VI | EN
13. Cảm hứng quan phương và vị thế của nho sĩ qua (và trong) văn phú thời Lý - Trần (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

CẢM HỨNG QUAN PHƯƠNG VÀ VỊ THẾ CỦA NHO SĨ

QUA (VÀ TRONG) VĂN PHÚ THỜI LÝ - TRẦN

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Viện Văn học

Phú thuộc vào hàng những thể loại khó viết nhất của văn học thời trung đại. Song dưới thời Lý - Trần, việc đư­a phú vào trong khoa cử đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của thể loại. Sau nữa, sự phát triển đến mức điển nhã nh­ư đánh giá của Lê Quý Đôn: “văn thể phú về triều nhà Trần l­ưu loát chỉnh tề, âm vận và cách điệu giống thể văn đời Tống”(1) cũng nói nên những thành tựu rất đáng kể của thể phú thời kỳ này. Bởi theo quy luật thông thường, chỉ khi nào xây dựng một nền móng vững chắc, phát triển đ­ược đời sống sáng tác với mật độ tác phẩm dày dặn thì khi ấy mới có đủ điều kiện kết tinh những vẻ đẹp tiêu biểu của thể loại. Từ đó, có thể đoán định rằng, ở thời Lý - Trần thể phú đã phát triển khá rực rỡ. Tiếc rằng trải qua thời gian số l­ượng tác phẩm còn l­ưu lại đến ngày nay không nhiều, đáng tiếc nhất là không còn tác phẩm phú thời Lý nào nữa(2). Vậy với sự phát triển như thế, thể phú có một vị trí thế nào trong đời sống văn học thời Lý - Trần? Phú đã đi vào trong văn học Phật giáo ra sao để rồi sau đó nhanh chóng trở lại dòng mạch truyền thống tô điểm cho văn học Nho giáo giai đoạn Vãn Trần, tính chất “nhập cuộc” ấy đã biểu hiện sự chuyển động thế nào của đời sống văn học đương thời? Trong khuôn khổ bài viết, nhằm nhấn mạnh vào sự chuyển đổi ý thức hệ dẫn tới sự thay đổi hệ hình văn học (từ văn học Phật giáo sang văn học Nho giáo mà giai đoạn Vãn Trần có ý nghĩa như một quá độ), chúng tôi tập trung sự chú ý vào những bài phú chữ Hán thời kì này, ngõ hầu qua nó, chỉ ra sự biến đổi của tư duy văn học và những biểu hiện tiêu biểu của sự biến đổi ấy được thể hiện trong thể phú(3).

Ở phú thời Lý - Trần, bên cạnh những bài phú mang âm hưởng chính ca thể hiện mối quan hệ với đất nước, vương triều; thời này còn xuất hiện những bài phú "nôm na" dưới những mái chùa. Sự hiện diện này đã đóng góp cho thể phú trên cả ba phương diện tư tưởng (Phật giáo), thể loại (phú Nôm)(4) và ngôn ngữ (tiếng Việt). Hơn nữa, chính bộ phận phú chữ Nôm này lại đánh dấu một vài dấu ấn phóng túng của người cầm bút. Nó thể hiện niềm khát khao tự do thích thảng, vượt ra ngoài sự gò bó chặt chẽ của tính quy phạm trong sáng tác thời trung đại, đặc biệt là trường hợp Trần Nhân Tông. Phú chữ Hán thì ngược lại, có vẻ đẹp chuẩn mực, đáp ứng đầy đủ những quy phạm về hình thức thể loại, dù chắc hẳn không thể không tham chiếu những vượt thoát của phú chữ Nôm ra đời trước đó không lâu. Điều gì đã khiến phú chữ Hán giai đoạn này quay trở lại với những khuôn khổ như thế? Ngoài việc bị quy định bởi việc nó là những sáng tác thuộc bộ phận văn học chính thống, có lẽ nguyên nhân của sự biến đổi này còn nằm chính ở bản thân người sáng tác và phong khí văn học đương thời: các nhà nho và môi trường cung đình. Nó hình thành một đặc điểm phổ quát trong phú chữ Hán: cảm hứng quan phương và khát vọng lập thân trị quốc.

Nho giáo là hệ tư tưởng chủ đạo trong các tác phẩm phú chữ Hán thời Trần. Tư tưởng ấy được gửi gắm trong khát vọng được "phò nghiêng đỡ lệch", giúp vua được như Nghiêu Thuấn của kẻ sĩ đương thời. Bởi trong cảm thức của hầu hết nho sĩ được đào tạo nơi cửa Khổng sân Trình, quốc gia dân tộc luôn được đồng nhất với vận mệnh của vương triều phong kiến. Người yêu nước phải là người trung với vua, cái mệnh đề "trung quân ái quốc" ra đời có lẽ là vì lẽ ấy. Bởi vậy, ở thời Vãn Trần, khi Nho giáo dần vượt lên chiếm lĩnh đời sống tư tưởng chính thống, cũng là thời gian để lại nhiều tác phẩm phú nhất, tiếng nói quan phương đã được các nho sĩ nhất loạt cất lên để can gián, giúp vua sửa đức, trị dân, khôi phục cơ đồ bắt đầu sa sút. Sự lựa chọn này cho thấy, ở một mặt nào đó, tầng lớp nho sĩ Việt Nam nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với dân tộc. Họ khao khát được đem phần sức lực của mình để xây dựng đất nước. Điều đó không thể không ảnh xạ vào trong sáng tác của họ. Có thể chia các bài phú mang cảm hứng này thành hai bộ phận nhỏ. Một là mong muốn được sử dụng tài năng, thể hiện khát vọng của những kẻ sĩ có tài mà chưa được nhà vua biết đến. Ở họ có cái hăm hở của chí trai hồ thỉ, cái khát vọng được đem tài chí của mình phục vụ giang sơn xã tắc. Hai là khát vọng "phò nghiêng đỡ lệch", giúp vua sửa đức trau mình ở những người đã được trọng dụng. Họ may mắn hơn những tác giả thuộc loại trên là được trọng dụng nhưng lại gặp trở ngại là phải phò những ông vua "xoàng". Có lẽ vì thế mà truyền thống phúng gián trong phú chính quốc đã được họ tiếp tục duy trì và phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh việc chia thành hai nhánh nhỏ này, cần phải nói thêm rằng truyền thống ngợi ca tỏ chí như một dòng huyết mạch vẫn thấm đượm trong nhiều bài phú.

1. Phú tự tiến, sự khẳng định vị thế của tầng lớp nho sĩ dân tộc

Theo quan niệm phương Đông, người có đức bao giờ cũng được thể hiện ra ngoài bằng văn, còn sáng tác văn học là để nói lên cái chí của mình (thi dĩ ngôn chí, thể vật tả chí). Do đó, các ông vua thường nhìn vào văn chương để tuyển chọn nhân tài (dĩ văn thủ sĩ) còn các nho sĩ thời xưa mới sớm có ý thức nhờ văn chương để tự tiến cử mình.

Giai thoại kể rằng, Mạc Đĩnh Chi là một người rất tài hoa từng thi đỗ Trạng nguyên nhưng hình dạng xấu xí nên vua không muốn cắt cử làm quan, ông bèn làm bài Ngọc tỉnh liên phú (Phú hoa sen trong giếng ngọc) ngầm bày tỏ cốt cách, tài năng, phẩm hạnh tốt đẹp của mình với vua Anh Tông để tự tiến cử. Điều đó có thể đúng vì Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí có viết: "Triều Anh Tông [Mạc Đĩnh Chi] đỗ Trạng nguyên. Khi mới đỗ vua chê xấu, ông làm bài phú Ngọc tỉnh liên để tự ví mình, có câu: "Không phải bên trong trống rỗng không biết gì, than cho số phận thuyền quyên gặp nhiều trắc trở; nếu cái cuống lá của sen vẫn đứng thẳng, thì mưa gió có hại gì". Trần Anh Tông xem rồi khen hay, cất nhắc lên làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia"(5). Có điều cần phải nói là Mạc Đĩnh Chi đã lập một "hồ sơ lý lịch" về bản thân mình bằng một nghệ thuật điêu luyện, khoa trương, cách điệu; ngôn ngữ gọt giũa, bóng bẩy; hình ảnh đẹp đẽ; âm vận hài hòa uyển chuyển:

“Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn;

Phi tăng phòng chi câu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.

Phi Đào lệch đông ly chi cúc, phi Linh Quân cửu uyển chi lan;

Nãi thái hoa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên”.

(Chẳng phải như đào trần lý tục, chẳng phải như trúc cỗi mai gầy;

Câu kỉ phòng tăng khó sánh, Mẫu đơn đất Lạc nào tày.

Giậu Đào Lệnh cúc sao ví được, vườn Linh Quân lan khó sánh thay;

Ấy là giống sen giếng ngọc đầu núi Thái Hoa đây)(6)

Sau Mạc Đĩnh Chi gần 100 năm, nhân sự kiện Hồ Quý Ly cho xây thành Tây Đô (1397) có người bắt được con sâu lạ đem dâng, Hồ Quý Ly coi đó là điềm lành bèn lấy nó ra đề cho quần thần làm phú ca ngợi. Hiện chỉ còn lại hai bài Diệp mã nhi phú (Phú con ngựa lá) của Đoàn Xuân Lôi và Nguyễn Phi Khanh trong cuộc thi nho nhỏ ấy. Cái lạ của hai bài này là sau khi đã nói khéo, trạm trùng khắc triện về con vật lạ nhưng cuối cùng lại kết bằng việc không phải tìm ra con ngựa lá mà là tìm ra tôi hiền.

“Phú đắc hiền vi thượng thụy”

(Phú tìm được tôi hiền kính dâng lời tụng)

Hai tiếng nói đồng thanh bày tỏ sự cần thiết phải sử dụng người hiền của hai ông, trong hoàn cảnh ấy, là một hành động tích cực nhập thế. Họ nhận thức được thực tế lịch sử, muốn chung sức cùng nhà vua gánh vác. Nhưng việc Hồ Quý Ly kế thừa cơ đồ nhà Trần gần như đã phá sản, dù đã có nhiều cố gắng và ở mặt nào đấy vua tôi nhà Hồ đã làm được một số việc, song nhiều cải cách của họ trong hoàn cảnh ấy đã không cứu vãn được tình thế. Việc họ trở thành những “anh hùng di hận” (Nguyễn Trãi) âu cũng là một tất yếu lịch sử khi giai cấp địa chủ mới chưa đủ sức để xóa bỏ tầng lớp quý tộc phong kiến, chế độ quân chủ tập quyền chưa đủ sức mạnh để đè bẹp sự phản kháng của nền quân chủ phân quyền vốn có lúc đã rất hùng mạnh dưới triều Trần.

Trước sự kiện Tây Đô không lâu, ở đời Trần Duệ Tông (1372 - 1377), bộ phận nho sĩ sáng tác phú tự tiến cũng có một trường hợp độc đáo: Trần Công Cẩn với bài Bàn Khê điếu Huỳnh phú (Phú câu ngọc Huỳnh ở Bàn Khê). Khác với các bài phú ở trên, Trần Công Cẩn mượn tích Lã Vọng câu được ngọc Huỳnh để ngầm khuyên vua nên sử dụng người tài. Có điều do tư liệu về tiểu sử tác giả hiện nay không còn nên ta khó hình dung được con đường hoạn lộ của ông ra sao nhưng đọc các sáng tác còn lại của ông thì thấy trong đó có dư vị ngậm ngùi của nhà nho xuất thế(7). Vì vậy, ở đây chúng tôi mới đặt ra giả định rằng: phải chăng trong cuộc đời mình ông cũng đã từng hăm hở đua chen trong vòng danh lợi nhưng cái tài của ông đã không được nhà vua biết đến nên “trong lòng cảm thấy nao nao, giai hứng trạnh niềm ngơ ngác" khi nghĩ đến cái tích Lã Vọng được Chu Văn Vương mời về giúp nước còn nhìn lại mình thì "dường ngẩn ngơ, ngậm ngùi than thở" mà viết phú để ngầm tiến chăng?

“Bàn khê chi thủy, thanh thả liên y!

Điếu Huỳnh chi sự, kim kỳ dĩ phi.

Thái công phương hình hề,

Tiên cổ như tương (tư)”.

(Suối Bàn Khê trong veo nước chảy,

Câu ngọc Huỳnh chuyện ấy đã qua.

Thái công gương cũ chưa nhòa,

Ngàn năm sự nghiệp vẫn là ở đây)

Ngậm ngùi là thế mà đến lúc vẫn có thể mỉm cười với cuộc sống nhàn tản được cũng chính là nét đẹp phóng khoáng trong tâm hồn thế hệ các ông. Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng với tư liệu hiện có, đây chỉ là một giả định mang tính gợi mở chờ đợi được làm rõ thêm.

Có thể nói, tự tiến cử trong phú thời này là một đặc điểm đặc sắc hầu như ít thấy ở phú đời sau. Nó phản ánh đúng mức vị thế xã hội của các nho sĩ đương thời. Vị thế đang dần trở thành độc tôn trong đời sống tư tưởng xã hội. Và khi được trọng dụng, họ chính là lực lượng nòng cốt để xây dựng đất nước.

2. Khuynh hướng phúng gián, trách nhiệm của người nhập cuộc

Bên cạnh nội dung "tự tiến cử" có tính chất tích cực nhập thế, phần còn lại của những bài phú chữ Hán mang ý thức hệ Nho giáo thống nhất ở chỗ chủ yếu nêu lên các vấn đề bổn phận và nguyện vọng của kẻ sĩ trước những vấn đề lớn của dân tộc.

Hấp thụ tư tưởng Nho giáo, nhà nho Việt Nam luôn ý thức về vai trò và trách nhiệm của mình. Một biểu hiện của ý thức tự nhiệm ấy là việc nhà nho tự coi mình phải có nhiệm vụ "cách quân tâm chi phi" (trừ bỏ cái sai lạc trong người làm vua). Họ muốn giúp cho chế độ chuyên chế giữ yên được trật tự xã hội. Nhưng sâu xa hơn, tất cả các thế hệ nhà nho hành đạo đều mơ ước đến một xã hội đạo đức theo mô hình "vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn". Chỉ khi nào mơ ước ấy không được toại nguyện, lòng trung trinh của họ không được nhà vua đoái hoài, các nhà nho mới tìm đến con đường thoái lui để giữ gìn phẩm tiết; hoặc giản dị hơn, “tiến vi quan, đạt vi sư”. Vì vậy, dưới thời Vãn Trần, nhất là từ đầu đời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) khi vương quyền ngày càng ruỗng nát thì nhiều nhà nho, để giữ khí tiết trong sạch của mình đã cáo quan về ở ẩn, số còn lại đã giúp vua sửa đức, trị dân, khôi phục cơ đồ. Góp sức mình vào việc cải cách nền thống trị, xây dựng một nền nhân chính đức trị theo đúng học thuyết Nho gia được họ coi như là một bổn phận lớn lao, một nguyện vọng chính đáng. Có lẽ đó là nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện một "phong trào gián nghị" như nhiều người đã nói.

Để thực hiện chức năng gián nghị(8), các tác giả viết phú thường mượn những tích cũ để thuyết lý nghị luận rồi từ đó ngầm đưa ra những lời phúng gián. Họ hay dùng biện pháp nêu gương để khuyên vua tránh xa hoa hưởng lạc và chú ý dùng đức trị, lễ trị, nghĩa trị như các bậc vua hiền. Có lẽ vì thế mà sau này, khi san định lại Quần hiền phú tập, trong lời Tựa, Cảo Quận Công mới nhấn mạnh: "Quần hiền phú là một tập phú cổ, từ triều Trần đến nay, trải qua mười ba triều đại, lý tưởng của nhà nho được tìm hiểu và bày tỏ sâu sắc"(9).

Xuất phát từ ước mong xây dựng một nền đức trị, Phạm Mại trong bài phú Thiên thu giám (Phú gương thiên thu) đã khuyên nhà vua trau dồi đạo đức, giữ vững lễ nghĩa bằng việc soi nơi tích cũ vua xưa.

“Đạo đức quảng hồ quy mô, lễ nghĩa kiên hồ kim thạch”.

(Đạo đức thênh thang khuôn mẫu, lễ nghĩa bền chặt sắt vàng)

Có lẽ bài phú được sáng tác vào thời điểm Lê Quát và Phạm Sư Mạnh tỏ ý muốn sửa đổi thể chế mà vua Trần Minh Tông đã phải bác lại rằng: "Nhà nước đã có phép tắc nhất định; Nam, Bắc khác nhau; nếu nghe theo kế của bọn học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay"(10). Cái ý này của Trần Minh Tông cũng gặp gỡ với Phạm Mại trong bài phú.

“Giám uy tiên vương, tắc hữu tổ tông chi thành hiến;

Giám uy vãn sự tắc hữu kỳ ngải chi quang huy.

Dĩ chi loạn vi giám giả, thục mỹ thục ái;

Dĩ dắc thất vi giám giả thục nghiên thục si”.

(Soi nơi vua xưa thì có phép sẵn của tiên tổ;

Soi nơi việc cũ thì có ánh sáng của lão thành.

Lấy trị loạn làm gương đâu đẹp đâu xấu;

Lấy được mất làm gương đâu dữ đâu lành)

Đó là chính kiến của bậc minh quân lương tướng. Chẳng thế mà sau mấy mươi năm, Trần Nghệ Tông dẹp xong loạn Dương Nhật Lễ đã cho khôi phục "điều lệ năm Khai Thái" (1324 - 1329, niên hiệu Trần Minh Tông)(11). Nó phần nào cho thấy sự phức tạp trong cách thức tiếp cận tư tưởng Nho gia của nhà nho đương thời.

Tư tưởng xây dựng một nền đức trị còn được thể hiện ở nhiều bài phú đương thời. Trong Quan Chu nhạc phú (Phú xem nhạc nhà Chu) Nguyễn Nhữ Bật mượn tích Quý Trát nhận xét nhạc Chu được người nước Lỗ rất khâm phục để khuyên vua: “phóng tâm oa nhi tồn nhã nhạc, hài thứ doãn nhi cách bách linh” (bỏ nhạc dâm để dùng nhã nhạc, hòa trăm họ để cảm thần thông). Bởi xét âm nhạc mà biết được bản chất của nền chính sự (“giai thẩm nhạc dĩ chi chính”). Đó cũng là ý kiến của tác giả khuyết danh trong bài Hoàng chung vi vạn sự căn bản phú (Phú Hoàng chung là gốc rễ của muôn việc). Họ đều nhấn mạnh đến tính chất tương đồng giữa âm nhạc và chính sự, nhất là ở khía cạnh chính danh trên dưới, ở sự tổ chức chặt chẽ của đời sống xã hội: “dụng tri Chung luật chi tiên, chính sự vi bản” (Dùng mới biết cái đầu tiên của nhạc luật là Hoàng chung, ấy là gốc của chính sự). Có lẽ đó là nền tảng để sau này Nguyễn Trãi chỉ ra một cách sáng rõ cái nguyên ý của Nhã nhạc đối với vương triều. Trong lời riêng tâu với vua Thái Tông tháng Giêng năm Đinh Tị (1437) khi được sai thẩm định Nhã nhạc, có đoạn: "Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc... Dám mong bệ hạ rủ lòng thương yêu và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong chốn thôn cùng ngõ vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ cái gốc của nhạc vậy"(12). Như vậy, lời khuyên vua dùng Nhã nhạc của Nguyễn Nhữ Bật và tác giả khuyết danh xét đến cùng cũng là mong muốn nhà vua chăm lo chính sự, chăn nuôi muôn dân, khiến cho dân được ấm no: hạnh phùng hi hợp chi triều, nguyện thướng canh dương chi phú (may gặp đời thịnh trị, nguyện dâng bài phú canh dương).

Phú thời này còn bàn thẳng vào việc tu thân của chính thiên tử. Dựa vào tích vua Thành Thang muốn hàng ngày nhắc nhở mình bèn cho khắc vào chậu lời minh chín chữ: ”Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (nếu ngày ngày đổi mới, thì ngày ngày sẽ mới thêm, ngày ngày lại mới thêm mãi). Tác giả khuyết danh trong bài Thang bàn phú (Phú cái chậu của vua Thang) đã viết những lời lẽ tán dương nhiệt thành để gửi đến vua: ”Cái nhật giả, quân chi tượng; bàn giả, nguyệt chi hình. Tuy biên phách bất dịch kỳ cựu thể; nhi linh diệu thường đổ kỳ tân minh. Nghiệm thánh nhân chi thể đạo, cổ ư tư nhi hữu đắc”. (Mặt trời là biểu tượng của nhà vua, chiếc chậu là tượng hình cho mặt nguyệt. Tuy dáng tròn vẫn không đổi thể xưa; mà ánh sáng vẫn thấy luôn đổi mới. Chắc thánh nhân khi thể nghiệm đạo trời, sẽ nhận ở chậu này nhiều tâm đắc). Thái độ của Nguyễn Pháp trong Cầu Chính lâu phú (Phú lầu Cần Chính) còn thẳng thắn, bộc trực, miêu tả "trực trần kỳ sự" (trực tiếp bóc trần sự vật) hơn rất nhiều. Bài phú tuy là một lời phúng gián nhưng đã đánh mạnh vào thói ăn chơi xa xỉ của giai cấp phong kiến đương thời (chủ yếu là nhà vua) qua lịch sử Đường Lý bên Trung Quốc nhằm thức tỉnh nhà vua bỏ thói cũ để chăm lo việc triều chính: ”Ký xích viên ư nữ sắc, diệc bích tuyệt ư du điền; cấm cẩm tú nhi bất bửu, thị phác tố vi dân tiên. Bất vĩ lai vi dật lạc niệm vương nghiệp chi gian nan. Tiên y cản thực, nhậm sử năng hiền. Thân làm thứ chính, tổng lãm hoá quyền" (Thanh sắc lánh xa chẳng thiết, bắn săn bỏ dứt không chơi. Cấm gấm vóc không cho là quý, mặc giản đơn làm trước mọi người. Dù phú quý không màng giật lạc, nghĩ nghiệp vua khó nhọc lâu dài. Thức khuya dậy sớm sử dụng hiền tài, thân coi chính sự, nắm hết quyền oai). Cái khát vọng "kỳ phối nữ ư Đường Ngu chi tế; chủng thị công ư Văn hoàng chi gian" (đức Nghiêu Thuấn mong rằng sánh kịp, công vua Văn cố gắng theo đòi) trong hoàn cảnh "kiến khắc hữu trung, đồ hữu kỳ thuỷ" (ít ai giữ trọn đến sau, chỉ được lúc ban đầu) còn các ông vua thì "trị loạn tri cơ, quân tâm di chuyển" (trị loạn cơ trời, lòng vua dời chuyển) âu cũng là một khát vọng chính đáng dù ít nhiều có yếu tố không tưởng.

Khác với những bài phú trên, Đổng Hồ bút phú (Phú ngọn bút của Đổng Hồ) của tác giả khuyết danh đã bày tỏ một cách trực diện, thẳng thắn, mạnh mẽ hơn vào các vấn đề trách nhiệm của nhà vua, của nhà nho với đời sống dân tộc. Tuy tác giả có viết: "Y dục chỉ thanh thiên nhi bút Thái hoa hề, thứ hồ thư thách triều chi tường thụy nhi dĩ” (Muốn lấy trời xanh làm giấy, núi Thái hoa làm bút, ngõ hầu ghi chép điểm lành của thánh triều mà thôi) nhưng bằng việc ca ngợi ngòi bút Đổng Hồ, tác giả đã thể hiện một quan niệm sáng tác sâu sắc: "Khu lôi đình dĩ phấn uy hề, định giám hành ư hung ức. Thục phi thiện chi khả xương hề thục phi ái nhi khả truất. Chấp bút trực dĩ đại thư hề, chính đương thời chi đắc thất. Bao biến nghiêm ư thưởng phạt hề, nghị luận đoạn ư phủ chất”. (Cầm cân nảy mực trong tâm tư, dồn sấm sét ra uy nơi ngọn bút. Khen điều gì không ngoài cái thiện, truất điều gì không ngoài cái ác. Cầm bút chép một cách thẳng thắn, dù mảy may chẳng dám đơn sai. Làm sáng tỏ đúng sai muôn thuở, vạch rõ ra sự được mất đương thời. Khen chê thì nghiêm khắc ở điều thưởng phạt, nghị luận thì dứt khoát như lưỡi búa rìu). Đương thời, đó là một quan niệm rất tiến bộ. Cùng với Phạm Nhữ Dực, Nguyễn Phi Khanh và một số tác giả khác, có thể nói, quan niệm này của tác giả Đổng Hồ bút phú là những tiếng nói đầu đánh dấu sự manh nha của khuynh hướng sáng tác hiện thực rất phát triển ở giai đoạn sau.

Bên cạnh vấn đề tư tưởng như vậy, cái độc đáo của những bài phú này, do tính chất tế nhị khi phúng gián, nạp ngôn trước những "ông con trời" chót vời quyền lực đang sao nhãng dần trách nhiệm chăn dân trị nước, là vừa có một hình thức nhũn nhặn mà vẫn cứng rắn, vừa tán dương mà vẫn nghiêm khắc phê bình. Các nhà nho bị kẹt giữa một bên là cái án khinh quân nếu trót bị coi là "lỡ lời" và một bên là sự thôi thúc của tấm lòng trung trinh vì dân vì nước. Phú của họ, trong niềm tự hào là người trí thức dựng xây tổ quốc, mang phong cách nghị luận trang nhã, khiêm tốn mà rắn rỏi; cách dùng từ, đặt câu, chọn điển, lựa chọn hình ảnh và âm điệu... đều đạt được tới sự mẫu mực điển nhã. Phú trở thành đoá hoa của tài năng và tấm lòng tác giả.

Rõ ràng truyền thống gián nghị của phú Trung Quốc vẫn được phát triển mạnh trong phú thời này. Nhưng như một quy luật có tính hai mặt, nếu trong thuyền thống gián nghị đã tồn tại nhưng lời lẽ phê phán, khuyên can trực tiếp thì tất yếu cũng có những lời ngợi ca tán tụng. Điều đó không hề mâu thuẫn bởi sự ngợi ca tán tụng, ở một mặt nào đó, chính là ước mơ khát vọng của người ca tụng. Và như thế, vô hình chung trong hoàn cảnh xã hội còn nhiều bất ổn, nó lại mang một ý nghĩa gián nghị gián tiếp đối với người được ca tụng dù sức mạnh và hiệu lực không nhiều. Trong số lượng ít ỏi những bài phú thời Trần còn lại, khía cạnh này cũng được đề cập đến.

3. Những lời ngợi ca, khát vọng và niềm tin vào chế độ

Ngợi ca là một chức năng ngoài văn học của phú, giữ phú trong quỹ đạo văn học quan phương. Ở Trung Quốc có vậy, bứng trồng (tranplantation)(13) sang Việt Nam chức năng này vẫn được duy trì. Ở thời Lý - Trần, lời ngợi ca vương triều luôn gắn liền với lời ngợi ca đất nước, gửi khát vọng và niềm tin vào chế độ cũng bởi một lòng hướng về tiền đồ dân tộc.

Trong Cảnh tinh phú (Phú sao Cảnh tinh), mượn sự xuất hiện của sao Cảnh tinh, Đào Sư Tích cất lên lời ngợi ca vương triều sự nghiệp: Đạo xiển Hiên Hy, trị dật Đường Ngu; Tuấn đề khắc minh, quan công thừa hưu. (Đạo mở Hiên Hy, chính trị vượt hơn Nghiêu Thuấn; Đức tốt sáng ngời, trăm quan vâng theo). Hơn thế ông còn chỉ ra có được điều đó là do "tại đức bất tại tinh hồ" (tại đức không tại sao). Từ đó ông khẳng định: trương bất vu thiên nhi vu nhân, phù bất tại tướng nhi tại đức (ứng nghiệm không ở trời mà ở người, tốt lành không tại điềm mà tại đức).

Khác với Đào Sư Tích, Sử Hy Nhan trong Trảm xà kiếm phú (Phú kiếm chém rắn) lại bày tỏ thái độ ngợi ca trên tinh thần "đối kháng Trung Hoa". Dùng lối viết “hư dương thực ức” (giương cao cái hư và nén cái thực xuống), tác giả đã miêu tả thật thành công thanh gươm dựng nghiệp, làm nổi bật vị thế và uy danh của Hán Cao Tổ trong cổ sử Trung Quốc. Cố nhiên, vai trò sáng lập triều đại nhà Hán một thời lừng lẫy của Hán Cao Tổ Lưu Bang là có thật và bài phú cũng nêu bật được điều đó. Nói tác giả giương cao cái hư ở đây là muốn nói thực chất bài phú không được làm ra bởi ý định tô điểm cho công nghiệp của Lưu Bang, mà mượn công cuộc dựng nghiệp bằng võ trị của ông vua này làm cái “nền” cho sự khẳng định đường lối nhân trị, đức trị của thánh triều ta. Vì vậy, cái ý so sánh đường hướng dựng nước giữa ta và Trung Hoa, kết đọng trong tinh thần đối kháng, mới là dụng ý chính của tác giả. Tinh thần ấy, đã được cất lên dõng dạc trong lời chất vấn của người khách: ”Sinh văn minh chi thời giả, bất đàm uy vũ chi công; đăng ung hi chí triều giả, bất ngôn chiến phạt chi sự. Quyết kim thánh triều, thăng bình cực trị… Tử phương cao tường phượng nghi chi đình, vũ đạo tấu Thiều chi địa. Phản nhi chi khu sính điêu trùng chi mạt kỹ, xưng tạp bá chi tích, muội đế vương chi ý. Hề thời vụ chi bất thông, vi hữu thức chi sở bỉ” (Sinh thời văn minh không nên bàn chuyện uy võ, ở đời thịnh trị chớ nên nói chuyện chiến tranh. Hiện nay triều thánh ta đương lúc thanh bình cực trị... Ngươi phải như con chim phượng đẹp nhảy múa hòa theo khúc nhạc Thiều. Cớ sao lại bo bo giữ cái nghề nhỏ mọn đẽo gọt con sâu, tán tụng sự tích của bọn tạp bá. Làm mờ tối đức tốt của bậc đế vương, không am hiểu thời thế, khiến kẻ thức giả coi khinh); một lần nữa được hô ứng trong lời ca vui mừng của người viết phú:

“Kiếm hồ! Kiếm hồ! bất tường chi khí!

Thánh nhân bất đắc dĩ dụng chi, thành phi sở quý.

Y dư thánh triều, sùng văn thịnh thế,

Thiên hạ nhất thống hề, an nhiên vô sự,

Túng hữu thị kiếm hề, tương yên dụng bỉ!”

(Kiếm này! Kiếm này! Là vật chẳng lành!

Bậc thánh túng kế mới dùng mi, phải đâu vật quý,

Ôi! Thánh triều ta, đời thịnh chuộng văn tự,

Thiên hạ nhất thống, thái bình thịnh trị,

Dầu có kiếm này, dùng đến làm chi!)

Cốt lõi của bài phú đọng trong lời ca này, ở tinh thần lên án chiến tranh và mong ước xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị(14). Vì vậy, trong xu thế đang lên của vị thế dân tộc, những lời ca ngợi như thế ít nhiều đã thể hiện tình yêu quê hương, tinh thần tự tôn dân tộc và niềm tin vững chắc vào tiền đồ dân tộc. Vẻ đẹp của tác phẩm, vì thế, một phần đọng lại ở tấm lòng cao đẹp của người sáng tạo.

Giống như Trương Hán Siêu, Huyền Quang trong Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) và Vịnh Vân Yên tự phú ở thời kỳ thịnh Trần, Nguyễn Bá Thông cũng tìm đến “thiên nhiên lịch sử” để làm nền cho việc ngợi ca tán tụng. Trong Thiên Hưng trấn phú, mượn việc miêu tả, ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, Nguyễn Bá Thông đã ca ngợi công đức Trần Nghệ Tông bằng những lời hào sảng: Nghệ Hoàng chi công, Thiên Hưng chi trấn, lịch vạn thế nhi mạc giữ chi sất mỹ nhi tỉ long dã (Công lao Nghệ Hoàng, phiên trấn Thiên Hưng, kể bề tốt đẹp, trải muôn đời ai dễ sánh chung). Có được nghiệp lớn như vậy vẫn là do một nền đức trị:

Khải ngã hoàn đồ thuỳ thiên ức hề,

Ô duy Nghệ Hoàng bất thị hiểm nhi thị đức hề.

(Ngàn năm dằng dặc dư đồ

Nghệ Hoàng nhờ đức có nhờ hiểm đâu)

Có thể nói, thấm nhuần quan niệm văn chương nho giáo chính thống, phú chữ Hán thời kỳ này đã chuyển tải nội dung tư tưởng chính trị - đạo đức trong học thuyết Khổng - Mạnh bằng nghệ thuật giàu cách điệu và điển nhã, đạt tới sự mẫu mực của nghệ thuật viết phú. Việc các tác giả đặt văn chương bên cạnh đạo đức, lễ nghĩa, khí tiết... càng khẳng định vị trí chính thống của phú trong nền văn học thời Trần. Đó cũng là đặc điểm mà ta có thể mà ta có thể gặp gỡ trong phú thời Lê sơ nhưng rất ít gặp trong phú thời Lê mạt trở đi khi ý thức hệ phong kiến chính thống trong tư tưởng các nho sĩ lung lay cùng với sự phát triển dật lùi của chế độ phong kiến thống trị.

Cần nói thêm rằng tiếng nói trong phú thời Lý - Trần hầu hết là tiếng nói tích cực. Các tác giả viết phú thời phú đều nhận thấy sự cần thiết của việc đưa ra những lời phúng gián. Tiếng nói ngợi ca tuy vẫn còn nhưng rõ ràng đã vượt thoát khỏi đặc điểm "khuyến bách phúng nhất" một thời của phú Trung Quốc mà Dương Hùng đã chỉ ra. Tuy nhiên, ngay ở Trung Quốc, tư tưởng "nhuận sắc hồng nghiệp" của phú thời Hán đã được các tác giả thời sau xem xét lại. Bởi trong phong trào cổ văn làm sống lại không khí văn học Tiên Tần - Lưỡng Hán ta cũng khó lòng tìm thấy một tiếng nói như thế. Các tác giả viết phú ngoài việc biến đổi hình thức lời văn ( "Âu, Tô tân biền thể” chẳng hạn) đồng thời cũng biến đổi nội dung tư tưởng thể loại. Phải chăng sự "xét lại" này của văn phú (tiểu loại sinh ra do phong trào cổ văn) đã ảnh hưởng nhiều hơn đến phú thời Lý - Trần? Cùng với những biểu hiện về mặt hình thức thể loại(15), trong cả tính quy phạm về mặt hình thức và những vấn đề nội dung tư tưởng, thể phú thời Trần mang những phẩm tính của tiểu loại văn phú, vốn phát triển mạnh mẽ vào đời Tống, chứ không phải là tiểu loại cổ phú (Hán phú) như nhiều người quan niệm(16). Nếu như vậy, ở một mặt nào đó, văn phú thời Lý - Trần còn cho thấy sự tiếp biến văn hóa giữa nước ta và Trung Quốc bấy giờ là khá đồng thời. Vấn đề còn lại là lý giải vì sao văn phú lại được sử dụng một cách phổ biến như vậy trong văn học thời Lý - Trần? Cùng với sự biến đổi của loại hình tác giả, bản thân thể phú đã có những biến đổi thế nào trong thi pháp thể loại để trở thành một biểu hiện của bước quá độ của văn học Phật giáo sang văn học Nho giáo?

4. Văn phú thời Lý - Trần trong tiến trình văn học trung đại

Như trên đã nói, thể phú đã nhanh chóng được lựa chọn và sớm có thành tựu trong đời sống văn học thời Lý - Trần. Theo con đường "chung sống” văn hóa, chính giai tầng thống trị Việt Nam đương thời, để xây dựng đất nước vững mạnh, đã không thể không tham bác thể chế chính trị của Trung Hoa, bứng trồng hầu như trọn vẹn mô hình văn hóa - chính trị ấy và thổi vào đó tinh thần dân tộc để tạo đà cho việc kháng chiến và kiến quốc. Dần thắng thế trong đời sống chính trị - xã hội, tầng lớp Nho giáo tích cực luôn khát khao "tu, tề, trị, bình", luôn mong muốn được mang tài sức của mình để xây dựng xã tắc, giúp vua được như Nghiêu Thuấn (trí quân ư Nghiêu Thuấn chi quân). Và khi ấy, trong xã hội trọng văn, những loại văn chương đi đúng ray tải đạo chính thống như phú tất sẽ được họ lựa chọn. Thời đại Lý - Trần còn là thời đại huy hoàng của những chiến công chống giặc ngoại xâm cũng như trong xây dựng đất nước. Niềm tự hào dân tộc làm người ta muốn cất lên lời ngợi ca. Vốn là một thể tụng ca có tính khoa trương cách điệu, lại rất phóng túng, có thể bày tỏ tình cảm trực tiếp mà vẫn sâu xa, nhuần nhị, phú nghiễm nhiên đáp ứng được nhu cầu biểu lộ tình cảm của nho sĩ lúc bấy giờ. Hơn nữa, khi vào nước ta, bản thân phú đã có lịch sử phát triển cả ngàn năm ở chính quốc, đã từng phát triển tới đỉnh cao (thời Hán), được chuẩn hóa theo yêu cầu cử tử (thời Đường) rồi lại được khôi phục theo truyền thống Tiên Tần - Lưỡng Hán (thời Tống). Điều này càng làm cho thể phú có thêm nhiều đặc tính ưu việt. Việc lựa chọn phú vào loại văn chương cử tử của giai cấp thống trị Việt Nam khi ấy âu cũng là một tất yếu.

Có thể liên tưởng thành tựu rực rỡ của văn phú thời Lý - Trần với thành tựu của phú thời Hán, thời mà nó tìm được vị thế “nhất đại chi văn học” cho mình. Phải chăng khi người ta thoát khỏi cái khổ của chế độ khắc kỷ nhà Tần thì cái khát khao tự do vốn đã bị vùi dập bấy lâu, nay lại bùng lên mãnh liệt. Nói như I.X. Lixevich, những phương tiện biểu hiện dân gian khi ấy, dù đã rực rỡ tinh tế và trở thành truyền thống vẫn không đáp ứng được nhu cầu của con người đã có ý thức cá nhân. Sự tìm đến với cái tự do, phóng túng trong phú gần như một nhu cầu tâm lý để được choáng ngợp trong thế giới phong phú, lộng lẫy của ngôn từ(17). Và sự tìm đến với phú của người trí thức Việt Nam thời Lý - Trần, sau 1000 năm Bắc thuộc phải chăng cũng là một nhu cầu gần như thế!

Gắn bó mật thiết với đời sống tư tưởng chính thống, phú thời Trần phản ánh một bình diện khá rộng lớn bộ mặt xã hội đương thời. Dấu ấn tam giáo đã để lại dấu ấn khá rõ nét trong phú từ con người thoát tục vui đạo của Phật giáo đến những kẻ sĩ, trí thức chuẩn mực theo lý tưởng "trí quân trạch dân" của Nho giáo hay cái thú tiêu dao của con người thấm nhuần học thuyết Lão - Trang. Việc Trần Nhân Tông hay Huyền Quang đã trình bày triết lý nhà Phật trong những bài phú Nôm của mình là một sáng tạo độc đáo(18). Tuy chữ Nôm được hình thành và phát triển hoàn thiện sớm nhất trong nhà chùa nhưng việc đưa nó vào trong sáng tác văn học, nhất là lại thể tài quan phương như thể phú, đã là một nỗ lực Việt hóa đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, như một nghịch lí, đáng lẽ trên đà của việc hình thành một chuẩn mực mới mang tính dân tộc như vậy thì các sáng tác phú về sau phải tiếp tục những thành tựu ấy, song không, con đường phát triển của thể phú thời Trần hầu như lại dịch chuyển theo hướng tiệm cận với quy phạm hình thức thể loại ở chính quốc. Thậm chí, hình thức thể loại càng về sau càng ít dị biệt so với phú Trung Quốc, từ bộ phận phú chữ Nôm cho đến phú chữ Hán(19). Vẫn biết, khi được bứng trồng vào môi trường cụ thể Việt Nam, vốn đã khác biệt ít nhiều về khí hậu văn hóa nay lại được vun xới bởi bàn tay, khối óc và tâm hồn Đại Việt thì quy phạm thể loại dù có chặt chẽ đến đâu cũng không thể không phần nào thay đổi. Chẳng hạn, tinh thần dân tộc trong thời đại đang lên có thể đã khiến các tác giả đương thời hấp thụ tinh hoa không chỉ riêng từng tiểu loại. Yêu cầu ca tụng chiến công chống xâm lăng, ca tụng vương triều, ngợi ca cuộc sống thanh bình, vẻ đẹp non sông đã khiến các tác giả nghiêng về Hán phú (cổ phú). Trong khi đó, tính chất thuyết lý nghị luận bày tỏ nguyện vọng "phò nghiêng đỡ lệch" của tầng lớp nho sĩ thời Vãn Trần lại làm cho các tác phẩm nghiêng về biền phú, luật phú và văn phú. Tức là những quy phạm về mặt tiểu loại ít nhiều đã bị phá vỡ song về căn bản các tác phẩm phú chữ Hán thời Trần vẫn chưa vượt ra ngoài biên độ của hình thức văn phú. Như vậy, từ sự vượt thoát quy phạm của phú chữ Nôm đến sự quay trở lại thi pháp truyền thống của phú chữ Hán, có thể nói tới một sự thất bại trong quá trình Việt hóa thể loại?

Thực ra, cảm giác nghịch lí như trên sẽ là một “thuận lí” nếu đặt phú vào diễn trình vận động của đời sống tư tưởng đương thời. Phú đã thể hiện được tinh thần khai phóng của Phật giáo giai đoạn thịnh Trần, tiêu biểu nhất ở sự phá vỡ quy phạm hình thức thể loại. Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông đã hiện lên như một hiện tượng độc nhất vô nhị của hình thức thể phú. Nhưng cùng với việc hình thành quốc gia Đại Việt, Phật giáo không còn gánh vác được trọng trách thống nhất mọi tầng lớp nhân dân, nhất là bộ phận địa chủ mới xuất hiện ngày càng đông đảo. Mối quan hệ vương triều - tăng lữ - quý tộc dần nhường chỗ cho mối quan hệ vương triều - nho sĩ - địa chủ. Bởi rõ ràng, để xây dựng một quốc gia thống nhất, người ta dần phải hạn chế bớt quyền lực cát cứ của quý tộc đại địa chủ, phải hạn định số lượng tăng lữ để bổ sung cho đội ngũ tráng đinh, phải tập trung quyền lực vào tay một người. Và để giúp việc cho vua, nhà nước phải đào tạo một đội ngũ quan lại, được tổ chức hệ thống, lớp lang từ triều đình tới các địa phương. Thuyết “chính danh” của Nho giáo đã đáp ứng được nhu cầu ấy. Vì vậy, Nho giáo từng bước lấn át Phật giáo để chiếm ngôi vị độc tôn trong xã hội. Văn học vì thế cũng có bước chuyển đổi mạnh mẽ. Trước nhất là sự thay đổi trong bộ phận tác giả văn học: loại hình thiền sư - thi sĩ dần nhường chỗ cho loại hình nhà nho - thi sĩ. Theo đó tư duy văn học cũng biến chuyển, quan niệm con người vô ngã trong văn học Phật giáo dần nhường chỗ cho quan niệm con người hành xử trong văn học Nho giáo. Khi đội ngũ tác giả đã biến đổi, tư duy văn học đã biến đổi thì hiển nhiên chất liệu, thể loại, ngôn ngữ và thi pháp nghệ thuật cũng được thay thế. Kết quả, đến thời Vãn Trần, văn học đã thực sự có một cuộc chuyển mình, hệ hình văn học Nho giáo thay thế cho hệ hình văn học Phật giáo(20). Nhìn từ góc độ thể loại, thể phú đã trở thành bộ phận văn học thể hiện sáng rõ bước biến chuyển này. Gắn bó chặt chẽ với đời sống chính thống, phú ghi lại rõ nét những thăng trầm của chế độ phong kiến. Là đại diện tiêu biểu cho văn học chức năng và văn học nghệ thuật, phú thể hiện được những vận động và biến chuyển của văn học, trở thành thể tài tiêu biểu cho quy luật vận động và phát triển của văn học trung đại. Việc có thể lần ra được đường dây của sự biến chuyển ấy như đã chỉ ra ở trên một phần cũng chứng minh điều đó.

Có thể nói, với nhiều đặc điểm ưu việt như sự tự do phóng túng, sự lộng lẫy phong phú của ngôn từ, sự gần gũi với ngôn ngữ văn xuôi, sự đa dạng của cú thức và dung lượng lớn của ngôn từ.... lại gặp được không khí văn hóa, văn học thuận lợi, dưới thời Lý - Trần, phú đã có được một môi trường sáng tác giàu sáng tạo. Các tác giả thời Trần đến với phú từ nhiều góc độ và sáng tạo ở nhiều khía cạnh song phần lớn đều đạt tới sự mẫu mực, điển nhã, nhất là ở bộ phận phú chữ Hán. Cộng hưởng giữa tài năng sáng tạo cá nhân và tiếng vọng từ lịch sử hào hùng của dân tộc trong văn học, phú thời Lý - Trần còn tiêu biểu cho sự vận động của văn học đương thời. Tìm hiểu thể phú thời Lý - Trần, vì vậy, ngoài việc tìm thấy những đặc sắc riêng có của nó còn góp phần vào việc định hình quy luật của tiến trình văn học Việt Nam thời trung đại.

Chú thích:

(1) Dẫn theo: Trần Lê Sáng, “Thử tìm hiểu quan niệm “thi ngôn chí” của nhà nho”, Tạp chí Văn học, số 1 năm 1973, tr.68.

(2) Số tác phẩm phú thời Trần còn lại đến ngày nay chủ yếu thuộc giai đoạn nửa sau triều Trần. Quần hiền phú tập, tuyển tập phú cổ nhất còn lư­u lại do Hoàng Tụy Phu biên tập, Trình Văn Huy phê điểm, Nguyễn Thiên Túng đề tựa (năm 1457); sau được Nguyễn Trù bổ sung và in lại (năm 1728) đã thu thập được 108 bài phú của 31 tác giả từ thời Trần đến Lê mạt trong đó có 13 bài của 13 tác giả thời Trần. Trần Lê Sáng trong Tổng tập văn học Việt Nam cung cấp thêm một bài phú khuyết danh thời Trần, không thấy chép trong Quần hiền phú tậpHoàng chung vi vạn sự căn bản phú. Xem: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 3, (Trần Nghĩa chủ biên), Nxb. KHXH, H. 2000.

Căn cứ theo tư liệu của Đào Duy Anh thì phú thời Trần ngoài phú chữ Hán còn có phú chữ Nôm, gồm 4 bài, được in trong sách Thiền tông bản hạnh, vốn là sách của chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử song được chùa Vĩnh Nghiêm, xã Đức La, phủ Lạng Giang (Bắc Giang) khắc in lại lần thứ 3 vào năm 1532. Bản in này do sư Thanh Hanh viết lời dẫn. Bên cạnh tư liệu của cụ Đào, nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cũng công bố một văn bản khác, bản in cuốn Thiền tông bản hạnh vào năm 1745 do chùa Liên Hoa tại Thăng Long tàng bản (mà ông nhận được từ sư Giải Ngạn ở Hoàng Mai năm 1943). Bản in này không có bài Giáo tử phú mà nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ không phải tác phẩm của chính Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Xem: Đào Duy Anh, “Chữ Nôm ở thời kỳ Lý - Trần”, Tạp chí Văn học, số 6 năm 1974; Thơ văn Lý - Trần, (tập 2, quyển Thượng), Nxb. KHXH, H. 1989.

Ngoài hai cuốn trên, Hồng nghĩa giác tư y thư, nguyên là Thập tam cương gia giam của thiền sư Tuệ Tĩnh cũng có chép 2 bài phú nữa (một Hán, một Nôm). Tuy tiểu sử tác giả còn nhiều nghi vấn, có thuyết cho rằng ông sống vào đời Trần Dụ Tông (1341 - 1369), có thuyết lại khẳng định ông sống vào thời Lê Dụ Tông (1705 - 1731), và tác phẩm Hồng nghĩa giác tư y thư đã được người đời sau sửa chữa và thêm bớt nhiều nhưng trong khi chờ tra cứu thêm, chúng tôi vẫn xếp 2 bài phú này vào thời Trần. Xem: Thơ văn Lý - Trần, (tập 3), Nxb. Nxb. KHXH, H. 1978.

Trước đời Trần, thư tịch cổ có nhắc đến sự có mặt của thể phú trong sinh hoạt văn học cung đình thời Lý nhưng đến nay chưa tìm thấy những sáng tác này. Trước nữa, có trường hợp Bạch Vân chiếu xuân hải phú của Khương Công Phụ, người gốc Ái Châu nhưng thi đỗ và làm quan với nhà Đường nên cũng khó có thể coi bài phú là di sản văn học Việt. (Về bài Bạch Vân chiếu xuân hải phú, xin xem: Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Nxb. Hàn Thuyên, H. 1942; Nxb. Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, tái bản 1993).

Như vậy có cả thảy 20 bài phú thời Lý - Trần được lưu lại đến nay. Tuy vẫn còn một vài điểm nghi vấn và có tác phẩm không còn nguyên vẹn (hoặc mất hoặc bị chỉnh sửa) song những di sản văn tự này có ý nghĩa vô cùng to lớn cho việc giới thuyết lại diện mạo cũng như chỉ ra những nét đặc sắc của phú thời này. Vì vậy, việc đánh giá đúng vị trí và đóng góp của thể phú thời Lý - Trần có ý nghĩa không nhỏ với việc nghiên cứu thể loại nói riêng và tiến trình văn học trung đại nước ta, mà trước hết là nỗ lực Việt hoá và những thành tựu xuất sắc trong quá trình xây nền đắp móng.

(3) Bộ phận những bài phú chữ Nôm và sự “gặp gỡ” giữa phú với nhà chùa như là một “đặc sản” của văn học Lý - Trần sẽ được tìm hiểu kĩ lưỡng hơn ở một bài viết khác.

(4) Trong bài viết này chúng tôi có sử dụng hai khái niệm phú Nômphú chữ Nôm để chỉ loại sáng tác thuộc thể phú được viết bằng tiếng Việt (mẫu tự Nôm). Khi dùng phú Nôm, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tính chất loại biệt của nó: như một thể loại đã được Việt hóa của văn học Việt Nam trong tương quan với thể phú của văn học Trung Quốc, điều này được thể hiện rất rõ trong thi pháp thể loại, nhất là trong phú Nôm thời Nguyễn. Dùng phú chữ Nôm, để phân biệt với bộ phận phú viết bằng chữ Hán của văn học Việt Nam.

(5) Dẫn theo: Trần Lê Sáng: Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần - Hồ, Tạp chí Văn học, số 6 năm 1974, tr.100.

(6) Các dẫn chứng trong bài đều lấy từ Thơ văn Lý - Trần, (tập 2, quyển Thượng; và tập 3), Nxb. KHXH, H. 1989, 1978. Riêng bài Hoàng chung vi vạn sự căn bản phú lấy trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 3, Sđd.

(7) Không kể đến tích Lã Vọng được mượn để làm phú, trong bài Xuân nhật du sơn tự (Ngày xuân chơi chùa trên núi), bài thơ duy nhất còn lại của ông, ta cũng thấy rõ đặc điểm ấy.

“Trượng lê phù ngã nhập thiền quan,

Hoa thảo nghênh nhân thủ thứ phan.

Viện tĩnh sơn minh song tư họa,

Nhất đình phương thảo phật gia nhàn”.

(Gậy lê đỡ lão nhập thiền quan,

Hoa cỏ đón người vui bước lên.

Viện vắng ngoài song non tựa vẽ,

Một sân hương cỏ Phật gia nhàn)

(8) Phúng gián là một trong ba chức năng cơ bản của thể phú, gồm: vịnh vật, ngôn chí trữ tình, ngợi ca phúng gián. Trong đó, vịnh vật là chức năng khởi thuỷ của thể tài, nhưng với người viết phú, vịnh vật không mang tính mục đích mà giữ vai trò là phương tiện để đạt được mục đích (ngôn chí). Lưu Hiệp viết trong thiên Thuyên phú của Văn tâm điêu long: “Phú giả phô dã, phô thái xi văn, thể vật tả chí dã” (Phú có nghĩa là trình bày cái đẹp và lời văn, lấy sự vật để nói lên cái chí của mình). Còn ngợi ca phúng gián là chức năng xuất phát từ chính một trong những nguồn gốc thể tài (Kinh Thi). Và ngay từ những trước tác đầu tiên, chức năng này đã được thể hiện. Nó là sợi dây cố kết phú với giai cấp thống trị, đưa phú vào quỹ đạo văn học quan phương. Đó là một truyền thống của phú, bởi ngay từ khi hình thành, chính yêu cầu ngợi ca tán tụng và phúng dụ đã giúp phú vươn lên chiếm lĩnh văn đàn, trở thành thời một đi không trở lại trong lịch sử văn học Trung Quốc. Choáng ngợp trước sự phát triển rực rỡ của xã hội thời Hán, họ viết phú để ngợi ca tán tụng. Sự say sưa chọn ý chuốt lời nhằm mục đích tiến phú, dâng phú, nhuận sắc hồng nghiệp (tô điểm cho nghiệp lớn)... đã góp phần xác định thể chế và bút pháp thể loại nhưng đồng thời cũng ít nhiều tạo ra “truyền thống dè chừng, lời lẽ lợi bất cập hại”. Vì thế, có người mới khái quát phú thời Hán là “khuyến bánh phúng nhất” (khuyến khích trăm lời mới can ngăn một lời) để Dương Hùng phải bộc bạch thẳng thắn: “Hùng dĩ vi phú giả, tương dĩ phong chi” (Hùng này cho rằng phú phải hướng tới phong) và lấy làm buồn về phú thời ông chưa có được phong khí ấy. Về vấn đề này, xin tham khảo thêm trong: Lưu Hiệp, Văn Tâm điêu long (Phan Ngọc dịch), Nxb. Văn học, H. 1996; Đàm Gia Kiện (chủ biên), Lịch sử văn hóa Trung Hoa (Nguyễn Thạch Giang dịch), Nxb. KHXH, H. 1993.

(9) Dẫn theo: Trần Lê Sáng: Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần - Hồ, Bđd, tr.101.

(10) Dẫn theo: Phương Lựu, Về quan niệm văn học cổ Việt Nam, Nxb. Văn học, H. 1985, tr.86.

(11) Từ giả định về hoàn cảnh ra đời như trên, nếu tiếp tục làm sáng tỏ có thể cung cấp chút sử liệu để nghiên cứu đời sống tư tưởng xã hội đương thời vốn không ít sóng gió. Nhưng trong điều kiện tư liệu hiện có đó là điều mà chúng tôi chưa vươn tới được.

(12) Dẫn theo: Phương Lựu, Về quan niệm văn học cổ Việt Nam, Sđd, tr.95.

(13) Thuật ngữ transplantation (bứng trồng, di thực) được D.S.Likhachev dùng để chỉ một kiểu tiếp biến văn hóa (acculturation) Bizance (tên cũ của Constantinople, tức Istanbul, thành phố lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) của văn hóa Slaves. Thuật ngữ này sau được các nhà Đông phương học Nga sử dụng phổ biến để chỉ sự tiếp biến văn hóa của các nền văn hóa trẻ (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…) từ một nền văn hóa già (Trung Quốc).

(14) Tuy lời ngợi ca có ít nhiều thái quá, nhưng trong không khí bao trùm là ý muốn khẳng định một dân tộc hùng cường trong thế “đối kháng Trung Hoa” được định hình và xuyên suốt từ khi giành được độc lập (938) đến hết thời Lê sơ (khoảng 1497, khi vua Lê Thánh Tông băng hà), tức là giai đoạn đang lên của dân tộc, thì bài phú đã mang âm hưởng tự tôn dân tộc khá rõ nét. Đó là một đóng góp đáng ghi nhận. Sau ông tinh thần này vẫn được phát dương thêm mạnh, tiêu biểu nhất là cụm bài Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn và Trình Thuấn Du thời Lê sơ. Hơn thế, bút pháp so sánh của ông cũng được học giả đời sau kế thừa. Xem thêm: Đoàn Ánh Dương, “Trảm xà kiếm phú của Sử Hy Nhan”, Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, số 99+100, tháng 10&11 năm 2006.

(15) Về vấn đề này xin xem Phạm Tuấn Vũ, “Tìm hiểu hình thức phú chữ Hán đời Trần”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 9, năm 2005, tr.81-86.

(16) Quan niệm rằng phú thời Lý - Trần thuộc tiểu loại Hán phú vẫn còn khá phổ biến trong giới nghiên cứu cổ văn ở ta. Chưa tính đến việc tiêu chí phân loại chưa thống nhất giữa ta với Trung Quốc (ở ta chỉ phân làm hai loại: cổ phú không cách luật và luật phú (Đường phú) có cách luật nghiêm ngặt; trong khi ở Trung Quốc, phú được chia thành bốn tiểu loại: Hán phú, biền phú, luật phúvăn phú. Trong đó, Hán phú trong quan niệm của giới nghiên cứu Trung Quốc đồng nhất với Cổ phú trong quan niệm của ta còn các tiểu loại khác hầu như đều được giới nghiên cứu ở ta xếp vào luật phú). Nói thêm điều này để thấy rằng việc chỉ ra và đi đến thống nhất về những vấn đề thuộc về quy phạm thể loại là cần thiết, nhất là đối với việc nghiên cứu và giảng dạy văn học cổ (như việc các tác giả Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (bộ mới) cho rằng Bạch Đằng giang phú thuộc tiểu loại cổ phú chẳng hạn). Bởi đã có sự bứng trồng hầu như trọn vẹn thi pháp thể loại trong thực tiễn sáng tác thì khi nghiên cứu cũng nên soi xét dưới ánh sáng của lý luận cổ điển Trung Quốc. Trả lại Bạch Đằng giang phú về đúng tiểu loại văn phú sẽ vừa tránh được sự chồng chéo khái niệm (giữa lý luận Trung Quốc và Việt Nam) vừa mở ra cách tiếp cận đặc thù theo đặc trưng thi pháp thể loại vốn có của nó.

(17) Xin xem: I.X.Lixevich, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, (Trần Đình Sử dịch), Nxb. Giáo dục, H. 1994.

(18) Bởi tiếp thu, cách tân và sáng tạo luôn là quy luật tiếp biến văn hoá của một nền văn hóa trẻ đang muốn khẳng định tinh thần độc lập tự cường trước một nền văn hoá già mà nó đang chịu ảnh hưởng. Khảo sát di sản đồ sộ của phú Trung Quốc để lại, ta khó có thể tìm được một nội dung tư tưởng như thế. Điều đó có những nguyên do của nó bởi ở chính quốc phú là một thể tụng ca không đi chệch đường ray tải đạo chính thống. Có thể sự phát triển rực rỡ của thơ Phật với nhiều gương mặt tiêu biểu (Vương Duy là một ví dụ) đã đủ đáp ứng nhu cầu thể hiện Phật giáo trong văn học Trung Quốc. Còn các tác phẩm phú đời sau ở Việt Nam, tuy có bài chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo song không có tác phẩm nào được viết nhằm chuyển tải nội dung giáo lý Phật giáo như phú thời Trần nữa.

(19) Có thể hình dung đồ thị tiệm cận ấy ở những tọa độ: Ở Cư trần lạc đạo phú, tác phẩm phú Nôm có thể nói là sớm nhất và cũng khác Trung Quốc nhất, Trần Nhân Tông đã chia bài phú làm mười hội và kết thúc bằng một bài kệ chữ Hán, mỗi hội thể hiện hoàn chỉnh một ý và chúng được xâu chuỗi với nhau ở một ý chung là niềm vui của con người ở giữa cõi trần vui đạo, ý chung này được tổng kết, khẳng định và nâng cao trong bài kệ ở phần kết thúc. Lối kết cấu này rõ ràng khác hẳn so với lối kết cấu sáu phần của phú luật Đường (lung, biện nguyên, thích thực, phu diễn, nghị luận, kết). Như vậy ở một khía cạnh nào đó Trần Nhân Tông đã bộc lộ một lối tư duy mới vừa độc lập tự chủ vừa triệt để, cụ thể: Lối xâu chuỗi một cách độc lập tương đối các sự vật hiện tượng cùng bản chất vào một chỉnh thể thống nhất. Cách tư duy này bộc lộ lợi thế ở chỗ vừa có thể hiểu hết từng yếu tố một, vừa gắn kết được yếu tố ấy vào một hệ thống chung. Nó giúp ta có một cái nhìn đầy đủ, thực chất hơn về sự vật hiện tượng, nhất là sự vật hiện tượng hay khái niệm trừu tượng, tránh thái độ kinh nghiệm chủ nghĩa trong việc học tập triết lý Thiền tông. Rõ ràng đối tượng miêu tả ở đây đã chi phối cách lựa chọn kết cấu tác phẩm. Và người lập nên được kết cấu ấy ắt hẳn phải là một đầu óc triết học sâu sắc. Nhưng đến Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang, tác giả văn học Phật giáo lớn cuối cùng ở thời Lý - Trần, hình thức bài phú đã khuôn định lại trong quy phạm cách luật của thể phú. Tuy vẫn có bài thơ cách luật cuối bài (điều này cũng phổ biến trong phú Trung Quốc thời Lục triều) nhưng ở phần chính văn, bài phú chia làm 8 vần, như cách thức hạn luật trong chế độ thi cử đương thời. Và đến các bài phú chữ Hán, thì nhất loạt, đều mang hình thức của văn phú.

(20) Trong công trình khái quát văn học trung đại gần đây: Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lí luận và lịch sử, Trần Ngọc Vương (chủ biên), Nxb. Giáo dục, H. 2007, dưới góc nhìn sự chuyển biến về mặt loại hình tác giả văn học, nhận định giai đoạn này có “định hướng Nho giáo hóa”, phần viết “Từ sự chuyển biến về mặt loại hình tác giả đến những động thái đặc thù của một quá trình văn học sử” (qua khảo sát giai đoạn từ Vãn Trần đến Lê Sơ) cũng sơ lược chỉ ra quá trình vận động của lực lượng sáng tác, lý tưởng thẩm mĩ và quan niệm văn học, hệ thống chủ đề, đề tài trung tâm, nhân vật trung tâm, thể loại và ngôn ngữ. Nếu tiếp tục được triển khai sâu hơn theo hướng này, tác giả có thể có đóng góp cho việc tìm hiểu tiến trình văn học trung đại Việt Nam./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.169-195

Đoàn Ánh Dương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm