13. Bàn thêm đôi điều về tác gia Hán Nôm Nguyễn Địch
BÀN THÊM ĐÔI ĐIỀU VỀ TÁC GIA HÁN NÔM NGUYỄN ĐỊCH
NGUYỄN THỊ DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Về tác gia Nguyễn Địch, xưa nay chưa được giới thiệu nhiều. Bản thân các sách Hán Nôm viết về tác giả này cũng rất ít ỏi. Trong Lược truyện các tác gia Việt Nam(1), chỉ thấy ghi vài dòng ngắn gọn như sau: “Nguyễn Địch tự Huệ Phủ, hiệu Vân Đình. Không biết ông quê quán ở đâu, sinh và mất năm nào không rõ. Theo bài tựa trong sách, đề năm Tự Đức Bính Tí (1876), ông có đậu Tú tài, không biết khoa nào. Tác phẩm có: Vân Đình thi lục. Gần đây khi tìm hiểu trên các tư liệu Hán Nôm trong kho sách Hán Nôm và một số địa phương khác chúng tôi nhận thấy ông không chỉ là một nhà Nho mà còn là một y gia. Y thư của ông hiện vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Thiết nghĩ tìm hiểu về các nhà Nho - Y cũng là một mảng đề tài có ý nghĩa, cho nên trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học lần này, chúng tôi xin giới thiệu thêm một số tư liệu mới phát hiện về tác giả Nguyễn Địch.
1. Về tiểu sử tác giả Nguyễn Địch
Trong quá trình tìm hiểu một số tác phẩm y học và nhất là qua Vân Đình thi lục(2), ta có thể biết thêm vài chi tiết về ông. Cuốn sách gồm nhiều thơ văn của bằng hữu viết về Nguyễn Địch và sáng tác của ông nhân chuyến vào kinh năm Bính Tý đời vua Tự Đức (1876). Trong đó Nguyễn Địch từng tâm sự về nguồn gốc xuất thân của mình:
Dư nhất bản tường sĩ,
Ngẫu nhiên đắc y danh.
(Ta vốn là kẻ sĩ chốn tường môn,
Ngẫu nhiên được gọi là nhà y).
Qua lời Nguyễn Địch tự giới thiệu về mình, ta biết ông đã thi Hương được lấy đỗ tam trường và đậu bằng Tú tài. Ông nói rằng sở dĩ ông được gọi là nhà y là do “ngẫu nhiên”. Nguyễn Địch viết khiêm tốn “ngẫu nhiên” vậy thôi, nhưng sự thực thì chẳng hề ngẫu nhiên chút nào. Nguyễn Địch vốn dòng dõi Nho gia, song những lúc rảnh rỗi thư nhàn ông dành thời gian “đọc sách Hiên Hoàng” nên cũng tinh thông về y thuật. Qua thơ văn bằng hữu viết về ông với một sự nể phục tài năng “khả Nho khả Y” cũng như nhân cách của ông, ta biết ông từng trúng cử trong kỳ tuyển Y khoa và từng ba lần vào chẩn bệnh cho vua. Ông cũng nhiều lần phụng châu điểm và từng được Bùi Văn Dị - một nhân vật nổi tiếng về văn học thời Tự Đức(3) tiến cử vào Hàn lâm viện.
Không chỉ là một người đôn hậu, hòa nhã được mọi người quý mến (“chu đôn ôn ngữ nhân giai quý”- Trần Đình Liêm), một nhân cách trong sạch được mọi người kính nể (“Năng bất vị danh lụy, Cao đường hữu kính ban”- Nội các Thừa chỉ Ích kiều Nguyễn phu Như Ái độn bái) ông còn là một người con hiếu thảo. Bài biểu từ chối chức trong Hàn lâm viện (Từ Hàn lâm cung phụng biểu) thể hiện những tình cảm tha thiết, những băn khoăn day dứt của ông về lòng trung và chữ hiếu “... Thiết niệm, thần thiêm liệt tường môn, cung phùng thịnh thế; vô thốn tài chi khả thủ, phù nhất sách dĩ cung thân; thích quốc gia hữu dụng chi thời, nãi đặc cách thi ân chi cập. Khứ niên cửu nguyệt nhật nội các thần Bùi Văn Dị phiến cử thần học hành thuần cẩn, y thuật sảo am... Thần mẫu kim niên bát thập hữu nhất, thang dược chi tiến, phi thần bất an; cam chỉ chi cung, phi thần bất bão. Sị độc tại vãn niên nhi dũ đốc, bô ô diệc vị tử chi chí tình. Tuy mao lý tam nhân, thần độc vi kỳ chung ái; tứ thần hôn nhất niệm, thần hà nhẫn dĩ cửu ly...” (Thiết nghĩ, thần vốn chỉ là kẻ sĩ chốn tường môn may gặp buổi thịnh thế, không chút tài nào khả thủ, ôm lấy sách phụng song thân; Gặp lúc quốc gia cần trưng dụng nên mới được đặc cách ban ân. Tháng chín năm ngoái, Nội các Bùi Văn Dị làm tờ phiếu tiến cử thần học hành thuần cẩn, y thuật cũng thông... Mẹ già thần năm nay đã tám mốt tuổi, chuyện thuốc thang cung phụng, không có thần chẳng xong; việc chăm sóc phụng thờ, không có thần chẳng trọn. Tình mẫu tử vốn đà quyến luyến, lúc tuổi già càng nặng sâu thêm. Anh em ruột thịt tuy có ba người song riêng mình thần được mẫu thân yêu quý nhất; sớm tối một niềm đau đáu, thần há nỡ rời lâu ?...)
Cuối cùng vào năm Tự Đức 29 ( 1876) ông xin trở về phụng dưỡng mẹ già “Cứ niệm thần mẫu sở sinh thần huynh đệ tam nhân nhi nhị đệ bần bạc, bất kham thị dưỡng. Bình nhật thang dược, phi thần bất an. Kim niên bát thập nhất hĩ, tái văn tự thử bệnh chứng khủng hữu biệt ngại, mẫu tử chí tình, thành nan tự cát....” (Thiết nghĩ mẹ thần sinh cả thảy ba anh em song hai em thần cuộc sống bần bạc, không kham nổi việc chăm sóc mẹ. Chuyện thuốc thang thường ngày vắng thần chẳng xong. Mẹ thần năm nay đã tám mươi mốt, lại nghe bệnh này e chừng đáng ngại. Mẫu tử chí tình, thần sao rứt bỏ nổi....- Thất quy phiến)
Tấm chân tình ấy của Nguyễn Địch rốt cục cũng động tới cửu trùng. Vua Tự Đức đành cho ông trở về phụng dưỡng mẹ già nhưng sau khi việc chung dưỡng đã xong, ông phải trở lại kinh đô. Điều này chứng tỏ Nguyễn Địch rất được vua coi trọng. Bản Châu phê của Tự Đức cũng được chép lại ngay trong trang đầu tiên của Vân Đình thi lục: “Châu phê: nhân tử chí tình sở đồng, hà nhẫn vi ? Tứ nhĩ ngân ngũ lượng, lễ phóng bằng binh cấp dịch, chuẩn tức hồi quán chung dưỡng sự thanh, lai kinh thính hậu. Dị chi trung, nhĩ chi hiếu, trẫm chi nhân, các tận vật vong, bộ sảnh các ký. Tự Đức nhị thập cửu niên thất nguyệt nhị thập bát nhật” (Đạo làm con hết lòng vì cha mẹ, tình của con người vốn là giống nhau, (ta) đâu nỡ làm trái ? Ban cho nhà ngươi năm lạng bạc, Lễ bộ cho quân tới các trạm dịch đưa ngươi trở về bản quán. Sau khi hoàn thành việc phụng dưỡng thì trở lại kinh đô đợi bổ nhậm. Như thế thì lòng trung thành của Bùi Văn Dị, tình hiếu thảo của nhà ngươi, đức nhân từ của trẫm, ai nấy đều được thỏa. Bộ sảnh đều ký.
Ngày 27 tháng 7 năm niên hiệu Tự Đức 29 (1876))
Về quê quán Nguyễn Địch căn cứ vào bài văn để ở đầu sách của người bạn thân là Tư vụ Lê Hoan ta có được phương hướng để xác định quê quán của ông. “Long Thành Vân Canh Nguyễn Tú tài Huệ Phủ dĩ Nho Y danh, dư văn cửu hỹ. Bản niên thiên tử bác cầu y, đài dĩ thuật tinh tại cử trúng...” (Tú tài họ Nguyễn (tự) Huệ Phủ ở Vân Canh đất Long Thành nổi tiếng cả về Nho lẫn Y, ta nghe danh đã lâu. Năm nay Thiên tử tìm thầy thuốc rộng khắp trong dân gian, ông do tinh thông y thuật nên đã trúng cử). Vân Canh Long Thành tức là chỉ đất Vân Canh thuộc thành Thăng Long. Thành Thăng Long xưa là kinh đô của các triều Lý, Trần, Lê. Đến đời Tây Sơn, đời Nguyễn đổi gọi là Bắc Thành. Năm 1831 triều Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính, Bắc Thành đổi thành tỉnh Hà Nội thì Vân Canh thuộc huyện Hoài Đức. Nhưng bấy giờ trong lòng người dân vẫn hoài cổ nên vẫn gọi Hà Nội là Long Thành. Làng Vân Canh vốn có truyền thống về nghề y, với nhiều tên tuổi như Trần Bá Lãm...
2. Về tác phẩm của Nguyễn Địch
Theo Trần Văn Giáp, tác phẩm của Nguyễn Địch chỉ thấy có Vân Đình thi lục. Qua tìm hiểu mảng thư tịch y dược trong kho sách Hán Nôm hiện còn lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy ngoài tác phẩm trên, tên Nguyễn Địch còn thấy xuất hiện trong hai tác phẩm khác nữa. Chính ông là người đã sao chép lại sách Bảo anh lương phương(4) và Vạn phương tập nghiệm(5).
Ngoài ra, theo các tác giả Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nguyễn Địch có lẽ còn là tác giả một bộ sách mang tên Vân Khê y thư yếu lục(6).
Một vài tác giả khác thì khẳng định chắc chắn Vân Khê y thư yếu lục là tác phẩm của Nguyễn Địch. Trong Đông y dược học khóa toát yếu(7) đã viết: “Đời vua Hàm Nghi, năm 1885 có ông Nguyễn Địch cho ra đời bộ sách Vân Khê y lý yếu lục”. Còn Dương Bá Bành trong luận văn tiến sĩ mang tên Lịch sử y học Việt Nam (L’ histoire de la médecine du Vietnam, Hà Nội 1947-1950), trong phần Nguồn tư liệu về lịch sử y học Việt Nam, cũng đề cập tới sách này và khẳng định đây là tác phẩm của Nguyễn Địch, được tập hợp bởi những họ trò của ông vào khoảng năm 1886. Hai tác giả người Pháp P.Huard và M.Durant trong bài viết của mình cũng tán đồng ý kiến này(8).
Như vậy, với Vân Đình thi lục, ta có thể khẳng định chắc chắn đó là tác phẩm của Nguyễn Địch. Với Bảo anh lương phương và Vạn phương tập nghiệm ông cũng có những đóng góp không nhỏ trong việc truyền bá văn bản cho đời sau. Còn riêng về Vân Khê y thư yếu lục có lẽ nên có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Bởi vì đây là tác phẩm y học duy nhất mà Nguyễn Địch biên tập, mà theo P. Huard và M.Durant, Nguyễn Địch “có lẽ là bác sĩ Việt Nam đầu tiên mà trong tác phẩm của ông, người ta nhận thấy một sự ảnh hưởng của phương Tây, nhất là về phương diện giải phẫu học”. Chúng tôi hy vọng có dịp sẽ đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm này.
Tài liệu tham khảo
1. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, François & Trần Nghĩa, Nxb. KHXH, H. 1993.
2. Đông y dược: học khóa tất yếu. Phạm Văn Điều, Nxb. Long An, 1992.
3. Lịch sử y học Việt Nam (L’histoire de la médecine du Vietnam), Luận văn Tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp của Dương Bá Bành, Hà Nội 1947-1950.
4. Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp (chủ biên) tập I, Nxb. KHXH, H. 1971.
5. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử Việt Nam, tập II, Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1990.
6. Bảo anh lương phương, ký hiệu A.1462
7. Vạn phương tập nghiệm, ký hiệu A.1287.
8. Vân Đình thi lục, ký hiệu A.600.
9. Vân Khê y thư yếu lục, ký hiệu A.2133.
10. Un traité de médecine sino-vietnamien du 18 e siècle - La compréhesion intuitive des recettes de Hai Thuong, P. Huard & M. Durant.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.143-149)