13. Một số kết quả và nhận xét đánh giá về nội dung hệ thống bia đá ở Văn Miếu Bắc Ninh... (TBHNH 2000)
MỘT SỐ KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VỀ NỘI DUNG HỆ THỐNG BIA ĐÁ Ở VĂN MIẾU BẮC NINH SO SÁNH VỚI BIA VĂN MIẾU HƯNG YÊN
NGUYỄN VĂN ĐÁP
Bảo tàng Bắc Ninh
Văn miếu Bắc Ninh, hiện còn lưu giữ được tất cả 15 tấm bia đá, đó là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời cha ông. Trong đó có 12 tấm bia “Kim bảng lưu phương” ghi chép về khoa thi, họ tên, quê quán, học vị và chức tước của các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ của tỉnh Bắc Ninh huyện Văn Lâm, Văn Giang (Hưng Yên) và Gia Lâm, Đông Anh – (Hà Nội). Tất cả các văn bia Tiến sĩ này đều được khắc vào tháng 10 năm Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái (1889) (trừ tấm bia thứ 12 mới được bổ sung). 12 tấm bia này có kích thước lòng bia như nhau (110cm x 75cm), trán bia cong và được trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Ở diềm bên trái của mỗi bia đều khắc vị trí của bia đó trong nhà bia.
Một bia nhỏ đặt bên trái tiền đường. Có số đo lòng bia là 70cm x 40cm khắc vào ngày 15 tháng 7 năm Thành Thái thứ 8 (1896), ghi chép số ruộng do các quan viên tỉnh Bắc Ninh cung tiến vào Văn miếu để làm tự điền. Tổng cộng số ruộng là 13 mẫu, 3 sào, 10 thước.
Một bia nhỏ nữa đặt ở bên phải tiền đường mang tên “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” có số đo lòng bia là 50cm x 35cm, dựng vào ngày tốt tháng 2 năm Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân 6 (1912), ghi chép về việc di chuyển Văn miếu Bắc Ninh từ sơn phận Thị Cầu về núi Phúc Đức. Cả hai tấm bia này đều không có hoa văn trang trí.
Đặc biệt tấm bia mang tên “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký”, có kích thước rất lớn (32 x 2,8m x 0,4m) được dựng ở trước cửa tiền tế như một tấm bình phong tuyệt đẹp được khắc vào năm Bảo Đại thứ 3 (1928) do Bạch Sơn Phu Đàm Viên Phạm Văn Thu soạn. Bia gồm hai mặt:
Mặt trong bia nội dung thể hiện sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo, quý việc học hành đề cao truyền thống hiếu học, trân trọng những bậc hiền tài đã cống hiến trí tuệ cho quê hương, đất nước.
Mặt ngoài bia nội dung thống kê các vị chức sắc, các thôn xã đóng góp để trùng tu Văn Miếu. Về cá nhân gồm 139 người trong và ngoài tỉnh tham gia cung tiến, về tập thể gồm các phủ như: Phủ Từ Sơn có 62 đơn vị xã, thôn tham gia cung tiến, phủ Thuận Thành có 59 đơn vị tham gia cung tiến. Các huyện gồm: huyện Võ Giàng, Quế Dương, Tiên Du, Yên Phong, Lang Tài, Văn Giang, Gia Bình, tổng cộng có 384 đơn vị tham gia cung tiến.
Rõ ràng các văn bia ở Văn Miếu Bắc Ninh chứa đựng nhiều giá trị văn hoá. Cung cấp tư liệu tương đối đầy đủ về tình hình khoa cử ở Bắc Ninh trong lịch sử và giúp chúng ta hiểu được sự quan tâm đối với việc học của các tầng lớp người trong xã hội phong kiến trên đất Bắc Ninh.
Trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã in dập, phiên âm và dịch nghĩa toàn bộ hệ thống bia đá trong Văn miếu Bắc Ninh. Ngoài hai tấm bia nói về trùng tu Văn miếu và một bia ghi cung tiến ruộng vào Văn miếu. Còn 12 tấm bia “kim bảng lưu phương”, chúng ta đã thống kê được đầy đủ số người đỗ đạt được khắc tại Văn miếu.
Tổng số người có tên ở Văn miếu Bắc Ninh là 665 vị, trong đó có 17 vị đỗ Phó bảng và 648 vị đỗ đại khoa gồm:
- Số người đỗ Trạng nguyên là 20 vị.
- Số người đỗ Bảng nhãn là 10 vị.
- Số người đỗ Thám hoa là 19 vị.
Ngoài ra số người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) và số người đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân là 609 vị.
Như vậy thông qua hệ thống bia đá ở Văn miếu Bắc Ninh chúng ta có vài điểm nhận xét và đánh giá như sau:
- Về nghệ thuật: Đây là công trình điêu khắc đẹp và rất có giá trị. Hình khối trang trí ở các trán bia và diềm bia cũng như những hình nét chữ khắc trên bia là những tài liệu hết sức quý giá về mặt lịch sử nghệ thuật chạm trổ, tạo hình.
- Về lịch sử: Ngoài phương diện đó, các tấm bia trong Văn miếu Bắc Ninh còn có giá trị về nội dung củ bài văn, dung về khoa cử các triều đại, và ta thấy cả một kho tư liệu phong phú với những tên người, tên đất rất cụ thể. Qua việc ghi công đức sửa chữa Văn miếu, ta còn thấy nhiều chi tiết về các đơn vị tiền tệ và giá cả thời xưa, cùng tên các chức hào mục trong tổ chức thôn xóm cũ. Tất cả đã cung cấp nhiều tài liệu quý.
- Về văn hoá: Đây là một địa điểm đẹp, thuận lợi cho khách du lịch, do vậy việc tìm hiểu nghiên cứu về Văn miếu nói chung, về văn bia nói riêng là điểm hết sức dễ dàng tạo cho các cá nhân và dòng họ phát huy truyền thống của cha ông, gia tôck. Để từ đó nối tiếp và xây dựng một nền văn hoá tiến bộ.
- Về chính trị: Đây là nơi thờ các giới trí thức phong kiến đất Bắc Ninh.
Những người đã tận lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Sau khi họ dành được học vị Tiến sĩ, những ông nghè đất Bắc Ninh ngày xưa đã được nhà nước phong kiến bổ nhiệm rồi thăng dần lên những chức vụ tương xứng với tài năng của họ. Từ chức vụ thấp nhất là Tri phủ đến chức vụ cao nhất trong làng quan văn là Thái sư. Trong số Tiến sĩ được khắc tại Văn miếu Bắc Ninh có 77 người là sứ giả của triều đình đi sứ phương Bắc, 5 người được cử hai lần, 20 người là thi sĩ và tác giả văn học, trong đó có 9 người là thành viên của “Tao đàn nhị thập bát tú” do vua Lê Thánh Tông sáng lập.
Khi tìm hiểu về các vị danh nhân khoa bảng đất Bắc Ninh từ thời Lý đến thời Nguyễn ta thấy có nhiều người đỗ đạt ngay từ lúc còn trẻ, lại có người tuổi ngoại lục tuần còn thi cử như Nguyễn Đăng và Quách Đồng Dần là những người tiêu biểu. Hơn nữa ta còn thấy những làng xã có nhiều người đỗ Tiến sĩ như: Kim Đôi, Tam Sơn, Vĩnh Kiều, Nội Duệ, Hương Mạc…
Căn cứ vào nội dung hệ thống bia đá ở Văn Miếu Bắc Ninh trải qua 844 năm, chúng tôi thấy người dân Bắc Ninh rất ham học, có chí vươn lên đóng góp đáng kể vào việc xây dựng nước nhà, trên tất cả mọi phương diện: Giáo dục, văn hoá, chính trị, ngoại giao…
Thông qua hệ thống bia đá này cho chúng ta biết được:
+ Trước đây Văn miếu ở Thị Cầu, đến năm 1893 được chuyển về núi Phúc Đức huyện Võ Giàng (nay thuộc xóm 10, xã Đại Phúc, thị xã Bắc Ninh).
+ Năm 1889 khắc bia “Kim bảng lưu phương”.
+ Năm 1896 dựng bia “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến”.
+ Năm 1912 trùng tu nhà bia và dựng bia “Trung tu bi đình ký”.
+ Năm 1927 dựng bia “Bắc Ninh tỉnh trung tu Văn miếu bi ký”.
Trước khi đi vào so sánh giữa Văn miếu Bắc Ninh với Văn miếu Hưng Yên chúng tôi xin được điểm qua về Văn miếu Hưng Yên.
Hiện nay Văn miếu Hưng Yên đang được tu bổ lại với kiến trúc bề thế, đầy đủ các hạng mục công trình như tam quan mang dáng dấp của tam quan Văn miếu Hà Nội. Phía trong có lầu chuông, lầu khánh, hai dẫy tả vu, hữu vu giữa là các gian đại bái. Trong gian này trước kia còn để lại các câu đối ca tựng sự nghiệp của Khổng Tử.
Ngoài ra về hệ thống bia đá ở Văn miếu Hưng Yên này còn lưu giữ tất cả 9 tấm bia, trong đó có 8 bia ghi họ tên, quê quán và chức tước của các vị đại khoa, 1 bia nội dung ca ngợi về cảnh đẹp của đất Hưng Yên văn hiến.
Trong 8 bia khắc tên các vị đại khoa gồm tất cả 102 vị ở các địa phương: Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê, thuộc các triều đại từ Trần, Mạc Lê đến Nguyễn. Trong các địa phương có truyền thống khoa bảng với số người đỗ cao nhất là xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi có 12 vị đỗ đại khoa, rồi đến xã Bình Dân, huyện Đồng Yên (tức Khoái Châu) có 6 vị, xã Hải Triều (gồm cả Hải Yến) có 5 vị.
Với những giá trị văn hiến của Văn miếu Bắc Ninh và Văn miếu Hưng Yên có thể làm sáng tỏ khi ta tiến hành so sánh theo nhiều hướng và nhiều cấp độ khác nhau. Trên đây tôi chỉ xin so sánh một cách chung nhất để cho chúng ta dễ hình dung về nề văn hiến giữa hai địa phương này.
Trước hết Văn miếu Bắc Ninh và Văn miếu Hưng Yên cùng nằm trên đồng bằng Bắc Bộ vốn có cùng một nền tảng kinh tế - văn hoá tương đối đồng nhất. Vì vậy cùng là Văn miếu cấp địa phương. Do vậy những gì liên quan đến phong tục tập quán, lễ nghi, nghi thức thì tương đối giống nhau.
1. Về kiến trúc: Hiện nay cả hai Văn miếu đều có quy mô nhỏ. Tuy nhiên, kiến trúc của nó vẫn tuân theo quy cách căn bản của một Văn miếu: Quay theo hướng Nam, có hai dãy chính là điện Đại Thành phía trước và điện thờ Khổng Tử cùng Tứ Phối phía sau, phía trước là hai nhà tả vu và hữu vu. Nhưng nay cả hai Văn miếu Bắc Ninh và Hưng Yên đều không có gác Khuê Văn, đền Khải Thánh. Về các di vật khác như cuốn thư, tháp bút, tượng Khổng Tử… cũng không có. Văn miếu Hưng Yên hiện còn lầu chuông, lầu khánh. Do vậy xét về tổng thể kiến trúc của Văn miếu Hưng Yên còn đầy đủ hơn Văn miếu Bắc Ninh.
2. Về bia: Văn miếu Bắc Ninh ngoài 12 bia tiến sĩ còn có hai bia ghi trùng tu, 1 bia ghi các quan viên trong tỉnh cung tiến. Như thế, Văn miếu Bắc Ninh nhiều hơn Văn miếu Hưng Yên (chỉ có 8 bia Tiến sĩ) 6 chiếc. Xét về hình thức bia. Bia của Văn miếu Bắc Ninh kích cỡ là 110cm x 75cm. Trong khi đó bia của Văn miếu Hưng Yên là 120cm x 80cm. Về trang trí bia của Văn miếu Bắc Ninh cũng đơn giản hơn, không những không có rùa mà một số bia không trang trí hoa văn ở trán bia và diềm bia. Trán bia phần lớn là lưỡng long chầu nguyệt. Trong khi đó bia của Văn miếu Hưng Yên trang trí đẹp hơn mang biểu trưng cao. Trán bia được trạm trổ kiểu như đỉnh mũ Tiến sĩ, phía trên chia làm 3 múi tròn phía dưới có 2 hoặc 3 đường viền hình cánh hoa cúc tựa như đường viền của đai mũ.
Về cách trình bảy, bia của Văn miếu Hưng Yên được trình bày một cách hệ thống hơn, vì tên các vị Tiến sĩ được khắc cỡ chỡ to cao và đậm nét, còn quê quán và chức tước được khắc nhỏ hơn ở phía dưới.
3. Số lượng tiến sĩ: Các bia Tiến sĩ ở Văn miếu Bắc Ninh cho ta một danh sách gồm 648 vị Tiến sĩ và 17 vị Phó bảng từ khoa thi Minh Kinh Bác Học triều Lý 1075 đến khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13 (1901). Còn bia ở Văn miếu Hưng Yên cho ta danh sách gồm 102 vị Tiến sĩ. Người đỗ đầu tiên là Trạng nguyên Tống Trân đỗ năm Giáp Thìn thời Trần đến Tiến sĩ Hoàng Bình Chính đỗ khoa Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1775).
Có lẽ danh sách các vị đỗ đại khoa của cả hai Văn miếu đều không thống kê đầy đủ vì bia Văn miếu Hưng Yên được khắc vào năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888). Bia Văn miếu Bắc Ninh được khắc vào năm Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1 (1889). Cho nên thiếu các vị đại khoa triều Nguyễn là điều dễ hiểu.
Qua đây, ta thấy số lượng những người ghi khắc ở Văn miếu Bắc Ninh là 665 vị, còn số người ghi khắc ở Văn miếu Hưng Yên là 102 vị. Vậy Văn miếu Bắc Ninh nhiều hơn Văn miếu Hưng Yên là 563 vị.
Vừa qua, chúng tôi đã thống kê khá đầy đủ về tên, quê quán, chức tước và các vị đỗ đại khoa tính theo địa giới hành chính hiện nay thì tỉnh Bắc Ninh có 407 vị, trong đó có 44 vị đỗ Đệ Thám hoa. Còn tỉnh Hưng Yên có 217 vị đỗ đại khoa trong đó có 18 vị đỗ Đệ nhất giáp gồm: 8 Trạng nguyên, 4 Bảng nhãn, và 6 Thám hoa.
Qua một số nội dung trên ta thấy không những Bắc Ninh mà cả Hưng Yên là những nơi có nhiều di sản văn hoá, nhiều cảnh đẹp nổi tiếng, những nơi có truyền thống vẻ vang về khoa bảng. Những địa linh nhân kiệt đó đã đánh dấu sự phát triển lâu đời của nền văn minh trên vùng châu thổ sông Hồng mà ngày nay thế hệ chúng ta đang nghiên cứu để học tập, kế thừa và phát huy, nhằm xây dựng một xã hội giầu mạnh, công bằng dân chủ và văn minh.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.112-120