12. Nguyễn Quang Bích - tiểu sử và bút tích
NGUYỄN QUANG BÍCH TIỂU SỬ VÀ BÚT TÍCH
PHẠM ĐỨC DUẬT
Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Bình
Nguyễn Quang Bích, một trong những tri thức tiêu biểu của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược nước ta ở nửa cuối thế kỷ XIX. Cuộc đời, sự nghiệp cứu nước cùng văn tài của ông ngày càng được nhân dân cả nước khẳng định, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta ghi nhận.
Trước kia chúng ta biết dòng họ, tiểu sử Nguyễn Quang Bích chủ yếu qua tập sách do Ngô Quang Đoan (con trai cả Nguyễn Quang Bích) viết, được sao chép lại mang nhiều tên khác nhau: Ngư Phong công hành trạng, Ngư Phong Nguyễn Ngô tướng công hành trạng, Trình Phố Ngư Phong Nguyễn tướng công truyện ký,...
Năm 1975, ông Ngô Đức Tình, đời thứ chín họ Nguyễn Ngô ở Trình Phố đã để nhiều công sức sưu tầm được cuốn gia phả Nguyễn Ngô ghi chép từ cụ thủy tổ chi họ, cụ Ngô Đình Tứ về lập nghiệp ở Trình Giang thời Hậu Lê. Cuốn gia phả này được ông Ngô Sĩ Yêm cháu đời thứ chín dịch ra tiếng Việt và có bổ sung.
Đầu xuân Giáp Tý (1984), Trình Xuyên Nguyễn Ngô Diễn cũng là con cháu đời thứ chín đã được thân hữu là Ngọc Nam Nguyễn Mạnh Oanh cộng tác biên soạn cho đầy đủ hơn để làm thành cuốn phả, gồm hai phần: Động Phong hệ phả (Động Phong là phiên âm tên Nôm: Đồng Phang) và Trình Phố Nguyễn Ngô gia phả. Sau mỗi phần đều có sơ đồ thế hệ rất rõ ràng.
Về tiểu sử Nguyễn Quang Bích cũng rõ ràng như hệ phả họ Nguyễn Ngô của ông ở làng Trình Phố, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương (nay thuộc xã An Ninh, Huyện Tiến Hải, Thái Bình). Ông sinh giờ Thìn ngày mồng 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (7- 5-1832), tên tự Hàm Huy, biệt hiệu Ngư Phong.
Khi Nguyễn Quang Bích dự kỳ thi khoa Kỷ Tị (1869, năm Tự Đức thứ 22) đậu Đình nguyên Hoàng giáp, thì ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây Nam Bộ đã mất vào tay thực dân Pháp. Năm Canh Ngọ (1870), Nguyễn Quang Bích vào Kinh giữ chức Nội các Thừa chỉ. Năm Nhâm Thân (1872), ông được bổ làm Án sát Sơn Tây. Khi Lưu Vĩnh Phúc xin hàng, Nguyễn Quang Bích tâu triều đình dùng Lưu và được chuẩn y.
Lúc này, tư bản châu Âu, đặc biệt là tư bản Pháp đang nhòm ngó miền Tây Nam Trung Quốc và cũng chính lúc ấy, chúng mưu mô chiếm Miến Điện (Mianma). Miến Điện giáp giới Vân Nam, nên chúng đặc biệt chú ý đến Bắc Kỳ, đến lưu vực sông Hồng. Thực dân Pháp mượn cớ xin khai phóng thương mại với Vân Nam để qua sông Hồng. Tiếp theo đó là nhiều hành động ngạo ngược khác để đến cuối năm 1873, tờ mờ sáng ngày 20-11, Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết. Thống đốc Nguyễn Tri Phương bị trọng thương vào bụng, nhịn ăn mà chết. Thành Hà Nội thất thủ, nhiều quan chức khác giữ thành bị Pháp bắt. Trong số đó có ông Bố chính Hà Nội là Vũ Công Đường, người làng Đường Thâm cùng huyện với Nguyễn Quang Bích cùng bị Pháp bắt giải về Sài Gòn. Rồi sau ông bị đầy ở đồn Thục Luyện, Châu Thanh Sơn, tỉnh Hưng Hóa và chết ở đó.
Tình hình đất nước như thế, đã làm cho con đường hoạn lộ của Nguyễn Quang Bích đầy gian nan thử thách: làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), rồi Án sát SơnTây; Tế tửu Quốc tử giám, rồi Án sát Bình Định. Năm Quý Dậu (1873), Tự Đức cầu viện nhà Thanh. Nguyễn Quang Bích bàn với Tôn Thất Thuyết sai Lưu Vĩnh Phúc đánh trận Cầu Giấy, giết chết Gácniê (Francis Garnier) (20-XII). Năm 1875, vua giao ông duyệt sách, rồi làm Chánh sứ sơn phòng Hưng Hóa, năm sau (1876) kiêm luôn chức Tuần phủ. Ở đây, một lần nữa do tấm lòng thực sự vì dân, ông được nhân dân địa phương tôn xưng là “Hoạt Phật” (Phật sống).
Sáu năm sau, thực dân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai. Ngày 25-11-1882, thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Năm 1883, Pháp lần lượt đánh chiếm các tỉnh Bắc kỳ, Lưu Vĩnh Phúc theo lệnh Nguyễn Quang Bích đem quân về Cầu Giấy (19-5) giết chết Hăngri Rivie (Henri Rivière).
Tạ Hiện được triều đình nhà Nguyễn tuyển dụng làm Chánh Lãnh binh hai tỉnh Quảng Yên và Bắc Ninh. Sau khi thành Nam Định thất thủ ngày 27-3- 1883, ông vào Kinh đô Huế yết kiến vua Tự Đức, xin mộ các nghĩa dũng về đánh Pháp ở Nam Định. Tạ Hiện được triều đình Huế phong chức Đề đốc Nam Định. Ông mộ được 5.000 nghĩa dũng, lập một trung tâm chống Pháp ở hữu ngạn sông Trà Lý (Thái Bình).
Ngày 19- 7-1883, vua Tự Đức mất thì triều đình Huế cũng ký hàng ước xác định quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Lại năm sau, thành Hưng Hóa do Nguyễn Quang Bích làm Tuần phủ cùng Đề đốc Lưu Vĩnh Phúc với hơn 1.000 quân kiên quyết chống giữ, cũng bị Pháp đánh chiếm ngày 12 - 5- 1884. Sau đó, ngày 6 - 6, chúng buộc triều đình Huế ký hàng ước đặt cơ sở cho nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Ngày 11 - 6 Pháp buộc triều đình nhà Thanh ký hoà ước Thiên Tân nhường Việt Nam cho Pháp. Thế là Pháp về danh nghĩa có lợi quyền trọn gói.
Với mưu đồ gấp rút giải quyết vấn đề Việt Nam, ngày 27 - 6 - 1885, tướng Đờ Cuôcxy (De Courcy) đem quân vào Huế. Muốn giành thế chủ động, đêm 4 - 7 - 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công vào căn cứ giặc, nhưng thất bại. Kinh thành Huế rơi vào tay Pháp. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra sơn phòng Quảng Trị và hạ chiếu Cần Vương ngày 13 - 7 - 1885. Một phong trào nghĩa quân hưởng ứng rất rầm rộ.
Sau khi có chiếu Cần vương mấy ngày thì Nguyễn Quang Bích nhận lệnh vua sang Vân Nam chuyển thư cho Tổng đốc Sầm Dục Anh yêu cầu chi viện. Ngày 19 - 9 , tức 11 tháng Tám âm lịch, Pháp đưa Ưng Kỷ, tức Nguyễn Cảnh Tông lên làm vua lấy niên hiệu Đồng Khánh.
Năm 1886 trong dịp Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn sang Trung Quốc cầu viện, vua Hàm Nghi lại cử Nguyễn Quang Bích đi Vân Nam. Nhưng cả hai lần đều không kết quả.
Tuy vậy, trong hai chuyến đi ấy, ông đã gây được cảm tình của một số quan lại Trung Quốc. Bằng sự giúp đỡ thiết thực, Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh đã gửi vũ khí, đạn dược và phẩm vật sang giúp đỡ để khích lệ tinh thần kháng chiến của quân dân ta.
Từ giữa năm 1886 đến cuối năm 1889, nghĩa quân và các tướng lĩnh của Nguyễn Quang Bích đã chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, luôn luôn ở thế bị giặc tấn công. Tháng 6 và tháng 11 - 1886, khi Nguyễn Quang Bích đi vắng, hai lần Pháp đưa quân tiến đánh căn cứ. Cuối năm 1886, đầu năm 1887, Pháp càn quét gắt gao hai huyện Văn Bàn và Văn Chấn. Tháng 6 - 1887, một hôm giặc bất ngờ ập tới đánh úp đại bản doanh. Vài ngày sau giặc bị đánh lui, nhưng người đồng chí tài đức của Nguyễn Quang Bích là Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp đã bị bệnh chết.
Tháng 10 - 1889, Nguyễn Quang Bích tổ chức họp các tướng lĩnh. Giặc kéo quân tới định đánh úp, nhưng chúng đã bị nghĩa quân mai phục sẵn bắn chết khá nhiều. Tháng 11, ông lệnh cho các tướng lĩnh chuẩn bị đầy đủ cho cuộc tấn công lớn vào năm sau. Không ngờ ngày 15 tháng Chạp năm Canh Dần (24 - 1 - 1890) ông lâm bệnh nặng, mất tại đại bản doanh nghĩa quân ở núi Tôn Sơn, Châu Yên Lập.
Theo báo cáo ngày 21 - 4 - 1890 lưu trữ tại Văn khố Pháp, tướng Bisô (Bichot) cho rằng có lẽ ông mất khoảng tháng 10 năm 1889 trong trận chiến đấu bảo vệ căn cứ Mộ Xuân.
Nhưng sách Ngư Phong tướng công hành trạng thì ghi rõ: “Ngày 13 tháng Chạp năm ấy, ông (NQB) đột ngột mắc bệnh, đêm nằm chẳng yên... Sáng hôm sau các viên chức văn võ đến thăm hỏi, ông vẫn ngồi nói chuyện như thường. Đến chiều bệnh sốt lại phát dữ dội, đến đêm sốt tuy giảm nhưng ông nằm mê man... Đến canh tư bỗng có giông tố ầm ầm nổi lên... Đến giờ Mão (khoảng 5 giờ sáng) ngày 15 tháng Chạp, ông thấy trong người buồn bực, sai vực dậy, thổ ra huyết hơn một bát, lát sau ông về trời, thọ 59 tuổi. Bấy giờ là năm Canh Dần, niên hiệu Thành Thái thứ hai (1890). Các quan văn võ đều đến lễ khâm liệm rồi kính đưa thi hài lên an táng ở trên nguồn Tôn Sơn”.
Ba năm sau, người con trai chuyển hài cốt ông về chôn cất ở làng Cát Trù, quê hương của một viên tướng thân thuộc là Đề Kiều. Hai năm sau nữa mới chuyển về mai táng tại quê nhà.
Về thơ văn Nguyễn Quang Bích, sách Ngư Phong tướng công truyện ký, bản lưu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu VHv.2072 gồm 126 trang, khổ 28 x 16cm, trên 2 vạn chữ Hán chép tay. Sách do người con trai cả Nguyễn Quang Bích soạn xong vào tháng Tám năm Nhâm Ngọ (1942). Trong lạc khoản còn ghi sách này Chuyết Khế Trình Giang Ngô Đức Dung tặng ông Long Điền Nguyễn Văn Minh, năm 1949. Sách gồm hai phần:
- Ngư Phong tướng công truyện ký từ tờ 2a đến tờ 26b.
- Ngư Phong tướng công thi văn tậptừ tờ 27a đến tờ 63a, gồm 97 bài thơ và 5 bài văn.
Ông Long Điền đã cung cấp tài liệu này cho nhà sử học Trần Huy Liệu để khai thác, giới thiệu thơ văn Nguyễn Quang Bích qua một loạt bài Phong trào cách mạng Việt Nam đăng trên tập san Văn- Sử-Địa năm 1957. Sau đó, Giáo sư Trần Văn Giầu được gia đình Nguyễn Quang Bích cung cấp cho bản chữ Hán hai tập sách kể trên. Do đó, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích lần lượt đựoc công bố trong cuốn Chống xâm lăng, tập III (Nxb. Xây dựng, H. 1957) của Trần Văn Giầu; Lịch sử cận đại Việt Nam do Trần Văn Giầu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận biên soạn. Từ bản dịch Ngư Phong truyện ký và Ngư Phong thi tập, các dịch giả Kiều Hữu Hỷ, Lã Xuân Mai, Nguyễn Văn Bách dịch thơ, văn; Nguyễn Bỉnh Khôi dịch nghĩa phần thơ; Giáo sư Đinh Xuân Lâm giới thiệu và chú thích. Cuốn sách lấy tên Thơ văn Nguyễn Quang Bích, Nxb. Văn hóa, H.1961, in lần thứ nhất, Nxb. Văn học, in lần thứ hai năm 1973. Cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, công trình tập thể của Viện Văn học, H. 1964, Nguyễn Quang Bích được trình bày trong một chương riêng, thành một tác giả lớn của dòng văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX.
Năm 1981, nhân việc nhà nước công nhận di tích lịch sử phần mộ và từ đường ông tại quê hương Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã tổ chức một Hội thảo khoa học về ông. Ngày 29 - 5 - 1991, Lễ kỷ niệm và Hội thảo khoa học tròn 100 năm ngày mất Nguyễn Quang Bích tại Văn miếu - Quốc tử giám (Hà Nội), do Bộ Văn hóa - Thông tin và Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự tham gia của các ban ngành Trung ương, của hai tỉnh: Thái Bình, Vĩnh Phú và các huyện Tiền Hải, Yên Lập, Sông Thao, Tam Thanh.
Trong đó, Ban văn học cổ cận đại, Viện Văn học được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện. Năm 1994, Nxb. KHXH, H. đã cho ra mắt bạn đọc tập sách Nguyễn Quang Bích nhà yêu nước nhà thơ.
Năm 1998, Nxb. Văn học lại in tập Ngư Phong và Tượng Phong thi văn tập của nhóm biên soạn Trà Hải - Vũ Đình Ngạn, Lời giới thiệu của Nguyễn Tiến Đoàn. Sách này ở trang 13 nói Nguyễn Quang Bích có tới 3 tập thơ. Tập 1 và tập 2 đã bị thất lạc. Phần III - Văn thơ câu đối của Nguyễn Quang Bích mới sưu tầm. Từ tr.236- 252 có in thêm 12 bài thơ và câu đối. Tuy nhiên, hiện nay tại từ đường họ Nguyễn Đăng ở thôn Đa Cát xã Vũ Quí, Kiến Xương, vẫn còn câu đối khắc gỗ của Nguyễn Quang Bích khi ông đến thăm từ đường đã viết tặng.
Phiên âm như sau:
"Tại Ngô Châu, Tiên Bác Trạch đại vương tứ công tam thế; Độc gia phả, kiến Hoàng Lê cố sắc đương đại nguyên huấn". (Tại Châu ta, ba đời bốn quận công, trước cả đại vương người Bác Trạch. Đọc gia phả, công đầu thời đương đại, xem lại sắc cũ thuở nhà Lê).
Cho nên, dẫu có đúng Nguyễn Quang Bích có 3 tập thơ thì tập thứ ba này (tức Ngư phong thi tập có hiện nay) vẫn là tập thơ tiêu biểu để chúng ta căn cứ vào đó mà xác định giá trị thơ văn của ông.
Tìm hiểu sự nghiệp cứu nước cùng thi phẩm của ông, chúng ta vô cùng cảm kích, biết ơn ông cùng những bậc nghĩa liệt cùng thời ông đã để lại cho hậu thế những tấm hùng tâm chói ngời trong lịch sử cứu nước của dân tộc.
Sự nghiệp ấy, con người ấy hiện còn lưu lại bút tích trong tập Hưng Hóa công văn, ký hiệu A 2293/2 tại Cục lưu trữ trung ương. Tại tập công văn này, Nguyễn Quang Bích có ba bài tấu khi ông làm Tuần phủ Hưng Hóa.
Ba bài tấu chữ Hán ấy viết tay trên giấy dó khổ 28 x 16. Bài thứ nhất dài 11 trang, gồm gần 200 chữ Hán viết bút lông. Trang thứ 10 đề giữa trang “Tự Đức tam thập tứ niên, chính nguyệt, thập lục nhật đề, chí nhị nguyệt, sơ thất nhật”. (Đề ngày 16 tháng giêng đến ngày mồng bảy tháng 2, niên hiệu Tự Đức thứ 34 (1881). Ở chính giữa dòng đóng dấu Hưng Hóa tuần phủ. Bên dưới có chữ ký viết to “thần Nguyễn Quang Bích” và bên cạnh là các chữ ký của Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Lập, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Quế. Trang 11 có dấu của Bộ Hộ đề ngày 16 tháng 3.
Dịch tóm lược nội dung bài tấu như sau:
Quang lộc tự khanh, lãnh Hưng Hóa Tuần phủ Nguyễn Quang Bích cẩn tấu về tình hình 10 châu và thuế lệ mùa đông năm ngoái. Trước kia 10 châu bị bọn phỉ nước Thanh quấy nhiễu. Ba tổng Xuân Đài, Kiệt Sơn, Yên Lãng của huyện Thanh Sơn, 11 xã bị đảng phỉ chiếm cứ quấy nhiễu. Tháng 10 năm Tự Đức thứ 32 (1879), Thống đốc Hoàng Tá Viêm đem đại binh dũng tiến lên sào huyệt hai bọn phỉ kia. Tháng 3 năm ngoái Niết ty Tôn Thất Nam đi kinh lý xem xét tình hình các châu để tâu trình về triều...
Bài thứ hai gồm 15 trang, trang 15 đề: “Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, thập lục nhật đề” (Đề ngày 16, tháng 11 niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880), giữa trang có dấu Hưng Hóa Tuần phủ, dưới đề: “thần Nguyễn Quang Bích”.
Dịch tóm lược nội dung bài tấu:
Quang lộc tự khanh, lãnh Hưng Hóa Tuần phủ Nguyễn Quang Bích cẩn tấu tháng 3 năm nay số gạo trong kho còn ít, phải làm công văn vay ở kho lương của tỉnh Sơn Tây, lấy ở các huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Hạ Hòa, Cẩm Khê, Bất Bạt. Sau đó là tình hình thu hoạch và đóng thuế ở các xã huyện châu. Cả việc một số nha lại để thất thoát tiền và gạo, như mùa đông năm trước Thông lại Nguyễn Văn Ổn đã làm tiêu thất thuế tiền 16 xã là 528 quan, gạo là 59 phương...
Bài tấu thứ ba gồm 15 trang. Trang 13 đề “Tự Đức tam thập tứ niên, cửu nguyệt, thập thất nhật đề, chí thập nhất nguyệt, sơ bát nhật” (Đề ngày 17 tháng 9 đến ngày mồng 7 tháng 11, niên hiệu Tự Đức thứ 34). Giữa trang có dấu của Hưng Hóa Tuần phủ. Bên dưới có ký chữ to “Thần Nguyễn Quang Bích”, tiếp theo là chữ ký của Nguyễn Văn Trường, Cao Hữu Sung, Lục Đăng Tiến, Bùi Văn Dị, Nguyễn Thành Ý. Trang 15 có dấu của Bộ Hộ.
Dịch tóm lược nội dung bài tấu:
Bố chính lãnh Hưng Hóa Tuần phủ Nguyễn Quang Bích cẩn tấu việc tháng 6 năm ngoái tên phỉ đầu sỏ Vi Anh Trích quấy nhiễu các châu ở thượng du như Mộc An, Mai Sơn, Sơn La, Thuận Châu, Phù An. Đến tháng 10, các thổ mục thổ hào ở các phủ huyện châu chiêu mộ các tráng dũng, những nơi có phỉ tụ tập ra sức tiễu trừ. Đã chọn lựa phái đi ba suất đội do Lê Văn Chính đi trước đến Phù An, Sơn La hiểu dụ được các Cai tổng, Cửu phẩm, Bá hộ hưởng ứng. Đến mồng 7 tháng 2, bọn phỉ bị đánh tập kích giết chết một tên, 10 tên khác bị thương, thu được nhiều khí giới...
Ba mươi năm làm quan thì vừa tròn 25 năm ông trị nhậm và tập hợp nghĩa quân chống giặc ở vùng đất Hưng Hóa, một địa bàn quan trọng của phong trào Cần Vương và tiếp đó là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược do Nguyễn Quang Bích làm lãnh tụ. Mấy bài tấu còn sót lại cũng đủ làm chứng tích để chúng ta ngày nay khắc sâu thêm tấm lòng hoài niệm một vị khoa bảng, một sĩ phu yêu nước tài danh, hiến dâng cả cuộc đời mình cho cuộc chống xâm lăng trường kỳ của lịch sử cận đại nước nhà./.