14. Hình ảnh Án Bắc và thơ ông qua một di cảo (TBHNH 1997)
HÌNH ẢNH ÁN BẮC VÀ THƠ ÔNG QUA MỘT DI CẢO
NGUYỄN TIẾN ĐOÀN
Sở Văn hóa – Thông tin Thái Bình
Án Bắc tức Án sát Bắc Ninh Nguyễn Ngọc Tương (1827-1898) chức vị cuối cùng của ông trước khi trở về quê Nam Định chống Pháp. Ông có tên tự là Khánh Phủ, hiệu là Trà Phong và Tang Trữ. Thân sinh ông là Nguyễn Kim Trung đỗ Tú tài khoa Tân Mão (1831). Theo gia phả, Nguyễn Ngọc Tương thuộc một chi của dòng họ Nguyễn Trãi. Quê ông làng Tang Trữ (sau đổi là Hành Quần nay thuộc xã Nam Bình) sau chuyển cư đến làng Cổ Lũng (nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
Ông dòng dõi Nho nghèo, cụ tổ bảy đời đỗ Tiến sĩ triêu Lê, ông nội và ông thân đều dạy học. Ngay từ nhỏ ông đã thạo cày bừa, cất vó, đơm đó trên sông, trên ruộng góp vào nguồn sống gia đình. Khoa Mậu Ngọ (1858) triều Tự Đức ông đậu Cử nhân. Ông làm quan qua Huấn đạo, Tri huyện rồi Tri phủ Diễn Châu (Nghệ An), Ngự sử đạo Trị Bình, cuối cùng làm Án sát Bắc Ninh.
Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên cả nước ta, năm 1885 ông phụng chỉ vào kinh. Trên đường nghe tin vua Hàm Nghi chống Pháp không thành phải xuất bôn, ông không đi theo được, bùi ngùi viết:
Giang sơn vị sái anh hùng lệ,
Phong vũ nan tiêu tráng sĩ hồn.
(Sông núi; anh hùng cần nhỏ lệ,
Gió mưa: tráng sĩ khó tiêu hồn).
Sau đó ông bỏ quan về quê dạy học và làm thuốc. Khi văn thân Nam Định mưu chống Pháp, ông tham gia tích cực cùng với người cháu ngoại ông là Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi tức nghè Dao Cù gọi ông bằng cậu ruột, người đứng đầu văn thân Nam Định bấy giờ. Khi Vũ Hữu Lợi bị bắt và xử chém năm 1887, ông về quê xin đi khẩn điền, mở đất Phú Văn (huyện Hải Hậu) để tránh nanh vuốt giặc, ngầm chuẩn bị đại sự. Năm 1890, nghe tin vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, ông vô cùng thương cảm. Tình thế đất nước không thể cứu vãn nổi, ông mang nặng một tâm sự u uất, nhưng vẫn quyết giữ trọn tấm lòng trung trinh, thủy chung với dân với nước.
Bốn chữ “Thiên nhật thần tâm” (tấm lòng trung trinh với vua, với nước vẫn mãi mãi ngời sáng như ánh mặt trời) ở trên nóc từ đường thờ ông ở thông Cổ Lũng ngày nay vẫn chói sáng. Lớn con cháu ông sau này như Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Côn.. đều tham gia phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục và đều đã hy sinh vẻ vang, tiếp nối được chí cha lúc sinh thời.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu bài viết về Nguyễn Ngọc Tương, trích trong tập di cảo của cụ Nguyễn Công Chuẩn (1883-1956)(1).
… “Nhà rất nghèo nhưng tính cụ hiếu học, phải tìm kế để học hành như cày cấy, cất vó kiếm tôm cá không mấy khi cụ được rảnh rỗi. Năm 20 tuổi đỗ Tú tài. Cái ngày treo bảng, cụ có tên đỗ mà không biết, nhiều người trong làng biết tin mà thôi. Còn cụ thì đang đi đổ đó ở cánh đồng trước cửa lấy tôm tép. Cụ chỉ nộp quyển kỳ Đệ tam rồi vội về ngay làng để bắt tay vào sinh kế. Còn việc thi cử đỗ đạt hay không đành phải để ra bên cạnh. Người làng, người họ chạy từ tỉnh về báo tin cụ đỗ Tú tài thì cụ không có ở nhà, đi tìm mãi thấy còn đang đổ đó ở đồng ruộng. Ấy gia tư thanh bạch như thế mà lòng hiếu học không nản. Khoa sau cụ đậu Cử nhân rồi ra làm quan từ chức Huấn đạo lần lần đến Tri huyện, Tri phủ mà rất thanh liêm, nhà vẫn nghèo suông. Cụ nghiên cứu y khoa có công, cho nên lúc làm quan ở trong kinh, cụ chữa bệnh cho nhiều người vừa nhân dân, vừa các quan trong triều và cả nhà vua. Tính cụ chất phác, trung thực, được vua Tự Đức trí danh (vua ban cho tên) là Nguyễn Ngọc Chấn.
Bấy giờ người Pháp đã can thiệp vào việc nội trị của nước ta. Về quân sự thì như năm Quý Dậu (1873) Pháp đem quân ra đánh Bắc Kỳ, chiếm mấy tỉnh rồi lại giả về triều đình. Thế mà nội bộ triều đình Tự Đức thì vua ba phải, việc làm không quyết bề nào, quần thần thì bè đảng, đố kị hiền tài, tự tư tự lợi. Bấy giờ cụ làm chức Ngự sử, bèn đem mọi sự nguy lo của quốc gia ra bày tỏ thì bị bọn gian thần đố kỵ, phao vu cho cụ những sự không hay. Chẳng hạn, có người trong bọn họ bỏ bút vua dùng vào tráp của cụ, kết án tử hình. Song vua Tự Đức không chuẩn y án đó, cụ chỉ bị giáng ba cấp. Mặc dù vua Tự Đức rất biết cụ trung thực, nhưng vì tính vua nhu nhược, đành đem cụ ra quân thứ Thái Nguyên, nhưng ít lâu sau lại đem cụ về nhận chức Án sát Bắc Ninh. Qua năm Nhâm Ngọ (1882) Hà Nội thất thủ, năm Quí Mùi (1883) Nam Định thất thủ rồi lần lượt đến các tỉnh khác ở Bắc Kỳ trong đó có tỉnh Bắc Ninh mà cụ đương giữ chức Án sát. Khi quân Pháp vào tỉnh, các quan khác thì kiêng lấy vàng, lấy bạc ở trong kho đêm về. Người ta đưa cho cụ một số vàng trong kho, cụ không nhận và nói: “Toàn quốc thổ địa, nhân dân còn mất thì lấy vàng làm gì!”. Ý này cụ viết trong bài thơ: “Quý Mùi niên hòa ước thành, cảm tác”. (Cảm tác sau khi ký hòa ước Quý Mùi).
Kim ngân thổ địa thâu ưng dị
Phu tử, quân thần khử dã man!
(Bạc vàng đất cát buông còn dễ
Tôi, chúa, cha con dứt được sao!)
Tình thế bấy giờ không chống đỡ nổi giặc mạnh, cụ rút ra khỏi tỉnh Bắc Ninh rồi tìm về làng.
Nguyên cụ có cháu gọi cụ bằng cậu ruột là Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, đã làm quan đến chức Thương biện, người ta quen gọi là cụ nghè Dao Cù (Dao Cù là tên làng, cạnh làng cụ Cổ Lũng). Hai cậu cháu chỉ bàn định với nhau những việc để phục quốc. Sau cụ nghè Dao Cù bị bạn và đầy tớ phản bội, việc thât bại. Rồi có viên quan năm Pháp về nhà cụ tìm cụ ra làm quan, nhưng cụ lánh ra vườn sau thay quần áo nhà nông. Viên quan năm cũng ra vườn sau trông thấy một người đang lộn đất vườn, bèn hỏi: “Ông Án đi đâu có biết không?”. Cụ giả nhời rằng, ông án đi vắng từ hôm qua. Viên võ quan cao cấp này dặn rằng: khi nào ông Án về thì nói rằng có ông quan Năm về tìm quan lớn để bổ chức Tổng đốc Sơn Tây. Viên quan đó nói dứt rồi quay về tỉnh. Rốt cục, cụ không ra làm quan mà chỉ dậy học và làm thuốc lúc tuổi già.
Sau đây là những bài thơ cụ viết trong khi cụ làm quan và gặp hồi nước loạn. Thơ cụ là cả nỗi lòng tha thiết, rất trung thực với nước với nhà, một tấm lòng trong sáng như gương, đúng như 4 chữ “Thiên nhật thần tâm” mà sinh thời cụ đè nơi dậy học. Thơ văn của cụ khá nhiều nhưng thất lạc hầu hết. Nay chỉ cón lại 11 bài Đường luật”.
Bài 1
Quý Mùi niên hòa ước thành, cảm tác
Hòa điều thập nhị, cưỡng thân an,
Hàm lệ quân vương bất nhẫn khan.
Khước hận Nam bang vô Nhạc Vũ,
Khả lân Tống thế hữu Tần gian!
Kim ngân, thổ địa thâu ứng dị,
Phụ tư, quân thần khủ dã man.
Ký ngữ trung châu minh đạo giả
Dị đoan tịch hậu, cánh đa đoan.
Dịch nghĩa:
Hòa ước năm Quý Mùi (1883)(2) xong, cảm xúc làm.
Hòa ước 12 điều, miễn cưỡng cầu lấy cái yên ổn nhất thời.
Nhà vua nuốt nước mắt, không nỡ xem.
Chỉ giận nước Nam không có ong Vũ Mục(3)
Đáng thương đời Tống có tên gian thần Tần Cối(4)
Vàng bạc đất cát, vứt đi còn dễ,
Nghĩa vua tôi, cha con khó lòng bỏ được.
Xin gửi tới những người hiểu biết ở trung châu:
Dị đoan trừ xong, lại còn nhiều mối họa khác!
Dịch thơ:
Mười hai điều nhục, gượng cầu hòa,
Nuốt lệ, nào vua nỡ ngó qua.
Chỉ giận trời Nam không Nhạc tướng,
Đáng thương đời Tống có Tần ma.
Bạc vàng, đất cát buông còn dễ
Tôi, chúa, cha con dứt được a!
Nhắn nhủ trung châu ai rõ đạo
Trừ xong mối rối, rối thêm ra!
Bài 2
Ất Dậu niên phụng chỉ lai kinh,
đồ trong văn biến cảm tác
Quốc phá gia vong ngã độc tồn,
Gian nan khổ hận hướng thùy luân?
Giang sơn vị sái anh hùng lệ,
Phong vũ nan tiêu tráng sĩ hồn.
Bình lĩnh sầu chiêm vân ảm đạm,
Dịch đình túy đảo nhật hoàng hôn
Ân cần thân hữu tương kỳ xứ
Khả tích thốn giao thiên tượng hồn.
Dịch nghĩa:
Năm Ất Dậu (1885) phụng chỉ vào kinh,
trên đường đi nghe tin biến(5) cảm tác
Nước tan, nhà mất, một mình ta còn,
Nỗi gian nan đau khổ căm giận này biết bàn bạc cùng ai?
Sông núi cần có nước mắt anh hùng nhỏ,
Gió mưa khó tiêu tan được hồn tráng sĩ.
Buồn trông mây núi Ngự Bình màu nhàn nhạt,
Ở trạm nghỉ dọc đường say đảo mặt trời lúc chập choạng tối.
Về điều bạn thân ân cần trông cậy nhau,
Thì đáng tiếc là một tấc keo không dủ làm trong nghìn trượng nước đục!
Dịch thơ:
Nước nhà tan tác một ta còn,
Bàn bạc cùng ai nỗi héo hon?
Sông núi: anh hùng cần nhỏ lệ,
Gió mưa: tráng sĩ khó tiêu hồn.
Buồn trông đỉnh Ngự mây buông nhạt,
Say đảo đình quan bóng tối dồn.
Mong mỏi bạn thân tha thiết lắm,
Tấc trong đáng tiếc, đục ngàn muôn!
Bài 3
Tự Đức Mậu Dần hữu quân thứ chi mệnh,
lưu giản kinh trung liên hữu thi nhất thủ.
Mệnh hạ văn kê kiếm tiện ma,
Bất tu bôi tửu xướng ly ca.
Quân thần bằng hữu cương thường trọng,
Lang miếu biên thùy phận sự đa.
Đạn phục vị năng tiêu xã thử,
Tẩy binh cô thí vãn thiên hà.
Phỉ cung đồng thị vương thần nghĩa,
Hữu nhật triều thiên cảm oán ta.
Dịch nghĩa:
Năm Mậu Dần (1878) triều Tự Đức có lệnh đi quân thứ. Có bài thưo gửi lại các bạn đồng liêu trong kinh.
Lệnh ban từ lúc gà gáy kiếm mài ngay,
Hát khúc li ca(6) chẳng cần đến chén rượu.
Coi trọng mối cương thường vua tôi, bè bạn,
Phận sự còn nhiều ở nơi biên thùy, lang miếu.
Rình rập bắn chưa trừ được lũ chuột ở nền xã tắc,
Hãy thử kéo thiên hà để rửa binh khí(7).
Thân này cùng với nghĩa vua tôi,
Có ngày trở lại chầu cung khuyết, có dám oán thán đâu!
Dịch thơ
Lệnh ban gà gáy tuốt gươm mài,
Hát khúc ly ca, chẳng rượu mời.
Bè bạn vua tôi coi nặng mối
Cõi bờ, lang miếu gánh chung vai
Dẹp loài chuột xã, chưa trừ sạch
Rửa giáo sông trời, đợi thử coi
Cùng dạ bề tôi lo trọng nghĩa
Sân rồng có dịp… oán kêu ai!
Bài 4
Canh Dần nguyên tiêu liên dạ cảm tác
Thâm dạ nguyên tiêu vũ tái đồ,
Sầu lai độc tọa chước đồ tô.
Thương tâm phong hỏa thiên dư lý,
Cực mục quan san lục xích cô.
Thượng hữu cương thường xanh vũ trụ,
Khẳng cam tu phát lão giang hồ.
Doan môn trĩ tử tri niên hỉ
Mạc giải kim ngô thị cố ngô.
Dịch nghĩa
Cảm tác liền mấy đêm dịp nguyên tiêu năm Canh Dần (1890)
Đêm nguyên tiêu về khuya mưa tầm tã,
Nỗi sầu ập đến, một mình ngồi rót rượu.
Đau lòng vì lửa giặc cháy hơn nghìn dặm.
Vời trông đức vua (Hàm Nghi) nơi quan san.
May còn có cương thường gìn giữ vũ trụ,
Há cam lòng để râu tóc bạc chốn giang hồ.
Con trẻ đầy nhà chỉ biết mừng năm mới,
Chẳng giải được nỗi lòng ta hôm nay vẫn là cái ta xưa cũ thôi!
Dịch thơ(8):
Nguyên tiêu khuya đổ trận mưa sa,
Tựa án sầu dâng cất chén khà.
Lửa giặc đau lòng nghìn dặm tỏa,
Kiệu rồng một bóng tít trời xa.
Mối giường vũ trụ chèo còn đó,
Râu tóc giang hồ chịu bạc a?
Con cháu đầy nhà mừng chúc thọ,
Ta nay, ta cũ… khác chi mà!
Vũ Trung 3-1-1998
Chú thích
1. Cụ Nguyễn Công Chuẩn nhân sĩ yêu nước, quê làng Động Trung (nay là Vũ Trung) huyện Kiến Xương, Thái Bình. Thân phụ là Nguyễn Hữu Phu tham gia phong trào Cần vương cùng chiến đấu với Đô đốc Tạ Hiện. Cụ Phu là thân gia với Án sát Nguyễn Ngọc Tương. Cụ Chuẩn là tham gia với em cụ án Tương là Nguyễn Ngọc Lan.
Cụ Chuẩn và cụ Lan cùng tham gia tân trào đầu thế kỷ. Năm 1913 trong trận đánh vào dinh Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân, cụ Lan hy sinh.
2. Giặc Pháp đánh Thuận An, bức triều đình Huế ký hàng ước ngày 25-8-1883 (Quý Mùi) tức điều ước Ácmăng (Harmand) 12 điều khoản.
3. Vũ Mục tức Nhạc Phi danh tướng đời Tống, từng lập nhiều đại công, bị gian thần là tể tướng Tần Cối giết hại.
4. Chỉ biến cố đêm 22 rạng 23 tháng 5 Ất Dậu (đêm 4 rạng 5 tháng 7 năm 1995) Tôn Thất Thuyết chủ động tấn công đồn Mang Cá (Huế) bị thất lợi, phải đem vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống chiếu Cần vương kêu gọi toàn dân kháng chiến chống giặc Pháp.
5. Xuất xứ từ câu: Ly cân tại lộ, bộc phu chỉnh giá (ngựa ly câu ở trên đường, người đầy tớ sửa soạn xe). Tác giả dùng thoát ý: hát khúc ly ca rất hay.
6. Lấy ý tứ câu thơ Đỗ Phủ. Ý nói: ước gì kéo Thiên hà xuống để rửa giáp binh. Ý mong cho hòa bình sau trận binh đao, nhờ có tráng sĩ kéo Thiên hà.
7. Trong 11 bài thơ của Án sát Nguyễn Ngọc Tương, chúng tôi chọn dịch và giới thiệu 4 bài trên.
Dịch thơ: cụ Phương Châu Đoàn Ngọc Phan (Hải Hậu – Nam Định). Biên tập, chú thích và dịch nghĩa: Nguyễn Tiến Đoàn.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.106-116)