12. Bia Văn miếu Hải Dương thời Tây Sơn (TBHNH 1998)
BIA VĂN MIẾU HẢI DƯƠNG THỜI TÂY SƠN
NGUYỄN THỊ DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Văn miếu là nơi thờ phụng vị Thánh muôn đời của đạo Nho và các bậc tiên hiền đời sau, nhằm khích lệ sĩ dân cả nước trong việc học tập, đào tạo nhân tài, nên gắn bó mật thiết với nền giáo dục khoa cử truyền thống. Vì thế Văn miếu không chỉ được lập ở Kinh đô mà còn được lập ở nhiều trấn thành khác. Đáng tiếc là trải qua nhiều biến cố lịch sử, Văn miếu ở các địa phương bị mai một gần hết. Giờ đây di chỉ Văn miếu còn lại chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, như Văn miếu Hà Nội, Văn miếu Bắc Ninh, Văn miếu Hưng Yên, Văn miếu Hải Dương…
Xứ Đông vốn là vùng đất có truyền thống học hành đỗ đạt nổi tiếng cả nước. Văn miếu Hải Dương được dựng từ sớm tại dinh cũ của trấn Hải Dương. Các tư liệu lịch sử ở đây thất lạc hầu hết, chỉ còn một vài tầm bia đá ghi lại việc trùng tu xây dựng Văn miếu qua các đời. Trong đó, có một tấm bia lớn, tên bia viết bằng chữ triện, bị đục đi mấy chữ, song vẫn đọc được niên đại tạo dựng là năm Tân Dậu. Trong tờ Tạp chí Văn hóa Thông tin Hải Dương số 6 tháng 11/ 1998, tác giả Đặng Văn Lộc có giới thiệu vài nét về tấm bia có giá trị này. Song về niên đại Tân Dậu, tác giả vẫn đánh dấu hỏi (?). Gần đây, nhân chuyến đi công tác thực tế địa phương, chúng tôi có dịp tìm hiểu lại khu di tích Văn miếu Hải Dương này. Xem xét các cứ liệu hiện có trong văn bia, chúng tôi đoán định rằng bia Tân Dậu có thể được xây dựng vào Thời Tây Sơn.
Bia chỉ khắc một mặt chữ, khố 186 x 117cm, chạm mặt trời mây lửa, rồng và toàn văn chữ Hán, khắc chân phương. Điều đáng chú ý là ở dòng chữ trên trán bia và trong văn bia có một số chữ bị đục. Đặc biệt dòng chữ trán bia, sau chữ Tân Dậu, bị đục đi hai chữ, chúng tôi đoán rằng có thể là hai chữ ghi tên niên hiệu vua. Xem xét kỹ nội dung lại thấy bia nhắc tới trấn Bắc Thành. Như chúng ta đã biết, trấn Bắc Thành được lập ra từ đời Tây Sơn (1789-1802) và tồn tại suốt đầu thời Nguyễn (1802-1831). Đọc kỹ văn bia, còn nhận thấy một số nhân vật đã từng tham gia phong trào Tây Sơn như: Trấn thủ Đại đô đốc Đằng ân hầu Hoàng Văn Đằng, Hữu tham hiệp Hình bộ Tả thị lang Thanh Phái hầu Lê Lương Thận… những cứ liệu vừa dẫn trên cho phép chúng tôi kết luận năm Tân Dậu dựng bia là năm 1801 đời Tây Sơn. Bấy giờ triều đình Tây Sơn đã suy yếu, chúa Nguyễn ở Đàng Trong gây dựng thanh thế rất mạnh, đánh chiếm Phú Xuân. Năm 1801, vua Quang Toản phải chạy ra Bắc Thành, đổi niên hiệu thành Bảo Hưng. Trong lúc nguy cấp, phải đối phó với Gia Long, nhà Tây Sơn vẫn chú ý quan tâm tới văn hóa như khuyến khích học hành, trung tu xây dựng Văn miếu nên việc các quan trấn Hải Dương tu sửa Văn miếu, dựng bia ghi lại có thể coi là một minh chứng.
Phong trào Tây Sơn chỉ tồn tại trong thời gian không lâu, song có những đóng góp tích cực cho tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Thế như do nhiều nguyên nhân mà các tư liệu liên quan tới nhà Tây Sơn bị khuyết thiếu nhiều. Do vậy tấm bia năm Tân Dậu ở Văn miếu Hải Dương này có thể coi là một tư liệu thành văn quý giá, cung cấp thông tin về đường lối chính sách của nhà Tây Sơn. Chúng tôi xin được dịch và giới thiệu toàn văn để bạn đọc tham khảo.
Phiên âm:
Văn miếu cổ học hiệu dã. Chí Thánh Phu Tử khai minh đạo thống vi vạn thế đế vương sư. Cố hữu quốc giả tự ư học do thiên địa chi tự ư giao xã dã. Ngã quốc trạch ly minh chi địa, xưng văn hiến chi bang. Tuy tinh phận, vũ phục bất liệt Cửu châu nhi Thù Tứ dư ba tiệm hạp. Hữu tự lịch đại hữu hưng văn giáo nhật trứ. Kinh sư hữu quốc học. Nội mệnh đại thần tri chi, ngoại dĩ thủ hiệu lĩnh chi. Thử cố triều điển lễ dã… yêm hữu trung hạ Bắc Nam thống nhất, trị giáo khôi trương. Canh Tuất xuân hiệu hạ học quy sùng nhã, truất phù lập chương, thần dụ trì mệnh, Bắc Thành chư trấn, các thiết Đốc học nhất viên tư giáo chính. Cái sự dĩ thời dị nhi tôn sùng chi mỹ ý đồng yên. Hoàng thượng dần thiệu phi cơ, mậu tân thánh đức thuỷ chung điển học, khởi đệ tác nhân, lâm ngự tại sơ, thân minh cựu điển. Nhưng mệnh khổn thần diệc dĩ bản quan kiêm tri học chính. Thời trấn học vị bị, bản trấn quyền dĩ Thượng Hồng phủ học cung vi tế hưởng chi sở. Chế độ phả trách, nghi văn thượng khuyết yên. Canh Thân đồng Trấn thủ Đại đô đốc Đằng Ân hầu thần Hoàng Văn Đằng, Hiệp trấn Hộ bộ Hữu đồng nghị Trinh Trường hầu thần Nguyễn Đắc Trinh, Hữu tham hiệp Tả thị lang Thanh Phái hầu thần Lê Lương Thận, trạch trấn thành tri Bắc Mao Điền xã công điền nhất khu, tung hoành thập mẫu hữu linh cựu vi thu tỷ trường, viên bình sảng khải, thực Hải Thượng văn minh chi địa dã. Ư thị nhân cao vi chỉ, khô ô vi trì. Thổ mộc tịnh hưng, đào lưu giao tác, dĩ thập nhất nguyệt sơ nhị nhật công vị du Tân Dậu niên thất nguyệt nhị thập lục nhật cáo thành, phối tự biên đậu chi nghi, tịnh phỏng Quyết lý thể chế dĩ vi bách chấp phụng bạch hiến tôn chi sở, dĩ vi đa sĩ tháo cô nhĩ bút chi trường. Kê cổ Đông Hán thị học nhi tế dương ư Vĩnh Bình. Đường sơ lập học nhi ngân thu ư Trinh Quán. Đạo sủng tự bản giản tịch hữu quang.
Hoàng thượng sùng trọng tác hưng, siêu việt tiền cổ hội kiến ngũ quan, phát tụng Tắc hạ, thuỳ thanh nhu tế, trạc ma hóa thành tục thiện, phần chi huyền diệu, đổng vi thái hòa. Thánh đạo phù trì chi công dụng cập ư đương thời, thi ư hậu thế, y dư, hưu tai!
Thần đẳng thao cung phiên phong tuyên tiết. Đức chỉ ký hoàn đồ ký cẩn lặc trinh mân - Nhược phù, Chí Thánh Phu tử chi đạo, đại nhi di lục hợp, tiểu nhi nhật dụng thường hành, bàng bạc chu lưu, chiêm hốt tiền hậu, khởi trực xu thương cung tường chi nội, nhi nãi tri kỳ sở kính tai!
Quảng Nam trấn Thăng Hoa phủ Hoa Châu thuộc Hoà Chước thần Nguyễn Đắc Trinh cẩn ký.
Dịch nghĩa:
Văn miếu vốn là trường học thời xưa. Chí Thánh tiên sư Khổng Phu Tử đã khai sáng đạo học trở thành bậc thầy của muôn đời, vì thế mà nhà nước tôn thờ ở trường học cũng giống như tôn thờ trời đất ở đàn Nam giao và đàn Xã tắc(1) vậy. Nước ta ở vào phương Nam, vốn là nước văn hiến. Tuy tinh phận phân chia không thuộc Cửu châu của Đại Vũ(2) nhưng giáo hoá của đạo Nho(3) đã thấm khắp. Từ khi các triều vua lập nghiệp dựng nước thì văn giáo ngày càng sáng tỏ. Ở Kinh sư có nhà Quốc học. Trong triều giao đại thần nắm giữ, ngoài trấn giao cho các thủ hiệu kiêm giữ. Đó là điển lễ của triều đình vậy… Khi Bắc Nam thống nhất, thì thị giáo được mở mang. Mùa xuân năm Canh Tuất (1790) xem xét về quy chế học hành chỉnh đốn chuẩn mực. Nhà vua ban chỉ dụ, lệnh cho các trấn ở Bắc Thành mỗi trấn đặt một viên Đôc học trông nom việc dạy học. Bởi lẽ công việc các đời tuy có khác, nhưng mỹ ý tôn sùng đạo Nho thì vẫn như nhau. Hoàng thượng kế nối cơ đồ, mở mang Thánh đức, chuyên chú việc học đào tạo nhân tài, ngay từ khi mới lên ngôi đã làm sáng tỏ các pháp điển cũ. Rồi lại ra lệnh cho khổn thần trấn Hải Dương với tư cách bản quan kiêm luôn cả học chính. Bấy giờ việc học hành ở trấn còn chưa quy củ, bản trấn tạm thời dùng nhà học của phủ Thượng Hồng làm nơi tôn thờ thần thánh, nhà cửa còn chật hẹp, nghi thức lại thiếu nhiều. Mùa đông năm Canh Thân (1800) Trấn thủ Đại đô đốc Đằng Ân hầu Hoàng Văn Đằng, Hiệp trấn Hộ bộ Hữu đồng nghị Trinh Trường hầu Nguyễn Đắc Trinh, Hữu tham hiệp Tả thị lang Thanh Phái hầu Lê Lương Thận cùng nhau chọn đám ruộng công ở phía Bắc trấn thành thuộc xã Mao Điền, dọc ngang rộng hơn 10 mẫu, trước đây vốn là trường thi Hương ở trấn. Nơi đây bằng phẳng, rộng rãi, thực là vùng đất văn minh của phủ Thượng Hồng trấn Hải Dương. Thế rồi liền chọn chỗ cao tôn lên làm nền, đào nơi trũng thấp xuống làm ao. Công việc thổ mộc cùng tiến hành một lúc. Ngày mồng 2 tháng 11 khởi công, đến ngày 27 tháng 7 năm Tân Dậu (1801) hoàn thành, bầy biện đủ thứ nghi thức tế lễ. Đồng thời cũng phỏng theo thể chế của Khổng Tử(4), lấy làm nơi dâng đồ tế lễ, và nơi kẻ sĩ luyện rèn bút nghiên.
Khảo xét việc xưa, thấy rằng thời Đông Hán coi trọng việc học mà thịnh nên từ đời Vĩnh Bình(5), thời Đường mới dựng nước cũng đã coi trọng việc học, xong đến đời Trinh Quán(6) mới thực hưng thịnh. Đạo thịnh từ gốc, rạng rỡ sáng tươi!
Hoàng thượng chấn hưng văn giáo, vượt xa cổ xưa, tập hợp ngũ quan, chiêu mộ hiền tài(7), sửa sang phong tục. Công dụng phù trì của thánh đạo rộng khắp đương thời (mà vẫn) thi hành ở hậu thế, thật tốt đẹp thay!
Chúng thần vâng mệnh nhận đất để cai quản. Ý chỉ đã thành, liền kính cẩn ghi lại khắc vào bia đá. Than ôi, đạo của Chí Thánh tiên sư Khổng Phu Tử, lớn thì tở khắp trời đất, nhỏ thì thể hiện ngay trong việc làm thường ngày, bàng bạc khắp nơi, trước sau đều có, lẽ nào chỉ hạn hẹp trong cung tường hay sao? Kính thay!
Nguyễn Đắc Trinh, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam kính cẩn ghi lại.
Chú thích:
1. Đàn Nam giao và đã Xã tắc: Là đàn tế trời và đất.
2. Đại Vũ: Hiền thần đời Ngu Thuấn, được Thuấn giao cho trị thuỷ sau được truyền ngôi. Tương truyền Đại Vũ đặt ra chính châu.
3. Nguyên văn: Thù Tứ, tức hai con sông Thù và Tứ thời Xuân Thu thuộc đất Lỗ. Khổng Tử ở vùng sông Thù Tứ dạy học nên người đời sau lấy Thù Tứ chỉ Nho gia.
4. Nguyên văn: Quyết lý, vốn là địa danh. Tương truyền là nơi Khổng Tử dạy học trò thời Xuân Thu ở vùng sông Thù, Tứ thời Khổng Tử sông không có tên Quyêt lý. Tên này bắt đầu xuất hiện trong Hán thư, tới thời hậu Hán trở về sau thì thường để chỉ Khổng Tử.
5. Vĩnh Bình: Niên hiệu vua Hán Minh Đế (58-75) thời Đông Hán.
6. Trinh Quán: Niên hiệu vua Đường Thái Tông (627-649).
7. Nguyên văn: Tắc hạ, vốn là đại danh cổ. Tề Tuyên Vương thích văn học của các bậc sĩ du thuyết nên đặt quán ở Tắc môn, Triệu Châu Diễn, Thuần Vu Khôn, Điền Biền, Tiếp Dư, Thận Đáo… tất cả 75 người, ban cho thứ bậc làm Thượng đại phu, không phải làm việc, chỉ ngồi nghị luận. Đời sau chỉ việc tập hợp hiền tài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí Văn hóa Thông tin Hải Dương. Số 6 tháng 11 năm 1998.
2. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam – Nxb.KHXH – 1993.
3. Hán Việt tự điển – Đào Duy Anh – Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
4. Từ Nguyên – Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh 1995.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.101-107)