VI | EN
12. Tân huấn hỗ học (TBHNH 2005)
TBHNH2005

TÂN HUẤN HỖ HỌC

VƯƠNG LỰC

Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc.

1. Tổng kết về cựu huấn hỗ học

2. Tân huấn hỗ học

Huấn hỗ học 訓詁學, theo cách nói cũ, là một bộ môn trong văn tự học. Văn tự học xưa gọi là tiểu học (小學). Tứ khố toàn thư đề yếu 四庫全書提要 chia tiểu học thành ba bộ môn: thứ nhất là loại tự thư 字書; thứ hai là loại huấn hỗ 訓詁; thứ ba là loại vận thư 韻書. Theo cựu thuyết, loại tự thư giảng giải về tự hình (字形, mặt chữ), loại huấn hỗ giảng giải về tự nghĩa (字義, nghĩa của chữ), loại vận thư giảng giải về tự âm (字音, âm của chữ). Nhìn từ thể tài của các trước tác văn tự học cổ đại, cách tam phân này rất thích hợp. Song, việc giải thích tự hình trong tự thư phần lớn chỉ để chứng minh cho huấn hỗ hoặc thanh âm, còn cái gọi là vận thư, ngoài việc chú rõ âm thiết ra còn kiêm đến huấn hỗ, cho nên ba bộ môn này có giới hạn rất không rõ ràng. Nếu nhìn theo con mắt ngôn ngữ học, thì bản thân ngôn ngữ học cũng có thể chia làm ba bộ môn: một là ngữ âm học; hai là ngữ pháp học; ba là ngữ nghĩa học. Như vậy, phạm vi của cái mà chúng ta gọi là ngữ nghĩa học (semantics), về đại để cũng tương đương với huấn hỗ học theo quan niệm cũ. Nhưng, xét về mặt phương pháp nghiên cứu, thì giữa hai đằng có sự khác biệt rất lớn, cho nên chúng ta bấy nay không thích tiếp tục sử dụng tên gọi “huấn hỗ học” cũ. Ở đây vì cần thể hiện rõ tính dị đồng về mặt phương pháp giữa huấn hỗ học với ngữ nghĩa học, nên mới gọi ngữ nghĩa học là tân huấn hỗ học.

1.Tổng kết về cựu huấn hỗ học

Những người nghiên cứu huấn hỗ học trước đây đại khái có thể phân làm ba phái: một là phái toản tập 纂集派; hai là phái chú thích 注釋派; ba là phái phát minh 發明派. Giữa ba phái này giới hạn cũng không thật sự rõ ràng, song để tiện trình bày nên tạm thời phân loại như vậy mà thôi.

1.1. Phái toản tập 纂集派.

Phái này chủ trương “thuật nhi bất tác”(1). Họ chỉ toản tập (tập hợp, biên tập) những huấn hỗ trong kinh tịch cổ đại lại với nhau. Kinh tịch toản hỗ 經籍纂詁 của Nguyễn Nguyên 阮元, cho đến Vận sử 韻史, Từ thông 辞通… của người ngày nay, đều thuộc loại này. “Thuật nhi bất tác” cũng có thể coi là một tinh thần khoa học, chỉ đòi hỏi cần mẫn thu tập, thận trọng chọn lựa, cũng đã xứng danh là một loại sách hay. Có điều, nhìn từ bình diện ngành học (học vấn 學問), thì đó vẫn chưa thể là một loại ngành học, chỉ là gom góp học vấn của người trước lại với nhau mà thôi, bất kể đúng sai hay mâu thuẫn nhau. Loại huấn hỗ học này nếu thể hiện ra bằng hình thức tự điển, thì tỏ ra lộn xộn hết sức, bởi đối với mỗi chữ, tự điển trước hết phải xác định nó có những nghĩa nào, chứ đừng sao đây chép đó, khiến không thể phân loại nghĩa, hoặc có phân thì cũng không có giới hạn minh xác. Loại trước(2) như Trung Hoa đại tự điển 中華大字典, thể lệ rất giống Kinh tịch toản hỗ, song Kinh tịch toản hỗ sao chép huấn hỗ thời thượng cổ, và nó chỉ sưu tập đến thời cận đại mà thôi. Loại sau(3) như Khang Hi tự điển 康熙字典, Từ nguyên 辭源, Từ hải 辭海, vì về mặt huấn hỗ chữ có sai khác, cho nên không tránh khỏi chia làm vài nghĩa, trong khi thực ra luôn chỉ có một ý nghĩa mà thôi. Như trong Từ hải, mục chữ “mị” có ba nghĩa: 1. vui vẻ (duyệt dã 說也), rồi dẫn Thuyết văn 說文; 2. yêu (ái dã 愛也), rồi dẫn câu “媚思一人” (Mị tư nhất nhân = Yêu thương một người) trong kinh Thi ; 3. nịnh hót (siểm dã 諂也), rồi dẫn câu “Chẳng phải chỉ đàn bà mới dùng nhan sắc để lấy lòng” (非獨女以色媚Phi độc nữ dĩ sắc mị) trong Sử kí 史記 . Kì thực chữ “mị” có một nghĩa, đúng như Thuyết văn nói: “vui vẻ”. “Duyệt dã 說也” tức là “duyệt dã 悦也”, nghĩa là làm cho người ta vui vẻ, khẩu ngữ thường nói “lấy lòng” (thảo hảo 討好). Lấy lòng hoàng đế thì được yêu quý, bởi trong thời cổ đại bắt buộc phải lấy lòng bậc quân chủ; lấy lòng kẻ bằng vai lại luôn bị coi là việc xấu, cho nên gọi là “nịnh hót” (諂也). Đây là nhược điểm của việc tạp dẫn huấn hỗ, cũng là nhược điểm của phái toản tập.

1.1.Phái chú thích 注釋派.

Phái này xiển phát hoặc cải chính huấn hỗ của người trước, muốn làm công thần hoặc phản đề(4) cho các nhà văn tự học cổ đại. Quá nửa nhà chú giải cho Thuyết văn giải tự 說文解字 đều thuộc loại này, bởi Thuyết văn dù thuộc loại tự thư nhưng coi trọng cả tự hình lẫn tự nghĩa, nhà chú giải bèn từ nguyên chú [trong Thuyết văn - ND] mà xiển phát thêm, có thể khiến tự nghĩa rõ ràng thêm và được xác định. Như trong Thuyết văn thích lệ 說文釋例của Vương Quân 王筠nói: “lúa, vừng, đậu, mạch, thì lúa là tên riêng; tháng mười nộp lúa má, thì lúa lại là tên chung”(5). Đây là bổ sung cho cách nói “hòa là loại cây ăn ngon” (hòa, gia cốc dã , 嘉谷也) trong Thuyết văn. Sách vở loại này viết ra thực sự đắc dụng, bởi lẽ lời người xưa quá ngắn gọn, nếu không bổ sung thêm nhiều dẫn chứng thì không đủ để người đọc hiểu thấu đáo. Vì vậy, loại sách như Thuyết văn giải tự chú 說文解字注 của Đoàn Ngọc Tài 段玉裁thật sự là sách hay. Nhưng có khi quá câu nệ thì cũng gây ra những sai sót nhỏ. Như Thuyết văn giải nghĩa chữ (phu) là “trượng phu” (丈夫也), sau chữ 土胥 (tế) lại giải nghĩa là 夫也 (phu dã), họ Đoàn coi chữ là gọi chung cho con trai (男子nam tử), điều đó đúng; nhưng đến chữ 土胥mà cũng coi là gọi cũng cho con trai thì thật là lơ tơ mơ, bởi trong cổ thư không có trường hợp chữ 土胥nào có thể cắt nghĩa thành gọi chung cho con trai. Cái gọi là 夫也 (phu dã) trong Thuyết văn chỉ nghĩa là “chồng” trong 夫妻 (phu thê). Các nhà chú giải cho Thuyết văn xiển phát thì nhiều mà cải chính lại ít, điều này cố nhiên là do tâm lí sùng bái cổ nhân, tạo thành tín điều “không dễ ngờ người xưa”, nhưng cũng có một nguyên nhân quan trọng nữa là chứng cứ mới không nhiều, không đủ để lật đổ thuyết cũ. Thời cận đại, cổ văn tự dần dần được khai quật, đúng lúc để làm phản đề(6) cho họ Hứa, rồi đây hẳn sẽ có thêm nhiều người tập trung cho vấn đề này. Như trong Thuyết văn, sau chữ (hành) viết: “bước chân đi của người, hội ý từ (7). Quan điểm “bước chân đi của người” thì không sai, nhưng có thể thấy là Thuyết văn đã sai khi giảng giải nghĩa cổ. Chữ trong cổ văn tự viết là ╬ , hiển nhiên có nghĩa là “cái ngã tư”; cho nên những chữ (thuật = đường trong ấp), (hạng = ngõ ngách), (nhai = đường thông bốn phía), (xung = đường giao nhau), ( = đường thông tới bốn phía, hoặc đường thông khắp nơi) đều có chữ . Trong kinh Thi có mấy chỗ 周行 (chu hành) đều có nghĩa là “đường lớn” (chữ “chu” có nghĩa thông khắp bốn phương tám hướng) (thiên Quyển nhĩ 卷耳 có câu “寘彼周行(8), thiên Lộc minh 鹿鳴 có câu “示我周行(9), thiên Đại đông 大東 có câu “行彼周行(10)). Song ở đôi chỗ liên hệ dùng theo nghĩa tượng trưng, có thể giải nghĩa là 大道 (đại đạo) hoặc 至道 (chí đạo) mà thôi (câu “周道如砥(11) cũng là nghĩa ấy). Câu “中行獨復(12) trong Dịch kinh 易經 và câu “中道而廢(13) trong Luận ngữ 論語 mô phỏng nhau, câu “遵彼微行(14) trong thiên Thất nguyệt phần Mân phong và câu “遵彼汝坟(15) thuộc phần Chu Nam trong Kinh Thi cũng mô phỏng nhau, 中行 (trung hành = giữa đường) cũng tức là 中途(16) (trung đồ = giữa đường), 微行 (vi hành = đường nhỏ) cũng tức là 小路 (tiểu lộ = đường nhỏ). Cứ giải thích cổ thư như vậy thì mới có thể cải chính được những sai lầm của người trước.

1.3. Phái phát minh 發明派

Có thể nói đây là một phái khá mới trỗi dậy. Cổ nhân giải thích tự nghĩa luôn chỉ căn cứ vào tự hình. Mãi đến thời Vương Niệm Tôn, Chương Bính Lân mới thoát khỏi sự bó buộc vào tự hình, từ sự thông chuyển thanh vận mà đi khảo chứng sự thông chuyển tự nghĩa. Vốn dĩ, phái chú thích cũng có thể có phát minh, nhưng bị câu thúc bởi Thuyết văn, Nhĩ nhã nên rốt cục phát minh không nhiều và mới mẻ như phái Vương Niệm Tôn, Chương Bính Lân. Thời cổ đại dù có thanh huấn học (聲訓之學), như Thích danh 釋名 của Lưu Hi 劉熙 (Thuyết văn cũng có thanh huấn), nhưng đó là dùng huấn hỗ để giảng giải nghĩa lí của phép tạo chữ (kiểu như ,武也 (mã, vũ dã), , 事也 (ngưu, sự dã)), khác với môn học tự tộc (字族 word family) của họ Chương(17). Họ Chương chú trọng vào sự thông chuyển thanh vận, mở ra hai con đường mới. Một là lấy cổ chứng cổ, có thể lấy Văn thuỷ文始 của ông làm đại biểu; hai là lấy cổ chứng kim, có với đại biểu là Tân phương ngôn 新方言 của ông. Trong Văn thuỷ có những nghiên cứu về tự tộc (字族) đầy giá trị, như ba chữ (quán), (quan), (hoàn) về tự hình hoàn toàn không có liên quan gì với nhau, nhưng về mặt nghĩa thì phải công nhận là cùng một lai nguyên.Tuy nhiên đây là con đường khá nguy hiểm, bởi thanh âm cho dù tương cận hoặc thậm chí tương đồng đi nữa, thì cũng không nhất định là đồng nguyên. Phương pháp như thế có thể khơi dậy vô khối những nghiên cứu liều lĩnh cho người sau, ví như có người cho rằng văn tự Trung Quốc và Tây Phương cũng có chỗ đồng nguyên, như chữ (quân = vua) và chữ “king” (= vua) trong tiếng Anh có âm đọc tương cận, chữ (lộ = con đường) và chữ “road” (= con đường) trong tiếng Anh âm cũng tương cận; lại như có người viết cuốn Thuyết âm 說音, coi đây là khuynh hướng tự nhiên của nhân loại, có thể làm cho ngữ âm và ngữ nghĩa có một mối liên hệ tự nhiên, như chữ (phì = béo) với chữ tiếng Anh “fat” (= béo) là song thanh. Thế nhưng các nhà ngữ âm học đã chỉ rõ, “bad” trong tiếng Ba Tư và “bad” trong Anh ngữ âm và nghĩa hoàn toàn giống nhau, “feu” trong Pháp ngữ và “Feuer” trong Đức ngữ, “whole” trong tiếng Anh và “holos” trong tiếng Hi Lạp ý nghĩa hoàn toàn giống nhau, âm đọc cũng gần nhau, nhưng tuyệt không phải đồng nguyên. Vì vậy, phương pháp “tân thanh huấn” cần được vận dụng với một thái độ hết sức thận trọng; Văn thủy đã không thể không có chỗ thiếu sót, những người phỏng theo nó lại càng dễ sa vào sai lầm.

Phương pháp của Tân phương ngôn lại càng nguy hiểm. Hiện nay đã cách thời Tiên Tần hơn hai nghìn năm, cách đời Hán cũng đã gần hai nghìn năm, trong khoảng hai nghìn năm đó, ngôn ngữ Trung Quốc đã trải qua không biết bao nhiêu thay đổi. Tác giả Tân phương ngôn và những học giả cùng phái mắc một quan niệm sai lầm khi cho rằng mỗi chữ trong phương ngôn hiện đại đều có thể tìm được trong cổ thư từ thời Hán trở về trước, đặc biệt là trong Thuyết văn, nhưng họ đâu biết có hai trường hợp vượt ngoài phạm vi của cổ thư. Một là, trong phương ngôn cổ đại có một số chữ, vì chỉ lưu hành trong một khu vực địa lí nhỏ, nên rất có thể không gặp trong ghi chép của kinh tịch. Nhưng khu vực nhỏ ấy về sau có thể trở thành đô thị lớn, những chữ trước đây bị bỏ rơi đó lại dần dần chiếm ưu thế. Hai là, vấn đề tộc người ở Trung Quốc rất phức tạp, thời cổ đại lại càng phức tạp hơn, có một số ngữ vựng được mượn dùng từ ngoài Trung Quốc, thời gian mượn dùng có thể dài ngắn khác nhau, chúng ta nếu cho rằng mỗi chữ trong phương ngôn hiện đại đều là di lưu của cổ tự, thì có lúc sẽ thành ra “trỏ hươu bảo ngựa”. Trong hai trường hợp vừa nói, trường hợp thứ hai có mối quan hệ càng lớn. Ví như, hiện nay trong khu vực “Việt ngữ”(18) (粵語), một số nơi đọc chữ (tước = nhai) là [øi], chữ này có thể được mượn từ chữ “nhai” trong tiếng Việt Nam, giả sử chúng ta đòi tìm lai nguyên của chữ ấy trong sách cổ thì nhất định không tránh khỏi gán ghép một cách khiên cưỡng. Bây giờ hãy lấy một ví dụ trong Tân phương ngôn của Chương Bính Lân. Khi tìm lai nguyên của chữ (), họ Chương viết:

“Chữ () là sự mở rộng trong ngôn ngữ. Cũng nghĩa như (), mượn thông làm (), nay thường nói 甚么 (thậm ma), là thiết âm của . Ở vùng Xuyên Sở nói là 舍子 (xá tử), vùng Giang Nam nói , tục nói là , vốn là chữ vậy”(19).

Vì sao ông biết chữ có nghĩa là ( = nghi vấn từ)? Ông nói: “Thiên Đằng Văn công 滕文公 trong Mạnh tử 孟子 viết: “舍皆取諸其宮中而用之”, cũng như nói vật gì cũng đều ấy từ trong cung đó ra mà dùng”. Ở đây có hai nghi vấn không có cách nào giải đáp: một là, những câu kiểu như “何物皆取諸其宮中而用之” không hợp với ngữ pháp thời thượng cổ; “甚么都…” chỉ là sản phẩm của ngữ pháp cận đại muộn, từ Đường - Tống trở về trước không có, nói gì đến thời Tiên Tần? Hai là, chữ [/she/ - ND] biến thành 甚么[/shenme/ - ND] thì thật kì lạ, là chữ có âm trong (清音), còn là chữ âm đục (濁音), không thể là thiết âm [cho - ND], vả lại ở giữa còn có [m] tại sao lại biến mất, điều đó cũng khó mà giải thích. Những người sau theo bước họ Vũ họ Chương ngày càng trầm trọng hơn, đến nỗi thành ra bắt bóng bắt gió. Như trong Từ hải, dưới mục chữ (hách) ghi nhận ba nghĩa:

“1. Dùng miệng chống lại người khác gọi là “hách”, xem Tập vận. Trang tử 莊子- Thu thuỷ 秋水 viết: “Con cú được con chuột chù, con uyên sồ bay qua, [con cú] ngẩng lên trông mà kêu hách(20). Thích danh dẫn họ Tư Mã nói rằng: “hách nghĩa là giận dữ bằng âm thanh của mình” (, 怒其聲), xét nghĩa thì hợp với Tập vận. 2. Làm người khác sợ hãi gọi là “hách” (驚恐人曰嚇). Trang tử - Thu thuỷ viết: “Nay ngài muốn đem nước Lương của ngài ra mà “hách” tôi sao?”(21) [Trang tử nguyên văn chữ viết là - VL], ngữ âm đọc như (hạ), cũng viết như (hách)…”.

Thật ra, chữ trong Trang tử chỉ có một nghĩa, chính là “giận dữ bằng âm thanh của mình” (怒其聲), cũng chính là một từ tượng thanh. “嚇我” nghĩa là dùng loại âm thanh ấy để đối xử với tôi, cũng tức là cho rằng tôi ái mộ nước Lương của ngài, như con cú cho rằng chim uyên sồ ái mộ con chuột chù của mình. Từ hải vô cớ dẫn ra nghĩa “sợ hãi” thì thật sai lầm lắm. Đại khái một tự nghĩa quyết không chỉ gặp một lần trong cổ thư, trừ phi xuất hiện mà biến hình (tức cái vẫn gọi là giả tá), còn những tự nghĩa chỉ gặp một lần thì hết sức đáng ngờ, bởi đã là toàn bộ tự nghĩa trong ngôn ngữ thì sao lại không có ai khác dùng theo? Vì vậy, ta hoàn toàn không thể trông cậy vào cách cắt nghĩa chữ trong Tân phương ngôn và chữ trong Từ hải.

Từ sau khi người đời Thanh đề xướng cái học thanh vận, phong cách truyền lan, biết bao nhà khảo chứng thích đem “song thanh điệp vận”(22) ra chứng minh cho sự thông chuyển của tự nghĩa, cái gọi là “nhất thanh chi chuyển”(23) luôn được coi là một chứng cớ hữu hiệu. Thực ra loại chứng cứ này sức thuyết phục rất yếu; trừ phi chúng ta đã có những chứng cứ khác thì mới có thể tạm đem “nhất thanh chi chuyển” làm phụ chứng. Nếu chỉ đơn thuần dựa vào việc ngữ âm gần nhau để chứng minh thì cũng như chẳng chứng minh gì. Có rất nhiều chữ song thanh điệp vận, sao biết không phải là ngẫu nhiên? Ví như Quảng Châu có chữ (lâm) nghĩa là “chín rữa” (熟爛了的), nếu theo thuyết “nhất thanh chi chuyển”, chúng ta hẳn có thể nói [pinyin là /lín/ - ND] và [/làn/ - ND] là “nhất thanh chi chuyển”, là tiền thân của trong ngôn ngữ thường ngày. Nguyên nhân khiến chúng ta không nói như thế là vì ngoài việc võ đoán cái điều “nhất thanh chi chuyển” ấy ra thì không còn lí do nào khác có sức thuyết phục nữa. Lại thấy ở một vùng khác trong khu vực “Việt ngữ”, đọc như (nẫm) bình thanh (“Việt ngữ” đọc [nәm] thượng thanh), bỗng khiến chúng ta phải hoài nghi âm gốc của nó là [nәm], Quảng Châu có một bộ phận dân không phân biệt [n] và [l], nên mới đọc thành [lәm - ND]. Nếu chúng tôi đoán không nhầm, thì càng không thể nói chữ biến đổi từ mà thành. Lí lẽ của thanh vận vốn rất bình thường, nhưng người xưa lại coi là thần bí, cho nên thuyết “song thanh điệp vận” bởi tính thần bí của nó mà bỗng có tầm quan trọng không tương xứng. Đây là điều không thể chấp nhận được đối với tân huấn hỗ học.

Trong những sai lầm của cựu huấn hỗ học, sai lầm lớn nhất chính là sùng cổ. “Tiểu học” vốn là phụ dung của kinh học, mục đích ban đầu là làm sáng tỏ kinh điển, về sau phạm vi mở rộng hơn, nhưng cũng chỉ giới hạn trong việc làm sáng tỏ cái cũ (明古). Tự nghĩa thời Tiên Tần gần như trở thành đối tượng nghiên cứu duy nhất của các “tiểu học gia”. Thậm chí những nghiên cứu về phương ngôn hiện đại cũng chẳng qua là tìm kiếm một vài minh chứng cho tự nghĩa thời thượng cổ mà thôi. Đây có thể nói là biểu hiện của tư tưởng phong kiến, bởi tôn kinh và sùng cổ, chính là nhằm duy trì chế độ phong kiến và phủ nhận tiến bộ xã hội.

2. Tân huấn hỗ học

Trên đây đã nói không ít về công và tội của cựu huấn hỗ học. Công tội của cựu huấn hỗ học đã định rồi, vậy tân huấn hỗ học nên theo con đường nào, cũng có thể nói là “tính được già nửa” rồi.

Chúng ta nghiên cứu ngữ nghĩa, đầu tiên cần phải có quan niệm lịch sử. Người xưa giảng giải nghĩa gốc của chữ và giả tá dẫn thân (cái mà Chu Tuấn Thanh 朱駿聲 gọi là chuyển chú giả tá 轉注假借), cố nhiên cũng là truy cứu lai nguyên của tự nghĩa cũng như diễn biến của nó, đáng tiếc là chúng ta chỉ chú trọng từ đời Hán trở về trước, còn từ đời Hán trở về sau lại rất ít bàn tới. Tân huấn hỗ học trước hết phải uốn nắn sai sót này, coi mỗi thời đại trong lịch sử ngôn ngữ có giá trị ngang nhau. Cổ nghĩa từ đời Hán trở về trước đương nhiên đáng được nghiên cứu, nhưng những nghĩa mới xuất hiện ở hàng trăm hàng nghìn năm sau cũng xứng đáng có những nghiên cứu tương tự. Bất luận một chữ “tục” () thế nào, chỉ cần nó chiếm ưu thế trong xã hội thì cũng đáng để chúng ta truy nguyên lịch sử của nó. Như chữ (tông = lỏng lẻo) trong 鬆緊 (tông khẩn = lỏng lẻo và chặt chẽ) và chữ (thối = đùi) trong 大腿 (đại thối = đùi vế) đều không có trong Thuyết văn, vì vậy những trước tác huấn hỗ học lấy Thuyết văn làm căn cứ cũng không chịu thu nhận chúng (như trong Thuyết văn thông huấn định thanh 說文通訓定聲). Hiện nay chúng ta cần tìm ra những chữ chiếm địa vị quan trọng trong tiếng Hán hiện đại như thế, xem chúng xuất hiện từ bao giờ. Còn như chữ (bột = cái cổ) trong 脖子 (bột tử = cái cổ), chữ (bàng = bàng quang) trong 膀子 (bàng tử = bàng quang) thì e rằng còn muộn hơn nữa so với thời đại của chữ , nhưng ta cũng nên truy tầm lai nguyên của chúng. Tóm lại, đối với mỗi ngữ nghĩa, ta đều phải nghiên cứu xem nó ra đời vào thời điểm nào, khi nào thì biến mất. Tuy thư tịch xưa nay có hạn, không thể xác định rõ ràng một ngữ nghĩa nào đó phải được sinh ra đúng thời đại xuất hiện trước tác đầu tiên chứa nó, nhưng ít nhất ta cũng đoán định được nó ra đời không thể muộn hơn thời kì nào đó; về sự biến mất của nó thì cũng như vậy. Chư vị tiền bối tất nhiên cũng khá lưu tâm tới sự xuất hiện cũng như biến mất của ngữ nghĩa, tiếc là họ chỉ chú ý tới thời kì từ đời Hán trở về trước. Chúng ta cần phá bỏ quan niệm “tiểu học” là phụ dung của kinh học thì tân huấn hỗ học mới thực sự trở thành một bộ môn của lịch sử ngôn ngữ học.

Về diễn biến của ngữ nghĩa, theo quan niệm cũ của Tây phương, có tất cả ba phương thức, gồm: 1. mở rộng (擴大khuếch đại); 2. thu hẹp (súc tiểu 縮小); 3. chuyển dời (chuyển di 轉移). Chúng tôi từng có dịp giải thích ba phương thức này ở một công trình trước đây, giờ cũng không ngại trình bày lại đôi lời. Phương thức mở rộng như chữ (kiểm) vốn nghĩa là “[bộ phận] dưới mắt trên má” (目下頰上), hiện nay biến nghĩa thành “khuôn mặt”, như vậy là từ một bộ phận nhỏ trên mặt mở rộng thành toàn bộ khuôn mặt. Phương thức thu hẹp như chữ (chỉ), vốn viết là (chỉ), nghĩa là “bàn chân” (thiên Sĩ hôn lễ 士昏禮 sách Nghi lễ 儀禮 có câu “皆有枕, 北止”, Trịnh Huyền chú: “足也”), về sau biến thành nghĩa “ngón chân” (腳趾cước chỉ), như thế là từ cả cái chân đã thu hẹp còn một bộ phận của cái chân. Phương thức chuyển dời như chữ (cước), vốn nghĩa là “cẳng chân” (hĩnh), sau biến thành đồng nghĩa với chữ (túc = bàn chân), thế là từ một bộ phận cơ thể đã chuyển dời sang một bộ phận khác.

Ba phương thức kể trên hoàn toàn không chỉ giới hạn trong danh từ, mà động từ, hình dung từ… cũng thế. Bây giờ lại thử đưa ra một vài ví dụ. Chữ (tế) có nghĩa phù là (hệ)(24), đại khái vốn chỉ dùng làm hình dung từ cho “sợi tơ” (ti), sau biến nghĩa thành “nhỏ” (tiểu), đó là phương thức mở rộng; hiện nay chữ trong “Việt ngữ” nghĩa là “nhỏ” (), mà trong tiếng quan thoại thì lại biến thành nghĩa là “tinh xảo, tinh tế” (細致, 精細tế trí, tinh tế), đây là phương thức thu hẹp. Chữ (ấu) vốn nghĩa là “trẻ con” (幼稚ấu trĩ), hiện nay bạch thoại “Việt ngữ” dùng (hình dung từ) để trỏ sự nhỏ bé như của tơ gai bông vải, đây lại là phương thức chuyển dời. Lại như chữ (tẩu)(25) trong tiếng quan thoại hiện nay bằng nghĩa chữ (hành = đi) thời cổ đại, cũng là phương thức chuyển dời.

Ngoài ba phương thức kể trên vẫn còn một loại tình huống đặc thù, đó là phép kị húy. Thời cổ đại, tên huý của đế vương luôn gây ra chuyển biến về ngôn ngữ. Hán Minh đế tên là (Trang), dẫn đến 庄光 (trang quang) biến thành 嚴光 (nghiêm quang), thậm chí kiêng húy đến cả chữ đồng âm, 治奘 (trị trang) biến thành 治嚴 (trị nghiêm), 妝具 (trang cụ) biến thành 嚴具 (nghiêm cụ). Đường Thái tông tên là 世民(Thế Dân), dẫn đến 三世 (tam thế, tổ tông ba đời) đổi thành 三代 (tam đại), 生民 (sinh dân) đổi thành 生人(sinh nhân). Ngoài ra lại còn kị huý đối với những sự vật bị người ta ghét bỏ. Loại này có khá nhiều trong “Việt ngữ”, như tiếng Quảng Đông có chữ (thực) trong 蝕本 (thực bản = lỗ vốn) âm đọc như chữ (thiệt = cái lưỡi), thương nhân kiêng chữ , thế là 猪舌 (trư thiệt = lưỡi lợn) biến thành 猪利 (trư lợi), 牛舌(ngưu thiệt = lưỡi bò) biến thành 牛利 (ngưu lợi); thương nhân và tay cờ bạc kiêng chữ (can = tượng trưng cho không có tiền), (can = gan) đồng âm, thế là 猪肝 (trư can = gan lợn) biến thành 猪潤 (trư nhuận), có vài vùng biến thành 猪濕 (trư thấp); thậm chí ở nhiều vùng, dân cờ bạc kiêng chữ (thư = sách vở) thành (thắng = chiến thắng), duyên cớ là vì (thâu = thua) đồng âm [/shu/ - ND]. Đây là những kiêng kị về của cải. Người vùng “Việt ngữ” kiêng chữ (huyết = máu, tiết để ăn) nên 猪血 (trư huyết = tiệt lợn) gọi là 猪紅 (trư hồng); người Vân Nam cũng kiêng như vậy, cho nên 猪血 gọi là 旺子 (vượng tử). Tiếng vùng “Việt ngữ” gọi (sát = giết) là 當刂 (âm đọc như (thang = món canh) [/tang/ - ND]), cho nên một số vùng như Nam Ninh kiêng thành (canh = món canh) (nhưng tự nghĩa từ thời xưa đã có rồi); một số vùng người ta kiêng thành (thuận), như dân cờ bạc và các nhân viên bán hàng ở vùng Khâm Liêm. Đây là những kiêng kị về mặt tử thương. Lại như ở Quảng Đông rất nhiều người kiêng 空身 (không thân) thành 吉身 (cát thân). 空身 có nghĩa là đi du ngoạn mà không mang theo hành lí hàng hoá. Trong “Việt ngữ” (không) và (hung = dữ) đồng âm, cho nên kiêng mà nói (cát = lành). Đây là kiêng kị về mặt may rủi.

Qua sự chuyển dời của một số ngữ nghĩa có thể nhận ra ngữ nghĩa đã tăng nặng hoặc giảm nhẹ như thế nào. Bây giờ thử xét hai ví dụ về các chữ (tru) và (thưởng). Chữ nghĩa phù là (ngôn = lời nói), xưa vốn chỉ có nghĩa là “trách móc” (trách) (trong Luận ngữ có câu “於予與何誅Ư Dư dữ hà tru = Đối với anh Dư ta còn trách được điều gì), sau này mới chuyển thành nghĩa “giết chết” (殺戮sát lục), từ “trách móc” đến “giết chết” là phép tăng nặng (加重法gia trọng pháp). Chữ nghĩa phù là (bối = tiền của), xưa vốn chỉ có nghĩa “tặng thưởng” (賞賜thưởng tứ), sau này biến nghĩa thành “tán thưởng” (贊賞), từ tặng thưởng bằng đồ vật chuyển sang khen ngợi bằng ngôn từ, đó là phép giảm nhẹ (減輕法giảm khinh pháp). Lại xin lấy một vài phương ngữ hiện đại làm ví dụ. “Việt ngữ” gọi “giá rẻ mạt” là (bình), vốn là chữ trong (bình giá = giá bình thường), (bình thiếu = bán thóc gạo theo giá bình thường), chỉ có nghĩa là “giá phải chăng” (價值相當), từ “giá phải chăng” mà chuyển thành “giá rẻ mạt” () cũng là một loại phép tăng nặng. Tiếng quan thoại ở rất nhiều nơi miền Tây Nam gọi “giá rẻ mạt” là (tương ứng), e rằng cũng vì lẽ đó. Phép tăng nặng dường như có thể quy vào phương thức mở rộng, phép giảm nhẹ có thể quy vào phương thức thu hẹp, nhưng cả hai loại đều có thể coi là phương thức chuyển dời. Sự chuyển biến ngữ nghĩa không nhất định phải là sự thay thế cũ - mới, có khi hai loại nghĩa cũ và mới của chúng tồn tại đồng thời (như chữ ), hoặc đến nay vẫn tồn tại đồng thời (như chữ ). Vì thế chúng ta biết được sự chuyển dời ngữ nghĩa có cả thảy hai trường hợp: một là “tằm hoá ngài” (蚕化蛾), hai là “trâu sinh nghé” (牛生犢).

Như trên đã viết, ngôn ngữ học có thể chia làm ba bộ môn: một là ngữ âm học, hai là ngữ pháp học, ba là ngữ nghĩa học. Nhưng ngữ nghĩa học tuyệt đối không thể bỏ qua mối quan hệ giữa nó với ngữ âm và ngữ pháp. Về quan hệ giữa ngữ âm với ngữ nghĩa, người trước đã từng chú ý đến. Trong bộ sách Văn thuỷ của Chương Bính Lân, phần thành công chính là đã cắt đứt sự trói buộc của tự hình, gặt hái được thành tựu từ quan điểm liên hệ giữa âm với nghĩa. Ở đây cũng không cần trình bày nhiều thêm nữa. Còn quan hệ giữa ngữ pháp với ngữ nghĩa, xưa nay rất ít người chú ý tới. Trên đây đã nói về kiểu ngữ pháp “甚么都…” (phó từ phạm vi gắn chặt sau đại từ nghi vấn), kiểu này chưa có ở thời thượng cổ, cho nên chúng ta biết được “舍皆…” không thể giải mã thành “何物皆…”, đó chính là chứng minh ngữ nghĩa bằng ngữ pháp. Thử lấy thêm vài ví dụ tương tự. Rất nhiều tự điển đều giải thích chữ (thích) là 往也 (vãng dã), nhưng chữ thời thượng cổ là một nội động từ thuần túy, đích đến của không nói ra hoặc không thể nói ra; chữ thời thượng cổ là một ngoại động từ hoặc “chuẩn(26) ngoại động từ” (có người gọi là nội động từ quan hệ), đích đến của phải được nói đến. bằng (khứ = đi) trong tiếng quan thoại hiện đại, bằng (đáo… khứ = đi đến…) trong tiếng quan thoại hiện đại, đây là sự bất đồng về ngữ pháp ảnh hưởng đến sự bất đồng về ngữ nghĩa.

Nghiên cứu quá trình xuất hiện và diễn biến của ngữ nghĩa không nên để tự hình trói buộc. Như với , với , với , với , với 尿, luận về tự hình thì hoàn toàn không giống nhau tí nào, nếu luận về âm nghĩa thì hoàn toàn giống nhau (đương nhiên đây không nói rằng những nghĩa khác của chúng cũng giống nhau hoàn toàn). Có một số chữ, hình tuy không cổ, nhưng nghĩa thì rất cổ, khi đoán định thời đại xuất hiện của chúng, ta cần lấy nghĩa làm chuẩn. Như chữ (đường = kẹo) ra đời tuy muộn, nhưng chữ (đường = kẹo mầm) thì ít nhất đến đời Hán đã có rồi, cho nên chúng ta có thể đoán định ngữ nghĩa của là khá cổ. Ngược lại, cũng có một số chữ, nghĩa tuy không cổ nhưng hình thì rất cổ, khi đoán định thời đại xuất hiện của chúng, cũng không thể coi tự hình làm chuẩn. Như chữ (thưởng = cướp) trong 搶劫 (thưởng kiếp = cướp bóc) khoảng từ sau đời Tống mới xuất hiện nghĩa này, thời Tiên Tần tuy có chữ (Trang tử - Tiêu dao du có câu 飛搶榆枋Phi thương(27) du phường = bay va vào cây du cây phường), nhưng không liên quan gì đến chữ trong 搶劫. Lại như chữ 穿 (xuyên = mặc) trong 穿衣 (xuyên y = mặc quần áo), tuy rất có thể là từ ý nghĩa của 貫穿 (quán xuyên = xuyên qua, thông suốt) mà biến ra, nhưng từ khi nào nó bắt đầu có nghĩa là 穿衣, chúng ta không thể không quan tâm. Rất nhiều bộ từ điển hiện nay (như Từ hải) thậm chí còn xếp ý nghĩa của 穿衣 vào dưới chữ 穿, thế là không thoả đáng. Lại như chữ (hồi), tuy gặp nhiều trong kinh tịch Tiên Tần, nhưng chữ trong 來回 (lai hồi = trở lại, về) thì mãi đến khoảng đời Đường mới sinh ra. Chữ thời thượng cổ tương đương chữ đời sau, Thuyết văn chú dưới chữ 轉也 (chuyển dã = quay lại), trong Tuý Ông đình kí 醉翁亭記 có câu “峰回路轉” (phong hồi lộ chuyển), chính là 峰迴路轉 (phong hồi lộ chuyển = núi quanh đường co). Nghĩa 來回 tự nhiên đã được dẫn thân từ nghĩa của mà ra, bởi vì đi vào đường cùng thì ắt phải lượn cong hoặc quay lại. Hiện nay một phần Ngô ngữ 吳語 (như tiếng Tô Châu 蘇州) và tiếng Khách Gia (客家) đều coi , có thể làm minh chứng. Nhưng chúng ta chỉ có thể nói ở thời chữ được dùng để giải nghĩa chữ , thì đã ngầm có khả năng chuyển biến thành nghĩa 來回, chứ không thể nói thời thượng cổ đã có chữ trong 來回. Chữ hiện đại, thời thượng cổ dùng chữ phản (sau này viết là ). Nghiên cứu ngữ nghĩa như vậy mới không đến nỗi để tự hình đánh lừa.

Các nhà văn tự học xưa nay đều thích nghiên cứu ngữ nguyên, nhưng họ có một lỗi lớn mà chúng ta phải cố gắng tránh, đó là đoán định theo kiểu “nối xa” (遠紹viễn thiệu). “Nối xa” là: giả sử một ngữ nghĩa nào đó trong một hai nghìn năm trước đã xuất hiện một lần, nhưng không thấy trong sử liệu sau đó, mãi đến thư tịch gần đây hoặc trong phương ngôn hiện đại mới tái xuất hiện. Hiện tượng kì quái biến hoá tài tình này không có trong lịch sử ngôn ngữ. Phần trên đã nói đến cách giải thích chữ (hách) trong Từ hải, đó là phạm vào lỗi võ đoán này. Ngoài ra lại có một tình huống nữa gần giống tình huống này, đó là: giả sử một ngữ nghĩa nào đó trong một hai nghìn năm trước đã trở thành nghĩa chết, sau một hai nghìn năm vẫn “sinh con”. Như chữ (cai), Thuyết văn nói: “lời ước hẹn trong quân đội” (軍中約也quân trung ước dã). Chữ (cai = nên) trong 應該 (ưng cai = nên) và chữ (cai = nợ) trong 該欠 (cai khiếm = mắc nợ) dường như đều có thể miễn cưỡng mà bảo là dẫn thân của nghĩa “lời ước hẹn trong quân đội” (chính Đoàn Ngọc Tài đã nói vậy). Nhưng quái lạ là, chữ trong 應該 sinh ra trong khoảng sau đời Tống, chữ trong 該欠 có thể còn muộn hơn nữa, mà nghĩa cổ “lời ước hẹn trong quân đội” cho dù đã từng tồn tại thì cũng đã trở thành nghĩa chết ngay từ trước đời Hán, sao có thể đột nhiên dẫn thân ra hai nghĩa mới sau một nghìn năm? Đây là điểm quan trọng nhất trong phương pháp ngữ nguyên học.

Nhưng, quan sát sự biến thiên ngữ nghĩa trong lịch sử, đầu tiên chúng ta nên có con mắt nhạy bén, không thể bỏ qua bất kì một thay đổi nào dù nhỏ. Quá trình chuyển dời của đa số ngữ nghĩa không ngoài hai chữ “dẫn thân” (引伸), cái gọi là dẫn thân có thể ví với hình ảnh từ một điểm rồi vươn tới một điểm khác. Đã là dẫn thân, thì dù ít dù nhiều cũng có điểm tương tự với nguyên nghĩa; nếu quá gần nhau, thì dẫu trên thực tế phát sinh thay đổi, thường người ta cũng chỉ qua quít lược bỏ, và thoả mãn với cái “gần như thế”. Vậy thì, trong rất nhiều trường hợp ta đều không thể nhìn ra bộ mặt thật của quá trình thay đổi. Như ví dụ về chữ (cước) ở trên, vốn có nghĩa (hĩnh), là “cẳng chân” trong tiếng hiện đại, “cẳng chân” và “cái chân” (腿丫子) khác nhau khá xa, thế mà Từ hải trong mục từ lại chú nghĩa thứ nhất: “Là cẳng chân, xem Thuyết văn. Xét thấy cước là cách gọi khác của túc(28). Như vậy là nói (túc) bằng với , bằng với , hoàn toàn không có quan niệm về cổ hay kim. Đoàn Ngọc Tài có cái nhìn hết sức nhạy bén, ví như ông chú thích chữ (cẩn), chú ý đến sự bất đồng giữa chữ đời Đường và chữ đời Thanh, chữ đời Đường có nghĩa “suýt soát, gần” (庶幾thứ cơ), họ Đoàn dẫn thơ Đỗ Phủ: “山城僅百層” (Sơn thành cẩn bách tằng = Thành núi gần trăm tầng) làm ví dụ. Chúng ta thử lấy thơ văn đời Đường ra làm ấn chứng thì thấy quả thật như vậy, như Bạch Cư Dị với bài Yên tử lâu thi tự 燕子樓詩序:“爾后絕不復相聞, 迨茲僅一紀矣(29). Xét thấy chữ đời Đường và chữ đời Thanh đều là phó từ chỉ trình độ, rất dễ bị đồng nhất, nhưng trên thực tế thì ngược lại, bởi đời Đường có nghĩa than vì nhiều, đời Thanh có nghĩa than vì ít. Giống với chữ là chữ (sảo = hơi hơi), từ đời Tống trở về trước, chữ đều được giải nghĩa bằng chữ (tiệm = dần dần), thời cận đại mới giải nghĩa bằng chữ (lược = sơ lược). Những chỗ như vậy thật vô cùng thú vị, chúng ta chớ nên bỏ qua. Giờ hãy thử lấy hai chữ rất thông thường làm ví dụ. Chữ (tái), từ thời Đường - Tống trở về trước đều có nghĩa là “hai lần” (nhị thứ, twice), (tái tiếu)(30), (tái tạo), 再生 (tái sinh) đều hợp với nghĩa này, hiện nay biến nghĩa thành “trở lại” (, phục, again), thì đã khác rồi. Như khi nói “Ông X đã đến đây ba lần, ngày mai lại đến (再來tái lai)”, chỗ này thời cổ đại chỉ có thể dùng 復來 (phục lai), không thể dùng 再來. Chữ cổ đại không chỉ không thể trỏ hành vi diễn ra hơn hai lần, cũng không thể chuyên chỉ hành vi diễn ra lần thứ hai, mà kiêm chỉ hành vi của cả hai lần. Thuyết văn chú nghĩa chữ : “một hành động diễn ra hai lần” (一舉而二也nhất cử nhi nhị dã) là thoả đáng nhất. Lại như chữ (lưỡng = hai), hiện nay suýt soát nghĩa với chữ (nhị = hai) (về ngữ pháp hơi có khác biệt, xin xem chương IV cuốn Trung Quốc hiện đại ngữ pháp 中國現代語法 của tôi), nhưng mới đầu, chắc chắn có phân biệt lớn về nghĩa. Vốn dĩ, chữ số và chữ trong 車兩 (xa lượng = xe cộ, nay viết là 車輛) là đồng nguyên. Thuyết văn coi là chữ số , coi là chữ trong 車兩 , đó là phân biệt cưỡng sinh, như người đời Đường phân biệt với , giống như người nay phân biệt với . Trong Phong tục thông viết: Xe có hai bánh, cho nên gọi là lượng” (車有兩輪, 故稱為兩Xa hữu lưỡng luân, cố xưng vi lượng), như thế là chính xác. Chúng tôi đoán rằng mới đầu chỉ có xe mới gọi bằng , cho nên phần Thiệu Nam trong kinh Thi có câu “之子于歸 , 百兩御之(31), 百兩 đã có thể biểu thị “trăm cỗ xe”. Dẫn thân từ nghĩa 車兩, hễ vật thành đôi đều có thể gọi là . Nhưng điều khác biệt giữa nó với chữ là ở chỗ: chữ chỉ chỉ hai vật có phối hợp với nhau, không chấp nhận sự tồn tại của vật thứ ba; chữ thì hoàn toàn không phối hợp với nhau, chỉ là phiếm chỉ con số “2” mà thôi. Vì vậy, 两儀 (lưỡng nghi), 兩端 (lưỡng đoan), 兩造(lưỡng tạo), 兩廡 (lưỡng vũ)(32) đều hợp với nghĩa thời thượng cổ, bởi không thể có nghi, đoan, tạo, vũ thứ ba tồn tại. 兩漢 (Lưỡng Hán), 兩晉 (Lưỡng Tấn), 兩湖 (Lưỡng Hồ), 兩廣 (Lưỡng Quảng) cũng hoàn toàn đúng. Còn như Trần Chẩn truyện 陳軫傳 trong Sử kí có câu: “兩虎方且食牛” (Lưỡng hổ phương thả thực ngưu = hai hổ vừa ăn thịt con bò) chữ ở đây cũng gần nghĩa với chữ . Có thể thấy đời Hán về sau, dần dần không phân biệt nữa. Ngày nay chúng ta nói “mua hai cân thịt” (買兩斤肉)(33), “ăn hai bát cơm” (吃兩碗飯) thì hoàn toàn đánh đồng với , nếu theo nghĩa thời thượng cổ thì không thể dùng được, bởi trong chợ không chỉ có hai cân thịt, chẳng qua tôi chỉ mua hai cân trong số ấy thôi; và trong nồi cũng không chỉ có hai bát cơm, mà là tôi chỉ ăn hai bát trong số ấy thôi. Những chỗ như này rất dễ bị bỏ qua. Đôi khi chúng ta chỉ nên tận dụng những tư liệu mà người xưa đã thu thập, rồi dùng một kiểu đầu óc khác để nghiên cứu chúng, thì có thể mang lại nhiều gặt hái.

Từng có người đề cập đến quan hệ giữa văn tự học với lịch sử văn hoá, có vô vàn ngữ nguyên có thể chứng minh cho sự thật [về mối quan hệ - ND] này. Theo ghi chép trong Thuyết văn, có rất nhiều tên các loài ngựa, trâu bò, chó, lợn, điều đó có thể minh chứng rằng trong thời đại chăn thả cần phải phân biệt tỉ mỉ về các loài gia súc. Chữ (trị) có nghĩa phù là (thuỷ), bản nghĩa của nó là “trị thuỷ”. Thuyết văn ghi là tên dòng nước (sông, ngòi), Chu Tuấn Thanh nói: “Chữ viết theo thể triện đúng là có nghĩa khác, có thuyết cho là tên sông Mịch, [có thuyết cho biết nghĩa] là dẫn dắt dòng nước”(34), đây là cách nói thỏa hiệp. Thực ra chỉ có “dẫn dắt dòng nước” là nghĩa sớm nhất. Từ đây ta có thể chứng minh đúng là có nạn hồng thủy, cổ nhân đầu tiên tạo ra chữ , rồi mở rộng ra nghĩa “trị lí” trong tiếng phổ thông ngày nay; 治玉 (trị ngọc = làm ngọc), 治國 (trị quốc = quản lí đất nước) đều chỉ là những nghĩa sau này mới có mà thôi. Thời thượng cổ trọng nông nghiệp, cho nên tên các giống lúa cũng thật phức tạp. Chỉ cần xem mua bán thóc lúa mà phải dùng hai chữ (địch = mua thóc về) và (thiếu = bán thóc đi) (chữ dục có thể chính là tiền thân của chữ ) thì đã có thể biết thời thượng cổ trọng nông nghiệp đến mức nào. Lại nữa, về phong tục tập quán cũng có thể nhận ra qua sự phân hoá và tụ hợp của từ ngữ. Như về bộ râu (鬍子 hồ tử), thời thượng cổ có ba chữ (), (tu), (nhiêm), ở trên miệng gọi là , dưới cằm gọi là , hai bên má gọi là . Bộ râu được phân chia tỉ mỉ, điều đó cho thấy thời thượng cổ coi trọng nó. Người thời cận đại râu ria cạo nhẵn trụi, tự nhiên không cần phân biệt nữa, chỉ cần gọi 鬍子 là đủ.

Thực ra đâu chỉ có như vậy. Toàn bộ lịch sử ngôn ngữ đều có thể coi là thành phần của lịch sử văn hoá, mà lịch sử ngữ nghĩa lại là một bộ phận của lịch sử ngôn ngữ. Từ chiều cạnh lịch sử mà quan sát quá trình biến thiên của ngữ nghĩa, thì huấn hỗ mới có thể có giá trị mới. Cho dù không bao trọn lịch sử mà chỉ làm công việc mô tả ngữ nghĩa trong một thời đại (như ngữ nghĩa đời Chu hoặc ngữ nghĩa thời hiện đại), cũng chính là đoạn đại sử (斷代史), thì vẫn cần nhìn bằng con mắt lịch sử. Đến khi huấn hỗ thoát li khỏi kinh học mà nhập vào lĩnh vực lịch sử rồi, thì tân huấn hỗ học mới được coi là đã thành lập. Đến khi đó, huấn hỗ học đã không còn mang mùi vị giáo huấn “xưa đúng nay sai” nữa, mà là một ngành học quan sát, so sánh và giải thích một cách thuần túy./.

(Đăng lần đầu trong Khai minh thư điếm nhị thập chu niên kỉ niệm văn tập 開明書店二十周年紀念文集, 1947; đăng lại trong các cuốn Hán ngữ sử luận văn tập 漢語史論文集; Long Trùng Tịnh Điêu Trai văn tập 龍蟲并雕齋文集đệ nhất sách; Vương Lực văn tập 王力文集đệ thập cửu quyển)

Nguyễn Tuấn Cường

(dịch và chú thích)

[Dịch từ bản tiếng Trung Quốc: Vương Lực, Tân huấn hỗ học 新訓詁學, in trong cuốn: Vương Lực ngữ ngôn học luận văn tập 王力語言學論文集, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh 2000, 602 trang (phần dịch trang 498 - 510). Đây là cuốn sách về cơ bản đã phản ảnh những tư tưởng học thuật trọng yếu của cố GS. Vương Lực, do hai nhà Hán ngữ học nổi tiếng là Đường Tác Phiên 唐作藩và Lí Tư Kính 李思敬tuyển chọn từ di sản nghiên cứu đồ sộ của cố GS. Vương Lực]

Chú thích:

(1) Thuật nhi bất tác 術而不作: trình bày lại chứ không sáng tạo thêm (tất cả chú thích trong bài đều là của người dịch - ND).

(2) Không thể phân loại nghĩa.

(3) Có phân loại nhưng giới hạn không minh xác.

(4) Nguyên văn dùng từ 靜臣tĩnh thần (tĩnh có thể đọc âm tránh, vì dùng thông với chữ tránh), nghĩa là kẻ bề tôi dùng lời nói ngay thẳng để can gián vua, trường hợp này tạm dịch là “phản đề”.

(5) Nguyên văn: 禾麻菽麥則禾專名也; 十月納禾稼, 則禾又統名也hòa ma thúc mạch, tắc hoà chuyên danh dã; thập nguyệt nạp hoà giá, tắc hoà hựu thống danh dã. (Với những trích dẫn dài, thì tuỳ từng trường hợp, người dịch đưa phần nguyên văn chữ Hán, phiên âm hoặc dịch nghĩa xuống chú thích)

(6) Nguyên văn dùng từ 諍臣 tránh thần, tạm dịch là “phản đề”, xin xem chú thích số 4.

(7) Nguyên văn: 人之步趨也, 從彳從亍會意Nhân chi bộ xu dã, tòng xích tòng xúc hội ý.

(8) Trí bỉ chu hành = Bỏ cái giỏ bên đường lớn.

(9) Thị ngã chu hành = Hãy chỉ cho ta con đường lớn.

(10) Hành bỉ chu hành = Đi theo con đường lớn ấy.

(11) Chu đạo như chỉ = Đường lớn phẳng như đá mài (câu này cũng ở thiên Đại đông). Dịch giả Tạ Quang Phát có cách hiểu khác, ông dịch hai chữ “Chu đạo” là “đường nhà Chu”, rồi dịch cả câu là “Đường nhà Chu bằng phẳng như đá mài dao (ý nói việc thuế má của nhà Chu đồng đều)” (xem Tạ Quang Phát dịch, Kinh Thi, tập II, Nxb Đà Nẵng, 2003 (tái bản), trang 382).

(12) Trung hành độc phục = Giữa đường một mình quay về.

(13) Trung đạo nhi phế = Giữa đường mà bỏ dở.

(14) Tuân bỉ vi hành = Đi theo con đường nhỏ ấy.

(15) Tuân bỉ Nhữ phần = Đi theo bờ đê sông Nhữ kia (câu thơ này trong thiên Nhữ phần 汝坟).

(16) Theo logic lập luận của đoạn này thì ở đây phải là chữ 中道 (trung đạo) mới đúng, bởi tác giả đang muốn so sánh những mẫu câu tương tự giữa hai trích văn từ Dịch kinhLuận ngữ, mà chữ dùng trong Luận ngữ 中道 (trung đạo).

(17) Tự tộc 字族: trong tự vựng chữ Hán chủ yếu là chữ hình thanh, có rất nhiều chữ có cùng thanh phù, trong đó có thanh phù chỉ để biểu âm, có thanh phù lại kiêm cả biểu âm lẫn biểu ý. Nhóm những chữ có cùng thanh phù biểu âm kiêm biểu ý gọi là tự tộc (xem thêm: Ngữ ngôn văn tự bách khoa toàn thư 語言文字百科全書, Trung Quốc Đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1994, trang 451, cột 3)

(18) “Việt ngữ” 粵語: là khái niệm của ngôn ngữ học Trung Quốc, trỏ thứ phương ngữ sử dụng trên vùng đất khá rộng, đại biểu là tiếng Quảng Châu, phân bố tại hơn 100 huyện miền trung và tây nam tỉnh Quảng Đông, miền đông và nam tỉnh Quảng Tây; cũng là công cụ giao tiếp chủ yếu của vùng Hồng Công, Áo Môn (xem thêm: Hoàng Bá Vinh 黃伯荣 & Liêu Tự Đông 廖序东 chủ biên, Hiện đại Hán ngữ 现代汉语 (thượng sách), Cao đẳng giáo dục xuất bản xã, 1997, trang 4 - 9). Để tránh hiểu nhầm với khái niệm “tiếng Việt Nam”, trong khi dịch chúng tôi đặt khái niệm này của Trung Quốc trong ngoặc kép: “Việt ngữ”.

(19) Nguyên văn: , 語之舒也. 余亦訓何, 通借作舍, 今通言甚么, 舍之切音也. 川楚之間曰舍子, 江南曰舍, , 本余字也.Dư, ngữ chi thư dã. Dư diệc huấn hà, thông tá tác xá, kim thông ngôn thậm ma, xá chi thiết âm dã. Xuyên Sở chi gian viết xá tử, Giang Nam viết xá, tục tác xá, bản dư tự dã.

(20) Nguyên văn: 鴟得腐鼠, 鵷雛過之, 仰而視之曰嚇Si đắc hủ thử, uyên sồ quá chi, ngưỡng nhi thị chi viết “hách”. Dịch giả Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân dịch chữ hách là “hóe” (xem Nhượng Tống dịch, Trang tử Nam Hoa kinh, Nxb Văn học & Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2001 (tái bản), trang 178).

(21) Nguyên văn: 今子欲以子之梁國而嚇我也 (?) Kim tử dục dĩ tử chi Lương quốc nhi hách ngã dã (da?). Nhượng Tống dịch là “Nay bác muốn đem nước Lương nhà bác mà “Hoé” tôi sao?” (sđd, trang 178).

(22) Song thanh điệp vận 雙聲疊韻: thanh mẫu của hai chữ giống nhau gọi là song thanh; vận mẫu của hai chữ giống nhau gọi là điệp vận (xem thêm: Vương Lực, Song thanh điệp vận đích ứng dụng cập kì lưu tệ 雙聲疊韻的應用及其流幣, in trong Vương Lực ngữ ngôn học luận văn tập 王力語言學論文集, Thương Vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 2000, tr.511-515; Vương Lực , Hán ngữ âm vận 汉語音韻, Trung Hoa thư cục xuất bản, 1963, tr.48 - 50).

(23) Nhất thanh chi chuyển 一聲之轉: Trong các sách huấn hỗ học nói rằng hai từ có âm tương đồng, ngữ nghĩa tương thông thì gọi là nhất thanh chi chuyển; nói cách khác, nghĩa là có quan hệ song thanh tương chuyển. Ví dụ: chữ (lao) và chữ (lược) là những chữ song thanh thuộc mẫu (lai), đều có nghĩa là đoạt lấy, vậy là hai chữ nhất thanh chi chuyển, đây là quan điểm của Vương Niệm Tôn trong Quảng nhã sớ chứng 雅疏証. Từ quan hệ song thanh mà suy ra sự tương thông về từ nghĩa, đó là một phương pháp rất hữu dụng trong huấn hỗ học. Nhưng chỉ căn cứ vào nhất thanh chi chuyển để kết luận về sự tương thông hoặc tương cận của ngữ nghĩa thì không đủ, quan trọng nhất là phải có chứng cứ về mặt văn bản (xem thêm: Ngữ ngôn văn tự bách khoa toàn thư, sđd, trang 362, cột 2; Vương Lực, Song thanh điệp vận…, bđd).

(24) Đúng hơn phải là mịch, viết gần giống hệ. Mịch nghĩa là sợi tơ nhỏ, cũng là một bộ thủ, chỉ về tơ lụa.

(25) Chữ tẩu hiện nay nghĩa là “đi”, thời thượng cổ nghĩa là “chạy”.

(26) Chuẩn ngoại động từ 外動詞: từ loại mà về mức độ tuy không hoàn toàn đủ là một ngoại động từ, nhưng cũng có thể tạm thời đồng nhất hoá với ngoại động từ (chữ chuẩn ở đây nghĩa tương tự chữ á).

(27) Chữ trong trường hợp này đọc âm thương (bình thanh), nghĩa là “va, chạm”.

(28) Nguyên văn: 脛也, 見說文. 按脚為足之別稱Hĩnh dã, kiến Thuyết văn. Án cước vi túc chi biệt xưng.

(29) Nhĩ hậu tuyệt bất phục tương văn, đãi tư cẩn nhất kỉ hĩ = Sau đó ta không biết tin tức gì về nhau nữa, đến nay đã suýt soát mười hai năm trời.

(30) Tái tiếu: đàn bà lấy chồng hai lần.

(31) Chi tử vu quy, bách lượng ngự chi = Nàng ấy đi lấy chồng, trăm cỗ xe đi rước dâu. Câu thơ này trong bài Thước sào 鵲巢 .

(32)两儀lưỡng nghi: hai nghi, gồm dương và âm.

兩端lưỡng đoan: hai đầu mối (của một sợi dây).

兩造 lưỡng tạo: hai phe tranh tụng, gồm nguyên cáo và bị cáo.

兩廡 lưỡng vũ: hai mái phía đông và tây ngoài chính điện của cung điện hoặc đền miếu.

(33) Câu này nếu dịch chính xác sang tiếng Trung Quốc hiện đại thì là “mua một cân thịt”, bởi (cân) tương đương với ½ kg, hai = 1 kg.

(34) Nguyên văn: 治篆實當出別義, 一曰汨也, 理導水也Trị triện thực đáng xuất biệt nghĩa, nhất viết Mịch dã, lí đạo thủy dã.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (118-142)

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm