13. Về con người cá nhân trong phú Nôm thời Nguyễn
VỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG PHÚ NÔM THỜI NGUYỄN
ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Viện Văn học
Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh đánh ra Phú Xuân, lật đổ triều Tây Sơn, lập nên triều Nguyễn, thống nhất đất nước. Dù đã tăng cường chuyên chế hòng thiết lập lại kỷ cương của xã hội quân chủ, nhưng triều Nguyễn vẫn không thể ngăn được sự khủng hoảng ý thức hệ vốn đã xuất hiện từ những thế kỷ trước. Trong văn học, xu hướng vận động chính vẫn là sự phát hiện ra con người, và tiếp tục khẳng định những giá trị chân chính của con người. Là một thể loại có ưu thế về dung lượng phản ánh, giàu cách điệu... cùng và trước hát nói, phú, đặc biệt là phú Nôm, thực sự thu hút được sự chú ý của các nhà nho tài tử khi họ muốn thể hiện cái tôi, sự ý thức về cá nhân, cá tính của mình.
Lần giở lại lịch sử, những va đập dữ dội của đời sống văn hoá - lịch sử dân tộc ở thế kỷ XVIII đã đem đến trước hết là sự phân hoá sâu sắc đội ngũ những người cầm bút. Những cuộc khởi nghĩa nhỏ có thể chưa tác động đến ý thức họ, nhưng hiện tượng Tây Sơn thì khác hẳn. Nguyễn Huệ là một nông dân áo vải tận phương Nam xa xôi, ít được ân trạch giáo hóa, nay hùng dũng tiến ra Bắc, trong chớp nhoáng đã quét sạch giặc ngoại xâm, đánh bại họ Trịnh, đặt cơ nghiệp mấy trăm năm của nhà Lê vào tình trạng mất còn. Rõ ràng, trong lúc vẫn còn đang phân vân, khó xử vì sự tồn tại đồng thời của cả vua Lê và chúa Trịnh thì đến lúc này, tuy họ Trịnh đã thất bại, nhưng thế vào đó lại là Tây Sơn, sự phân vân, khó xử ấy hầu như vẫn nguyên vẹn. Nghĩa là với các nhà nho, vấn đề theo thế lực chính trị nào, Tây Sơn hay nhà Lê, vẫn là một sự lựa chọn khó khăn, đầy dằn vặt và đau đớn. Những câu hỏi như: Lựa chọn con đường nào để đi? Dựa vào cái gì để lựa chọn? Thước đo giá trị ra sao, chuẩn mực ở chỗ nào?... dường như thường trực trong tâm trí họ. Phạm Công Thế tuy buồn bã nhưng rốt cục phải ngậm ngùi thừa nhận: “Danh phận không sáng tỏ từ lâu rồi, còn phân biệt thế nào là thuận với nghịch được nữa” (1). Trong điều kiện ấy, tìm về với con người cá nhân dường như đã trở thành cứu cánh của các nhà nho và mỗi danh sĩ là một “con đường sáng”!
Phân hóa là một tất yếu, mỗi một hướng lựa chọn sẽ đem đến cho văn học một tiếng nói và một phen sảy đàn tan nghé như thế tất sẽ tạo nên nhiều xu hướng văn học. Kết quả là văn học có sự phát triển phong phú, đa dạng mà thống nhất. Cùng sống trong môi trường tâm lý thời đại mà sự trỗi dậy của văn hóa dân tộc đem đến hai đặc điểm nổi bật: tính nhân dân đậm đà và tinh thần nhân đạo sâu sắc, có thể tiếng nói chính trị của họ khác nhau, lập trường tư tưởng khác nhau, nhưng họ không thể bình thản trước số phận con người. Trong dòng mạch ấy, văn học thời Nguyễn nói chung và thể phú nói riêng, là bước đẩy cao để hoàn thiện xu hướng lựa chọn thể hiện con người cá nhân trong văn học mà trước tiên là những khuôn mặt cá tính sáng tạo sắc sảo.
Có lẽ bước quá độ từ sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong văn học qua sự biến Tây Sơn đến sự khẳng định con người cá nhân thời Nguyễn được thể hiện khá rõ nét trong trường hợp Đặng Trần Thường. Ở nhân vật lịch sử này, con đường đến với con người cá nhân là sự trải dài của những bi kịch. Giai thoại kể rằng, Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm vốn là bạn, chỉ vì một lần Thì Nhậm khuyên Trần Thường “phải thông biến mới làm nên công nghiệp”, làm ông này cho rằng bạn khinh mình nên mới vượt biển vào Nam theo Nguyễn Ánh đánh lại Tây Sơn, để sau này, lịch sử phải ghi thêm trận đòn thù ở sân Văn miếu, dẫn đến cái chết đau đớn của họ Ngô. Gạt ra những phán xét về thái độ, hành động cả cười: “Ai công cầu ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai”, thì sự kiện trên, ở một chừng mực nhất định cũng là một biểu hiện cá tính. Để rồi về sau, khi đã là một đại quốc công thần, Đặng Trần Thường cố ý (hay chót nhỡ) làm sắc phong cho Hoàng Ngũ Phúc, người đã đánh chiếm thành Phú Xuân, lại bị gièm, Thường bị Gia Long hạ ngục. Ở trong ngục không biết ông có nhớ tới câu nói mà Ngô Thì Nhậm đã chân thành khuyên mình hay không, chỉ biết cái ý oán trách Gia Long thì thể hiện rõ trong thơ phú của ông. Các tác phẩm: Ngục trung bát vịnh, Hàn Vương Tôn phú, Tần cung nữ oán Bái Công văn đều bật lên cái ý khẳng định tài năng của mình và sự oán trách bề trên.
Mượn lời cung nữ nhà Tần oán trách thói thường ấm lạnh của Bái Công, trong Tần cung nữ oán Bái Công văn, Đặng Trần Thường đã than thở cho số phận mình một đời tài đức, một dạ trung trinh mà khi bị hàm oan, mà nhà vua cũng chẳng chút đoái hoài. Những lời gửi gắm tới vua, dù đã đánh cược vào đấy cả tài tình của mình, mà nghe vẫn ai oán xót xa.
"Gương trong chói rạng mặc lòng trên;
Cỏ mọn hoa hèn đành phận dưới".
Nhưng là một cá tính sắc sảo, dường như nỗi tủi cực, phẫn uất cứ tràn bờ, khiến cho hình tượng, số phận người cung nữ trong tác phẩm vẫn chưa thể nói hết nỗi bẽ bàng, bất lực của ông. Giận cái sự trung thành mà không được tin, giận cái tài phò chúa mà không được dụng, bị thất sủng, Đặng Trần Thường phẫn uất mượn tích Hàn Tín - Hán Cao để bộc bạch nỗi lòng trong bài phú Hàn Vương Tôn. Lấy tích Hàn Tín giúp Hán Cao Tổ lập nước mà sau lại bị Hán Cao Tổ nghi kị, kiếm cách giết cả họ làm điểm tựa, Đặng Trần Thường đem hết cái oan ức, bực dọc, oán hận trong lòng bày ra ngọn bút, nên dù vẫn là lời phúng gián gửi tới vua nhưng lời phú sao mà bẽ bàng, xót xa, oán thán:
"Ta nay:
Xem pho cựu sử,
Đọc truyện nhân thần.
Thấy câu: “Hán đắc thiên hạ, đại để giai Tín chi công”
Chửa từng chẳng thán tích Hàn vương tôn chi anh tài,
Mà thầm tránh Hán Cao hoàng chi sai kị".
Có lẽ vì thế nên khi bài phú lọt tới tai, Gia Long cho Thường có ý oán giận mình, nên bức phải chết trong ngục; âu cũng bởi lời phúng gián được xuất phát từ sự ý thức quá rõ ràng về cá nhân mình. Trường hợp bi kịch của Đặng Trần Thường xét đến cùng cũng là do sự thức dậy có phần quá mạnh mẽ của ý thức cá nhân, nhưng đã đặt nhầm chỗ. Nếu đúng vì lời khuyên của Ngô Thì Nhậm mà Thường bỏ theo Gia Long để cho bạn thấy sự “thông biến” của mình, và ngay giữa Văn miếu ra vế đối đầy tự phụ, khẳng định công nghiệp để đời của mình, thì đến tận khi thốt ra những lời phẫn uất, trì chiết Gia Long khi bị tống ngục, ông vẫn mới chỉ quanh quẩn trong địa hạt của chữ “cùng”. Cái chết khép lại bi kịch đời ông, khép lại hành trình đi tìm lẽ “thông biến”, mà đến khi từ giã cuộc đời, chân lý vẫn ở phía trước.
Thực ra đến được tới sự ý thức về con người cá nhân là cả một quá trình với nhiều bước ngoặt quan trọng. Từ con người làng xã, qua con người vô ngã, con người quân tử, con người tài tử, đến con người cá nhân, ý thức về bản ngã là kết quả của cả một quá trình dài với những tìm tòi, thể nghiệm, lựa chọn theo từng bước thăng giáng của đời sống văn hoá - lịch sử dân tộc. Lựa chọn Nho giáo làm ý thức hệ tư tưởng, đó là bước đầu tiên đưa con người tới sự ý thức về trách nhiệm, bổn phận của cá nhân trước tập thể cũng như sự tự ý thức về bản ngã. “Sự xác lập địa vị chủ đạo của Nho giáo, Giáo sư Trần Đình Sử nhận định - đã tạo nên bước ngoặt cho ý thức cá nhân biểu hiện ở tính tích cực lựa chọn lẽ xuất xử, niềm kiêu hãnh từ bỏ phàm tục, đối lập với kẻ khác, gắn mình với thanh cao, và ở điểm này ý thức tự do nội tâm gắn liền với tư tưởng Phật, Lão - Trang. Nhưng nhìn chung vẫn là ý thức cá nhân trong tinh thần siêu nghiệm”(2). Con người có ý thức như thế bắt đầu từ Nguyễn Trãi, qua Lê Thánh Tông và dừng lại với những biểu hiện của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ý thức cá nhân với ý nghĩa như là một bản ngã độc lập phải đợi đến thế kỷ XVIII mới được hình thành do sự tác động từ nhiều phía trong đời sống xã hội và văn hóa. Vẫn theo Giáo sư Trần Đình Sử: “Đó là thời đại khiến con người cá nhân thức tỉnh, tự khẳng định mình bằng mọi cách, mà trước hết là những giá trị cá nhân. Khi bộ cánh luân thường đã rách bươm, danh phận mờ mịt, con người cá nhân thể hiện ra trần trụi... Một thế hệ người tài tử ngang tàng, sống ngoài khuôn phép, trở thành một loạt giai thoại cũng là bằng chứng của con người cá nhân... Quá trình tự ý thức cá nhân ở đây gắn liền với quá trình sụp đổ của các khái niệm giáo lý, sự phai nhạt của hào quang thánh hiền, do đó mang tính chất là một cuộc phát hiện lại, một sự thể nghiệm lại”(3). Vấn đề biểu hiện là vậy, nhưng thực ra cùng là ý thức cá nhân lại thuộc hai mẫu người văn hóa khác biệt này, đường biên của nó thật sự không rõ ràng. Sự trồi sụt trong quá trình đi đến con người cá nhân cá thể là một tất yếu. Nó giải thích tại sao con người cá nhân tài tử đã có từ Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Gia Thiều... nhưng miền giao thoa của hai mẫu người lại phải đến Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường mới có biểu hiện đầy đủ, mới là một sự “xét lại” để cho ra đời những Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát; và sau nữa là Nguyễn Khuyến, Tú Xương, là những biểu hiện hoàn chỉnh của con người cá nhân. Bản chất của sự ra đời mẫu người này ngoài tư tưởng Nho giáo như một lực thúc đẩy còn có hai nhân tố nữa giữ vai trò cộng hưởng. Thứ nhất, là sự hình thành của các đô thị phong kiến phương Đông, kéo theo sự ra đời của của tầng lớp thị dân với tư tưởng và thị hiếu khác nhà nho. “Tư tưởng thị dân đòi hưởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo, giáo sư Phan Ngọc khẳng định - xuất hiện và trở thành xu thế chính. Các tài tử ra đời thay thế các quân tử, các trượng phu... Các tài tử ấy học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân”(4). Đó là một nhân tố hết sức quan trọng. Nhân tố còn lại, theo chúng tôi là tâm lý thời đại, không phải biểu hiện ra ngoài mà lắng sâu trong tiềm thức con người. Chỉ đến lúc này thì một kẻ vô danh tiểu tốt nào đó ở Kinh kỳ, nhưng chắc chắn là một nhà nho, mới dám nói về Lê Chiêu Thống: “Nước Nam ta từ khi có đế vương, chưa thấy bao giờ lại có một ông vua luồn cúi đê hèn đến thế!”(5). Đó là biểu hiện của tâm lý dân chủ tự do tự tại lắng lọc siêu cá thể, nhưng lại hiện diện trong từng hành động cụ thể của con người thời đại. Quá trình hình thành, biến chuyển và những biểu hiện của sự ý thức về con người cá nhân nhìn chung là như thế.
Biểu hiện đầy đủ đầu tiên của con người cá nhân trong phú Nôm thời Nguyễn có lẽ là Nguyễn Công Trứ. Là người thị tài, đa tài, đa tình, lại rất phóng túng, thơ văn Nguyễn Công Trứ là một thế giới cá nhân đa diện. Là ông Giải nguyên, Nguyễn Công Trứ không thể không biết câu nói của Khổng Tử: “Kẻ sĩ chí ở đạo, nếu xấu hổ về nỗi áo xấu cơm thô thì không thể bàn bạc về đạo”, thế mà ông đã hạ đủ mấy chục liên để tập hợp cảnh tượng của anh nho sĩ nghèo (Hàn nho phong vị). Hơn thế cảnh nghèo lại được hiện lên một cách sinh động, sắc nét.
"Kìa ai:
Bốn vách tường mo,
Ba gian nhà cỏ.
Đầu kèo mọt tạc vẻ sao;
Trước cửa nhện giăng màn gió.
Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng;
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.
Đầu giường tre, mối giũi quanh co;
Góc tường đất, giun đùn lố nhố.
Bóng nắng rọi trứng gà trên vách, thằng bé tri trô;
Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó.
Trong cũi lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu;
Đầu giàn chuột lóc khua niêu, buồn thôi lại bỏ".
Cảnh nghèo được vẽ nên bằng những nét bút hài hước, dí dỏm như một phép thắng lợi tinh thần. Nhưng tác động của cuộc sống nghèo khổ tới tâm tính con người là một sự thật, Nguyễn Công Trứ không thể không ghi ra điều ấy:
"Thân thỉ to to nho nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi trì;
Dần dà nọ nọ kia kia, nó những vuốt râu làm bộ.
Thầy tớ sợ men tìm đến cửa, ngoảnh mặt cúi đầu;
Chị em e vất lấm vào lưng, chìa môi nhọn mỏ".
Nghèo khổ như vậy với Nguyễn Công Trứ là khổ chứ đâu phải là vui, là hèn chứ đâu phải thanh bạch. Cái chất ngông nghênh, ngất ngưởng ngấm vào làm phú của ông không có giọng nghiêm cẩn khi viện dẫn sách thánh hiền. Phép nhại được sử dụng để tạo tiếng cười. Ông mủm mỉm cười và người đọc cũng cười. Cười để quên đi cái nghèo, cười để nhớ cái cách quên nghèo.
"Ngày ba bữa vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no;
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.
... Cùng cháu con thủa nói năng chuyện cũ, dường ngâm câu lạc đạo vong bần;
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ vi thượng bất phú".
Nhưng cái độc đáo trong cách nhìn nhận cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ là nhìn thẳng vào nó để chấp nhận, mà chấp nhận một cách lạc quan vui vẻ. Đó chính là cái chất Nghệ Tĩnh, là cái hồn Nghệ Tĩnh mà sau ông hơn một thế kỷ, một người con xứ Nghệ cũng nói lên được bằng hình tượng thơ rất gần gũi mà đẹp đẽ:
"Ai ơi cà xứ Nghệ
Càng mặn lại càng giòn
Nước chè xanh xứ Nghệ
Càng chát lại càng ngon".
(Gửi người bạn Nghệ Tĩnh - Huy Cận)
Đó chính là cội nguồn của sự khác biệt trong cách miêu tả nhìn nhận cảnh nghèo giữa ông với nhà nho Nguyễn Hàng, người sống trước ông non hai thế kỷ và cả với Cao Bá Quát, người cùng thời với ông và kém ông một chút tuổi đời. Nguyễn Công Trứ không nhìn bằng con mắt nhà nho như Nguyễn Hàng mà bằng con mắt “chung sống” của người xứ Nghệ. Còn với Cao Bá Quát thì khác hẳn, đó là con mắt hiện thực, phân tích rành rẽ, con mắt loại trừ. Trong Tài tử đa cùng phú, ông viết:
"Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa;
Đèn con con gon chiếc chiếu lôi thôi, đêm tịch mịch soi chung vừng nguyệt tỏ.
Áo Trọng Do bạc thếch, dãi xuân thu cho đượm sắc cần lao;
Cơm Phiếu Mẫu hẩm xì, đòi tuế nguyệt phải ngậm mùi tân khổ".
Nhìn cái nghèo như vậy quả là thấm thía. Ông muốn thoát cái nghèo nhưng không phải bằng cách khom lưng uốn gối hòng mưu cầu danh lợi. Bởi thế ông mới thẳng thắn vạch trần thế sự:
"Đói rau rừng thấy thóc Chu mà trả, đá Thú Dương lởm chởm, xanh mắt Di nằm ngáy o o;
Khát nước sông trông dòng đục không vơ, phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho lụ khụ.
Trông ra nhấp nhố sóng nhân tình;
Ngoảnh lại vật vờ mây thế cố".
Đến vậy thì khát vọng thay đổi phải được thể hiện ra bằng hành động với những toan, rắp “đạp cửa phù đồ”, “xoay cơn khí số”... Và ông tự gánh lấy trách nhiệm ấy:
"Bài phú Dương Hùng dù nghiêm tá, thì xin quyết tống bần quỷ ra đến miền Đông Hải, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu dài;
Câu văn Hàn Dũ phỏng thiêng chăng, thì xin quyết tống cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú".
Có lẽ cái hoài bão phi thường, sự khẳng định cá nhân đến tột độ ấy lan tỏa trong toàn bài phú đã khiến Vũ Khắc Tiệp phải trầm trồ: “Bài phú này, không cứ một chữ hoặc một câu nào, cả toàn thiên nhời nhẽ thật cổ kính, chơm chởm như quả núi dựng ngược lên, sắc sảo như thanh gươm chặt sắt như bùn, cứa vào đâu cũng đứt; văn đọc lên như xé trăm tấm lụa xoàn xoạt cùng một lúc vậy. Xem những câu phú này đủ biết về sau khởi nghịch là sự thật chứ không phải là người ta vu thác cho ông”(6).
Nếu như ở Nguyễn Công Trứ, con người cá nhân mới được thể hiện ở sự khẳng định cái tài, cái tình, cái khát vọng lập công danh, sự nhập thế bất chấp khen chê nhằm khẳng định một cái ta hơn người nhưng vẫn nằm trong vòng cương toả của xã hội, thì đến Cao Bá Quát, sự khẳng định con người cá nhân càng mạnh mẽ quyết liệt hơn. Ông thấy cuộc sống dưới chế độ phong kiến thật tù túng chật chội, thật tẻ nhạt, tầm thường, mà lại còn nheo nhóc khốn quẫn nữa, tất cả ứ chặt trong một khuôn khổ “ngục tù” làm ông ngột ngạt, bách bức muốn xoay nghiêng, đạp đổ. Khẳng định tài năng, khí phách bằng đầu óc phân tích xã hội sâu sắc, bằng khát vọng vượt thoát cuộc sống tầm thường tủi cực, bằng thái độ bất mãn và chống đối hiện thực, ở ông, ý thức cá nhân đạt tới mức cao độ và viên mãn.
Số phận Cao Bá Quát là một bi kịch, sau ông các nhà nho chân chính cũng không vùng vẫy mà thoát ra được, thậm chí còn bị cột thêm một vòng xích ngoại xâm nữa. Không chỉ họ, cả dân tộc đang rên xiết những nỗi uất đau vọt trào máu mắt bởi cơ cực, tủi nhục, bế tắc không tìm được lối ra. Cả dân tộc vùng lên chống thù trong giặc ngoài mà tổ quốc vẫn trong vòng nước lửa. Họ đã trạm lên những bức phù điêu nghĩa dũng, những lời bi ca đầy máu và nước mắt. Không có người chỉ đường soi lối trước một kẻ thù vừa hùng mạnh vừa xa lạ so với trước, một loạt những người con ưu tú nhất của dân tộc đã căm phẫn vùng lên và ngã xuống, số còn lại bế tắc và bất lực lánh vào cái tôi đầy ẩn ức tự cười mình, tự xỉ vả mình trong ý thức xót xa về phẩm giá nhân cách của mình trong thời loạn. Tiêu biểu là Nguyễn Khuyến và Tú Xương.
Chế độ thực dân phong kiến với chính sách khai thác thuộc địa triệt để đã phá vỡ hoàn toàn môi trường hoạt động của nhà nho truyền thống. Làm quan cho thời đại bán nước đê hèn tất là không rồi, nhưng lánh đục về trong, chọn lối sống ẩn dật cũng không được, làm gì còn mảnh đất nào mà bàn tay thực dân Pháp chưa mò tới. Chính Nguyễn Khuyến đã nói với chúng ta như thế: “Rừng xanh núi đỏ bao ngàn dặm/ Nước độc ma thiêng mấy vạn người/ Khoét rỗng ruột gan trời đất cả/ Phá tung phên giậu hạ di rồi” (Hoài cổ). Vì vậy, các nhà nho bị chừa ra giữa cuộc sống, hứng chịu tất cả những va đập trần tục mà xưa nay họ coi khinh hay lảng tránh. Trong cuộc sống mà những nấc thang giá trị bị lật tung, đảo lộn, nhà nho cũng chẳng còn cách nào khác để không phải lo đến những cuộc mưu sinh quẩn quanh vặt vãnh với những vật lộn vì miếng cơm manh áo hàng ngày. Những giá trị sách vở cũ kĩ trở thành một niềm hoài cổ mà dòng đời xô bồ lại đang cuốn phăng họ trên con đường tha hóa. Chẳng thế mà Nguyễn Khuyến mới cất tiếng cười tự trào về sự tha hóa toàn diện của nhà nho trong bài phú Ông đồ ngông:
"E thầy đồ chi hữu tác hề; Khương chữ tốt chi văn hay.
Truyện Thúy Kiều kì đọc ngược hề; Kinh tam tự kì biết ngay.
Thi nhân chính ư khuyên điểm hề; Tỉ kì mục đi nan tầy.
Nhược nhà chủ chi có nuôi hề; Tắc ngất ngưởng chi vi thầy.
Hễ nhà chủ chi đếch nuôi hề; Rồi ông xem đồ chúng bay!".
Tác giả cất tiếng cười thật đấy nhưng đấy là một tiếng cười thấm thía, tiếng cười của ông đồ “mất gốc”. Nguyễn Khuyến rơi vào bi kịch của chữ nhàn, của nhà nho muốn sống cuộc sống nhàn tản mà không được sống. Tất cả những cái đó được ông trút vào thơ phú với một thế giới thiên nhiên và thân phận người dân quê, trong đó có cả ông, đã được ông tri nhận. Nhìn nhận Nguyễn Khuyến ở giác độ sự phát triển của ý thức về con người cá nhân, Giáo sư Trần Đình Hượu cho rằng: “Nguyễn Khuyến theo lẽ xuất xử, tự chọn làm ẩn sĩ. Nhưng thực tế không để cho ông làm ẩn sĩ. Ông bực bội nói cái thực và trào phúng thành ra một nhà thơ của cuộc sống chứ không phải của đạo lý xuất xử... Ông đã đưa văn chương nhà nho sang một nẻo đường khác, và vì nhiều tài năng nên dẫu không có ý định thay đổi gì cả mà phương hướng mới cũng đã rõ nét: thơ gắn với cuộc sống, với vận mệnh đất nước”(7). Đó là một cuộc sống bình thường với những sướng khổ, buồn vui, lo toan của những mảnh đời bình dị trên đất nước đang bị giặc ngoại xâm dày xéo.
Tú Xương tiếp bước ông trên khuynh hướng này. Và càng xa đạo Nho bao nhiêu, càng gần cuộc đời trần tục bấy nhiêu, Tú Xương càng có cơ hội hiểu sự tha hóa mà Nguyễn Khuyến day dứt một cách đời thường, dung dị và ít tính bi kịch hơn bấy nhiêu. Đặt thân thế nhà nho vào cuộc đời xáo trộn, Tú Xương thấy nhà nho tuy có nhiều điểm khả thủ nhưng cũng là con người đời thường chẳng thiếu mùi thói tục. Vì vậy, tiếng cười tự trào trong thơ phú Tú Xương là tiếng cười lưỡng trị: cười để vui, cười để khỏi khóc; cười để khẳng định, cười để răn mình, nên là tiếng cười để sống. Có lẽ vì thế nên bức chân dung tự hoạ của ông toàn những nét nguệch ngoạc mà vẫn đầy tài hoa, cá tính:
"Có một thầy:
Dốt chẳng dốt nào,
Chữ hay chữ lỏng.
Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu;
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng.
Quanh năm phong vận: áo hàng tàu, khăn lượt, ô Nhật Bản xanh;
Ra phố xênh xang: quần cát bá, tất tơ, giày Gia Định bóng.
Giá cứ chăm nghề đèn sách, thì mười lăm mười sáu, đỗ tự bao giờ;
Chỉ vì quen lối thị thành, nên một tuổi một già, hóa ra lóng đóng.
Tú dốt bảng giữa năm Giáp Ngọ, nổi tiếng đầu trò;
Con nhà nghề ở đất Vị Xuyên, ăn phần cổ nọng".
(Hỏng thi phú)
Và ông đồ ấy dạy con những nghĩa lý cũng vô cùng độc đáo:
"Dạy câu điều lẩy,
Dạy khúc lý kinh.
Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép;
Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành".
(Thầy đồ đi trọ phú)
Ý thức sâu sắc về cuộc sống như thế nên tiếng cười trào phúng trong thơ văn ông mới được mài sắc thành vũ khí chiến đấu, ông mới dùng tiếng cười để đập thẳng vào mặt bọn hãnh tiến, trọc phú, quan lại, nho sĩ dởm... - những sản phẩm lố lăng, đồi bại của xã hội thực dân nửa phong kiến. Còn khi trở lại với tiếng nói trữ tình, tiếng thơ ông trở nên đằm thắm, tiếng cười tự trào thành tiếng giải toả, níu giữ ông giữa cái gốc nhà nho chính trực và anh thị dân tài tình nơi sông Vị non Côi. Ở vị thế ấy, Tú Xương “mở ra một phạm vi mới trong cuộc sống tự do cá nhân mà thực sự chỉ đáng chê khi đi quá giới hạn, con người nhà thơ như sống trên đường biên của khuôn phép và phi khuôn phép. Ông dùng tiếng cười để níu cái ngoài khuôn phép, để nó không được đi quá xa. Chính vì vậy mà thơ Tú Xương có một giọng ngông dám nói toạc những điều mà người ta không dám nói”(8). Đó là do đến lúc này tư tưởng Nho giáo ngày càng mất vị thế mà tư tưởng mới vẫn chưa hình thành, nhà thơ bị rơi vào tình trạng không biết trông vào đâu ngoài niềm tin vào bản ngã của mình, cái mà mình cảm thấy và tin như thế.
Tóm lại, trong xu thế khẳng định con người cá nhân trong văn học, phú Nôm đã thể hiện đầy đủ, trên nhiều phương diện khám phá ra con người, khẳng định những giá trị chân chính của con người mà trước tiên là ý thức cá nhân của tác giả. Trên nhiều ngả đường khác nhau để thể nghiệm và khẳng định, mỗi tác gia viết phú trong giai đoạn này là một gương mặt đường nét. Từ hiện đại nhìn về truyền thống, quả thật, những thể nghiệm của bộ phận tác giả này là rất độc đáo và táo bạo, vừa có ý nghĩa xây nền, vừa là bài học kinh nghiệm để con người cá nhân trong văn học cận - hiện đại có sự vươn mình mạnh mẽ.
Chú thích:
(1) (5) Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học, H. 2002, tr.367, 392.
(2) Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nhiều tác giả, Nxb. Giáo dục, H. 1997, tr.189.
(3) Về con người... Sđd, tr.166.
(4) Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, Nxb. Giáo dục, H.1985, tr.44.
(6) Dẫn theo Mai Quốc Liên: Cao Bá Quát một thiên tài kỳ vĩ của văn học Việt Nam, tập 4, Nxb. Hồn Việt, 2005, tr.47.
(7) Vũ Thanh (tuyển chọn): Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm, Nxb. Gáo dục, H. 2000, tr.125.