VI | EN
13. Vĩnh Kiều gia phả, phác thảo về một dòng họ khoa bảng. (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

VĨNH KIỀU GIA PHẢ

PHÁC THẢO VỀ MỘT DÒNG HỌ KHOA BẢNG

BÙI XUÂN ĐÍNH

Viện Dân tộc học

Làng Vĩnh Kiều, tên Nôm là Kẻ Viềng, xưa là xã Vĩnh Kiều (hay Vịnh Cầu) thuộc tổng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; nay là một thôn thuộc xã Đồng Nguyên, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có một dòng họ Nguyễn nổi danh về mặt khoa cử thời phong kiến với 10 Tiến sĩ, 31 Hương cống, Cử nhân, nhiều người có tài năng, xây dựng vương triều, được sử sách ghi nhận.

Dòng họ hiện còn lưu một bản gia phả mang tên Vĩnh Kiều gia phả, ghi lại thế thứ và phản ánh những nét lớn về lịch sử dòng họ, nhất là về mặt khoa cử và quan chức.

I. Cấu trúc và nội dung của Vĩnh Kiều gia phả

Vĩnh Kiều gia phả được viết trên giấy bản khổ 21 x 11cm, gồm 68 tờ, 136 trang, chữ viết từ trang đầu đến trang 120 do cùng một người viết, từ trang 121 trở đi, ở nhiều dòng có nét chữ chua thêm của người khác. Từ trang 1 đến trang 13, mỗi dòng đều có 8 hàng chữ, mỗi hàng có 20 chữ. Từ trang 14 trở đi, số hàng chữ ở mỗi trang và số chữ ở mỗi hàng không cố định, khổ chữ ở các trang dòng có khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các chữ đều được viết chân phương, dễ đọc.

Về niên đại của gia phả: căn cứ vào ghi chép ở các trang 1, 2, 5 thì văn bản do cháu đời thứ chín của dòng họ là Nguyễn Thời Hiến, tự Tố Trai, trú ở làng Ba Sơn(1) soạn lại vào tháng 9 năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), từ việc tập hợp các tài liệu của các chi họ, do bản gốc bị mất. Đến năm Giáp Thân đời Minh Mệnh (1824) được soạn laịi và đến ngày 7 tháng 8 năm Bính Tý đời Tự Đức (1876), người cháu đời thứ 11 là Tú tài tự Minh Trai viết lại lần nữa. Như vậy, phần lớn nội dung của cuốn gia phả này được phép và thẩm định lại vào năm Bính Tý đời Tự Đức (1876).

Kết cấu nội dung của Vĩnh Kiều gia phả gồm các phần như sau:

- Trang 2: Lời tựa của Tú tài Minh Trai viết ngày 7 tháng 8 năm Bính Tý đời Tự Đức (1876) về việc phải chép lại gia phả để biết nguồn gốc tổ tiên, do trước đây, hai con trai của Nguyễn Giáo Phương, sau khi nhà Mạc thất thế đã chạy sang Trung Quốc, đem theo gia phả gốc(2).

- Trang 3-5: Bài tựa của Nguyễn Thời Hiến – cháu đời thứ 9 về lý do viết gia phả.

- Trang 6-13: Chép về gốc gác dòng họ, vốn là dòng dõi họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn, phiêu bạt đi khắp nơi. Từ Lục Ngạn(3), họ này phân thành hai chi: một về Phật Tích, một về Vĩnh Kiều. Cụ viễn tổ ở Vĩnh Kiều nhà rất nghèo, phải trú tạm dưới một gốc đa lớn ở làng Đông Lâu (huyện Yên Phong) để làm thuê sống. Một hôm, sau một cơn mưa bão lớn vào đêm, sáng ra thấy dưới gốc cây cổ thụ bị đổ có 3 chĩnh vàng, liền cất kín một chỗ, không lấy một thỏi. Ít ngày sau, có hai người Tàu đến tìm, cụ trả lại nguyên số vàng. Người Tàu kia cảm tạ và hứa sẽ đặt mộ tại đất tốt, con cháu sẽ phát về đường khoa cử. Đúng 36 năm sau, năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức nhà Mạc (1529), dòng họ có người đỗ đại khoa là Nguyễn Văn Huy. Từ sau đó, nghiệp Khoa cử của dòng họ ngày càng phát.

- Trang 14: vẽ sơ đồ mộ tổ của dòng họ được người Tàu đặt đất hộ.

- Trang 15-16: Thống kê 10 vị Tiến sĩ của dòng họ gồm 5 Tiến sĩ triều Mạc là Nguyễn Văn Huy (đỗ năm 1529), Nguyễn Trọng Quýnh (1547), Nguyễn Đạt Thiện (1559), Nguyễn Hiển Tích (1565) và Nguyễn Giáo Phương (1586); 5 Tiến sĩ triều Lê là Nguyễn Danh Nho (1670), Nguyễn Đức Vọng (1673), Nguyễn Công Viên (1718), Nguyễn Đức Đôn (1721) và Nguyễn Quốc Ích (1727).

- Trang 17-19: Liệt kê những người trong họ đỗ Hương cống, Cử nhân gồm 6 vị thời Mạc, 24 vị thời Lê, 1 vị thời Nguyễn.

- Trang 21: Liệt kê thế thứ các chi từ đời thứ nhất là Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy đến đời thứ 13 (hiện nay đã phát triển đất đời thứ 16). Theo lối viết gia phả thông lệ, mỗi người có tên được ghi rõ tên huý, tự, hiệu, ngày sinh - mất, vợ con, học vị, hành trạng và công trạng… Với các bậc khoa cử và quan lại có ghi thêm những lưu truyền dân gian hay những chi tiết đáng lưu ý nhất. Đặc biệt, đối với Tiến sĩ Nguyễn Đức Đôn, ở trang 52-63 ghi toàn văn bài trường đề ngày tốt tháng 6 năm Long Đức thứ 2 (1733) do Thám hoa Ngô Sách Tổ (người làng Tam Sơn) viết cùng các Tiến sĩ Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Công Ích, Nguyễn Sĩ Tư, Trương Nguyên Điều và 105 Hương cống trong hàng tư văn huyện Đông Ngàn tặng cụ Nguyễn Nhân Duyên (đời thứ 6) có 7 người con đều đỗ đạt (3 Tiến sĩ, 4 Hương cống)(4).

II. Giá trị của Vĩnh Kiều gia phả

1. Vĩnh Kiều gia phả là nguồn tài liệu quý và đáng tin cậy để tìm hiểu dòng họ Nguyễn Vĩnh Kiều trên nhiều mặt, đặc biệt là sự thành đạt về mặt khoa của với 10 Tiến sĩ, 31 Hương cống Cử nhân, Nguyễn Vĩnh Kiều là một trong 3 họ của cả nước thành đạt nhất về khoa cử xét trên bình diện một làng, sau họ Vũ Mộ Trạch (Hải Dương) và Nguyễn Kim Đôi (Bắc Ninh). Ngoài ra, Nguyễn Vĩnh Kiều có một số người tuy không đỗ đạt nhưng giữ các chức vụ cao trong triều đình. Tính chung, Nguyễn Vĩnh Kiều có 2 người là Thượng thư, 2 người đi sứ (Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Công Vọng), 2 người là “Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân”, vài chục quan lại cao cấp triều đình và khá đông quan lại cấp trấn, tỉnh, huyện.

2. Vĩnh Kiều gia phả là tư liệu quý để tìm hiểu lịch sử dân tộc, qua các thời kỳ mà các danh nhân khoa bảng họ Nguyễn Vĩnh Kiều là những nhân chứng: Mười vị Tiến sĩ của họ Nguyễn Vĩnh Kiều đỗ đạt và làm quan của hai vương triều ở hai thời kỳ, trong khoảng thời gian từ 1529-1586 (nhà Mạc) và 1670-1727 (nhà Lê - Trịnh). Khá nhiều diễn biến chính của lịch sử đất nước ở hai khoảng thời gian này được ghi trong gia phả. Song lại có nhiều sự kiện mà chính sử không ghi hoặc ghi không đầy đủ nhưng gia phả lại ghi khá chi tiết. Chẳng hạn như sự kiện Nguyễn Hiển Tích sau khi nhà Mạc chạy khỏi kinh thành Thăng Long, đã theo Mạc Kính Chỉ cát cứ vùng huyện Thanh Lâm (nay thuộc tỉnh Hải Dương), bị thất bại, chạy trốn ra chùa Âm Sơn (Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), bị quân triều đình bắt được và bị đem về giết ở bãi Thảo Tân kinh đô Thăng Long ngày 27 tháng giêng năm Quý Tỵ (1593). Hoặc sự kiện Nguyễn Giáo Phương sau khi nhà Mạc bị quân nhà Lê đánh bật khỏi kinh thành Thăng Long đã theo Mạc Kính Cung giữ đất Thái Nguyên, Cao Bằng; đến năm Canh Tý (1600), nhân lúc triều đình Lê phải lo đối phó với việc Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn làm phản, đã thu vét tàn binh, chiếm vùng Thị Cầu, Võ Giàng rồi tiến đánh Thăng Long nhưng bị thất bại, lại rút về tử thủ Thái Nguyên. Triều đình Lê treo giải thưởng lớn cho người giết được ông. Viên quan thủ hạ của ông hám lợi đã làm phản, đang đêm giết ông rồi trốn về quy thuận triều đình, nhưng kết cục viên quan này cũng bị chém vì “bất nghĩa”. Hai người con trai của Nguyễn Giáo Phương đều đỗ Hương cống, sau đó chạy sang Trung Quốc, con cháu cũng rất phát đạt về đường hoạn lộ với triều đình Minh – Thanh. Đến đời Vĩnh Thịnh nhà Lê (1705-1719), có người được cử trong đoàn sứ thần nhà Thanh sang phong vương cho vua Lê, đến đầu làng Vĩnh Kiều, đoàn sứ bộ nổi nhạc, đến địa phận làng Cẩm Giàng thì dừng lại để một người trong đoàn vào biện lễ tam sinh tại mộ cụ Nguyễn Văn Huy; rồi mới đi tiếp về Thăng Long. Một sự kiện khác là Tiến sĩ Nguyễn Công Vọng hai lần đi sứ, khi làm Lễ bộ Tả thị lang đã dâng sớ xin chúa Trịnh cho giảm bớt cung nữ v.v..

3. Vĩnh Kiều gia phả còn để lại nhiều tư liệu về mặt dân tộc học. Trước hết, về mặt hôn nhân và gia đình. Qua các đời nổi lên hiện tượng có nhiều người (cả nam và nữ) của họ Nguyễn Vĩnh Kiều kết hôn với người của các dòng họ Khoa bảng, quan lại cao cấp (ví dụ có 4 người là thông gia với các Thượng thư, ba trường hợp thông gia với gia đình Tiến sĩ…). Đó không chỉ là vấn đề “môn đăng hộ đối” mà còn nhằm tạo ra những thế hệ thông minh, tạo ra mối liên kết chính trị - xã hội để củng cố thế lực dòng họ, tạo các điều kiện thuận lợi cho con đường lập nghiệp của con em v.v.. Qua Vĩnh Kiều gia phả có thể hiểu được các quan hệ gia đình, dòng họ, việc thừa kế, chia hương hỏa của xã hội đương thời, đáng lưu ý nhất là việc ông Linh Xuyên – con thứ của người thuộc thế hệ thứ 4 đã cậy thế bố nuôi là chúa Trịnh Căn để tranh ngôi trưởng; việc Tiến sĩ Nguyễn Công Vọn có một người con hư hỏng, bị ông từ bỏ, phải đến làng Phú Ninh (nay thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội), đổi thành họ Thạch và trở thành họ Thạch ở làng này từ đó đến nay.

Trên đây là một số nội dung và giá trị nghiên cứu của Vĩnh Kiều gia phả. Mặc dù có một số nhầm lẫn như ghi Tiến sĩ Đặng Công Chất là người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng (thực sự là người làng Phù Đổng huyện Gia Lâm), Thám hoa Nguyễn Quý Đức quê ở Thụy Nguyên (?) (đúng ra là ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm); thế thứ ở một số đoạn không rõ, song bản gia phả vẫn là nguồn tài liệu đáng tin cậy, cùng với ngôi nhà thờ Nguyễn Văn Huy ở thôn Tiêu Thượng (xã Tương Giang) – nơi ông sinh sống, ngôi mộ của ông ở Vĩnh Kiều (cả hai đã được Bộ Văn Hoá công nhận là Di tích lịch sử văn hóa), hơn 20 bản sắc phong cho các vị Tiến sĩ là cứ liệu để đi sâu nghiên cứu dòng họ khoa bảng này.

Chú thích:

1. Nay là làng Tam Sơn, xã Tam Sơn (Tiên Sơn, Bắc Ninh).

2. Nguyễn Giáo Phương đỗ Thám hoa khoa thi Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái nhà Mạc (1586), bị quan cận vệ giết, vê hàng triều đình Lê để lấy thưởng.

3. Nay là huyện Lục Ngạn (Bắc Ninh).

4. Ba người con của Nguyễn Nhân Duyên đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Công Viên (1718), Nguyễn Đức Đôn (1721), Nguyễn Quốc Ích (1727).

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.108-113)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm