hảo) của xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
2. Lê Hữu Kiều trực tiếp được thừa hưởng và tiếp nối truyền thống hiếu học của danh gia vọng tộc Lê Hữu. Nói đến làng Liêu Xá là nói đến dòng họ Lê Hữu, với câu đối nổi tiếng:
Lịch triều phong tặng công, hầu, bá
Kế thế đăng khoa phụ, tử, tôn.
(Các triều kế tiếp nhau phong tước công, hầu, bá
Các thế hệ cha, con, cháu nối tiếp nhau đỗ đạt)
Trong lịch sử khoa cử của Việt Nam nói chung, của Hưng Yên nói riêng, dòng họ Lê Hữu có 3 đời liên tiếp đỗ 6 vị đại khoa(13), 36 người đỗ trung khoa, 12 người đỗ tiểu khoa và hơn 10 người không rõ đỗ đạt nhưng có chức sắc trong triều ngoài quận; đặc biệt là Đại danh y, nhà văn, nhà thơ, nhà sử học Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724 - 1791).
3. Bản thân Lê Hữu Kiều là một trong 39 người phò tá có công lao tài đức dưới thời Lê Trung hưng. Từ những thông tin tự thuật trong tấm bia, kết hợp và đối chiếu với tư liệu chính sử cũng như một số tài liệu khác, chúng ta có thể khẳng định rằng: Quan lộ của Lê Hữu Kiều rất hanh thông, bởi thế cho nên, ông đã đạt đến đỉnh cao của quan chức và quyền lực:
- Năm Mậu Tuất (1718): Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ). Ngay sau đó, được bổ làm Đề hình Giám sát ngự sử xứ Thanh Hoa;
- Năm Canh Tý (1720): Thự Hiến sát sứ xứ Kinh Bắc;
- Năm Giáp Thìn (1724): Đốc đồng Thái Nguyên, sau đó triệu về triều làm Hàn lâm viện Đãi chế;
- Năm Đinh Mùi (1727): Hiến sát sứ xứ Thanh Hoa, Đông các Đại học sĩ;
- Năm Mậu Thân (1728): vừa làm việc ở Bộ Lễ (bên Triều đường) vừa kiêm chức Tri Binh phiên (bên Phủ đường, tức phủ chúa Trịnh);
- Năm Kỷ Dậu (1729): giữ chức Tri Lại phiên kiêm chức Thiêm sai Phủ liêu;
- Năm Canh Tuất (1730): giữ chức Quang lộc Tự khanh (bên Triều đường) kiêm Tri Lại phiên Thiêm sai (bên Phủ đường);
- Năm Tân Hợi (1731): được khâm ban quan Thượng hầu;
- Năm Nhâm Tý (1732): giữ chức Tế tửu Quốc tử giám, đến tháng 11 được cử làm Đốc trấn Cao Bằng;
- Năm Giáp Dần (1734): Được bổ chức Phó đô Ngự sử;
- Năm Đinh Tỵ (1737): giữ chức Thừa chỉ Hàn lâm viện, tháng 4 vâng mệnh làm Phó sứ đi chúc mừng Bắc quốc. Trước khi đi, ông được thăng chức Hữu Thị lang Bộ Công;
- Năm Mậu Ngọ (1738): được thăng làm Hữu Thị lang Bộ Hình;
- Năm Kỷ Mùi (1739): vì có công trong việc coi khám biên phòng ở Nghệ An và chiến sự ở đạo Cẩm Thủy, nên được ban chức Tả Thị lang Bộ Công, tước Liêu Đình bá;
- Năm Canh Thân (1740): được triệu về triều làm Nhập nội Bồi tụng, thăng làm Đô ngự sử ở Ngự sử đài, lại có quân công ở đạo Cẩm Thủy, nên được ban tước Liêu Đình hầu. Đến tháng 4 cùng năm, ông phụng sai làm Lưu thủ xứ Thanh Hoa;
- Năm Tân Dậu (1741): được triệu về triều làm Nhập nội Bồi tụng, sau chuyển sang làm việc ở Bộ Hộ;
- Năm Nhâm Tuất (1742): được thăng Thượng thư bộ Công;
- Năm Quý Hợi (1743): giữ chức Tham tụng bên phủ Chúa;
- Năm Giáp Tý (1744): được cử làm Đốc trấn Thái Nguyên;
- Năm Ất Sửu (1745): làm Giám tri từ tụng;
- Năm Bính Dần (1746): vâng mệnh làm Tri Cống cử, sau đó làm Tham thị Nghệ An;
- Năm Đinh Mão (1747): về triều làm Giám tri từ tụng;
- Năm Mậu Thìn (1748): làm Tri Cống cử coi việc thi Hội và thăng bổ làm Lễ bộ Thượng thư;
- Năm Canh Ngọ (1750): đi hộ giá bình giặc Tây (tức cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất);
- Năm Tân Mùi (1751): quản lý và cai trị vùng đất Thanh Hoa;
- Năm Nhâm Thân (1752): thăng làm Hình bộ Thượng thư;
- Năm Quý Dậu (1753): chuẩn làm Binh bộ Thượng thư;
- Năm Giáp Tuất (1754): Nhập thị Kinh diên (chầu vua học tập);
- Năm Ất Hợi (1755): về trí sĩ, được vua Lê - chúa Trịnh ban cho cờ lụa và 8 câu đối cùng dân xã 6 tổng trong huyện ra nghênh tiếp; các quan đồng triều mở tiệc mừng, có thơ, trướng tặng tiễn về quê;
- Năm Đinh Sửu (1757): Về Kinh khởi phục, thăng làm Thượng thư Bộ Hộ;
- Tháng 5 năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 21 (1760), Lê Hữu Kiều bị trọng bệnh và mất vào giờ Sửu ngày 26 tháng 8. Sau khi mất, vua Lê chúa Trịnh đã sắc tặng Thiếu bảo, sau lại gia tặng Thiếu phó; truy phong tước Liêu Quận công. Năm Đinh Dậu (1777), ông được truy tặng Thái thử Thái phó(14).
Đánh giá về Tốn Trai cư sĩ Lê Hữu Kiều, sử gia Phan Huy Chú đã khẳng định: "Ông ra ngoài làm tướng võ, vào triều làm tướng văn, hơn 40 năm, công lao đức vọng rất long trọng; là người bề tôi giỏi bấy giờ"(15).
4. Để tưởng nhớ và truy tôn đến công lao, tài đức của Liêu Quận công Lê Hữu Kiều, dân làng cùng con cháu đã dựng Từ vũ trên một gò đất cao của làng Vũ Xá. Ngôi Từ vũ này "được xây dựng từ ngày Tướng công còn mạnh khỏe. Nhà gồm có hai tòa: Tòa nhà ngói trên có một gian hai trái, giữa đặt thờ thần tượng; nhà ngói dưới có ba gian hai trái để dùng làm Bái đường. Bên tả thông sang nhà năm gian, bên hữu cũng thông sang nhà năm gian. Bên tả Từ vũ có đặt bia đá khắc chữ Tốn Trai lý lịch ký. Hai bên tả - hữu nhà Bái đường đều có hai con voi đá, phía dưới có thêm hai con kỳ lân bằng đá. Nhà trên treo một chiếc khánh ngọc, có khắc chữ đề từ. Đến năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (1762), sau khi mãn tang, con cháu đã rước thần tượng của Quận công Lê Hữu Kiều vào yên vị tại Từ vũ"(16).
Hiện nay, ở Liêu Xá có hai Từ vũ thờ Liêu Quận công Lê Hữu Kiều.
- Từ vũ chính đặt tại xóm Vũ Xá - nơi xưa kia là chỗ hương khói thờ tự. Ở nền móng cũ, tuy chỉ còn ngôi miếu nhỏ để thờ vọng, nhưng còn lưu giữ 2 tấm bia có giá trị, trong đó có tấm bia Tốn Trai lý lịch ký(17).
- Do hoàn cảnh và điều kiện xã hội biến động(18), cho nên con cháu cùng nhân dân địa phương đã rước thần tượng của ông từ Từ vũ bên Vũ Xá về nơi thờ tự mới ở phía Bắc xóm Văn Xá (gần với Nhà thờ Đại tôn họ Lê Hữu). Tại đây, ngôi Từ vũ Quận công Lê Hữu Kiều được xây dựng khang trang hơn.
5. Tấm bia Tốn Trai lý lịch ký được dựng vào tháng 5 năm Bính Tý, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 17 (1756) - thời kỳ Lê Hữu Kiều về trí sĩ tại quê nhà.
Bia cao 110cm, rộng 66cm, dày 15cm, không trang trí hoa văn. Toàn văn chữ Hán khắc chân phương, gồm 36 dòng, khoảng 950 chữ(19).
Bia tự thuật do chính Lê Hữu Kiều chấp bút, với lời lẽ khiêm tốn, tự đặt cho mình hiệu là Tốn Trai. Nội dung tấm bia đã thuật lại quãng đời thơ ấu côi cút, gầy yếu, mất cha từ 3 tháng tuổi, lên 4 tuổi mẹ lại qua đời. May nhờ có sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của gia đình, đặc biệt là anh trai Hữu Hỷ, Hữu Mưu cộng với ý chí quyết tâm của bản thân mà ông chiếm được bảng vàng cao quý, làm bậc thang quan trọng bước vào con đường danh vọng. Trên những chặng đường quan tướng đã không ít thăng trầm, song cuối cùng vẫn được trọn vẹn phúc lộc. Đó chính là phúc đức của các bậc tiên tổ để lại. Ông kể thành tích nhưng không phô trương, tột đỉnh vinh quang nhưng không có dấu vết uy quyền, biết tuổi già không làm được gì hơn là xin về trí sĩ để làm ông già gần gũi với nhân dân, vui cùng đàn hát, chúc tụng đời thái bình thịnh trị.
Tóm lại, tấm bia Tốn Trai lý lịch ký là một trong những nguồn tư liệu Hán Nôm rất có giá trị trong việc tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của Liêu Quận công Lê Hữu Kiều - một danh nhân lịch sử, người có nhiều đóng góp to lớn và quan trọng cho quê hương, đất nước thế kỷ XVII - XVIII. Không những thế, tấm bia này còn bổ sung một nguồn tư liệu thành văn có độ chân xác cao khi nghiên cứu về danh gia vọng tộc Lê Hữu trên vùng đất địa linh nhân kiệt Liêu Xá.
19Thác bản văn bia Tốn Trai lý lịch ký còn được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số ký hiệu bản dập N010799 - 10800. Xem: Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tuyển chọn, lược thuật), Nxb. KHXH, H. 1992, tr.745.
(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr.163-173)