VI | EN
14 . Sự chuyển dịch của châu bản triều Nguyễn từ năm 1942-1992 (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

SỰ CHUYỂN DỊCH CỦA CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN

TỪ NĂM 1942-1992

HẢI ĐƯỜNG

Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM

Theo quy định của triều Minh Mệnh (1820-1840) và Thiệu Trị (1841-1847) thì châu bản chỉ được lưu giữ ở những nơi sau đây: Đông các điện, Tả vũ Cần chánh điện, Lục Bộ và Tàng thư lâu. Cũng theo quy định này thì các cơ quan như Nội các, Lục bộ, Cơ mật viện có chức năng lưu giữ như sau: Nội các chỉ cất giữ các tinh bản chiếu, dụ đã niêm yết tại Phú Văn lâu, các công văn nội bộ (Phiến, phiến lục, phiếu nghĩ, thảo chiếu, dụ), các phó bản chương sớ, các bản cung lục mà Lục bộ đã sao nạp tồn chiếu, giấy tờ riêng của văn phòng Nội các (Biên bản đóng bửu, biên bản thâu nhận văn bản các nơi gửi về, văn bản gởi đi các nơi). Lục Bộ lưu giữ các châu bản phê phụng (không có châu bút) liên quan tới bộ mình đảm trách, bản cung lục của các nơi sao gởi lưu chiếu sau khi đã nhận được châu bản hoặc Lục Bộ tự sao để lưu chiếu sau khi đã gởi châu bản đi khắp nơi. Cơ mật viện lưu giữ các văn bản bí mật về quân sự và đối thoại, văn thư ngoại giao, các đồ bản, sớ tấu của Thái y viện dâng tiến ngự dược. Nội các và Cơ mật viện đặt văn phòng tại Tả vũ Cần chánh điện, sau này văn phòng Cơ mật viện di dời ra ngoài để tiện hội thương với Pháp.

Thế nhưng căn cứ vào các bằng chứng đáng tin cậy của năm 1942 cho thấy đa phần châu bản lại được lưu giữ tại Quốc Sử quán, các bằng chứng này là:

1/ Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Etudes Indochinoise) với bài “Mục lục triển lãm về lịch sử Nam Kỳ”, tổ chức tại Sài Gòn, đã có công bố 25 văn bản gốc (Original) nói rằng lấy từ Quốc Sử quán.

2/ Paul Boudet Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương với bài “Tài liệu lưu trữ của Hoàng triều An Nam và lịch sử An Nam” đã khẳng định đa phần châu bản đang được lưu trữ tại Quốc Sử quán như sau: “Nội các hiện nay là một kho chứa chính của triều đình tàng trữ nhiều loại như: Các điều ước ký kết với vua An Nam, quốc thư bang giao với nước ngoài, thi thư ngự chế, đồ bản, các văn bản hành chánh có châu phê gọi là châu bản dùng biên soạn thực lục, sách Hán Nôm, điện thí quyển. Tàng thư lâu thì giữ các quyển thuế bạ thời trước”. Ngoài ra P.Boudet còn vận động ráo riết cho việc công khai hóa châu bản.

3/ Cũng nhờ P.Boudet vận động rất nhiều cho việc công khai hóa châu bản nên ngay sau đó ông Tổng lý Ngự tiền văn phòng Trần Văn Lý dâng phiến trình nói rõ tình trạng của châu bản hiện nay và đề nghị được xem tất cả “Văn tịch” trong Nội các ra Viện Văn hóa, đồng thời xin lập Hội đồng chỉnh đốn khối văn tịch này. Phiến trình được vua Bảo Đại chuẩn y. Hội đồng chỉnh đốn cũng được thành lập gồm chủ tọa Ngô Đình Nhu, các hội viên Nguyễn Đình Ngân Thị lang Bộ Giáo dục, Trần Trinh Cấp Ngự tiền văn phòng, Trần Thước Đốc học Bộ Giáo dục, Phạm Đức Hoàng kiểm sự viện Văn hóa, thơ ký Lê Văn Hoàng kiểm sự ngự tiền văn phòng. Vậy công việc chính của Hội đồng chỉnh đốn này là gì? Theo Trần Kinh Hòa chuyên viên Viện Yên Kinh đại học Harvard trong bài “Giới thiệu châu bản triều Nguyễn” năm 1960 nói rõ “Sau lễ tế Xuân – Thu tháng 2/1942 hội đồng chỉnh đốn chính thức làm việc, kiểm điểm châu bản, phân loại châu bản theo từng triều, mỗi triều theo thứ tự năm tháng. Hai triều Gia Long và Minh Mệnh giữ nguyên tên gọi, từ Thiệu Trị trở về sau, mỗi triều phân loại theo năm và mỗi năm chia làm 11 bộ môn. Rồi đóng châu bản thành từng tập, làm nhãn tiêu đề. Sau hai năm làm việc, Hội đồng chỉnh đốn đã hoàn tất 3 bản sách thủ (Inventaire) bằng Hán ngữ và Việt ngữ, trong đó 1 bản để ngự lãm, 1 bản lưu, 1 bản gởi viện Văn hóa. Trong sách thủ cũng chia từng loại như châu bản, hòa ước, quốc thư, sách, điện thí quyển và mục linh tinh. Sau đó hội đồng cung thỉnh Khâm Thiên giám chọn ngày đưa châu bản ra viện Văn hóa. Tất cả châu bản và hòa ước được cất giữ trên kệ mới đóng, rất trật tự”.

Vậy là với lần đầu chỉnh đốn châu bản từ 1942-1944 này, dấu tích còn lại trên châu bản được xác định như sau: Trên tờ bìa mỏng của mỗi tập châu bản còn mang dấu “Hoàng triều châu bản” ghi số thứ tự mỗi tập. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là: Tổng số tập châu bản đã chỉnh đốn là bao nhiêu, có bao gồm đa phần châu bản được lưu giữ ở Quốc sử quán như P.Boudet đã khẳng định hay không? Tiếp theo thời kỳ 1942-1944 là những biến cố to lớn của quốc gia 1945-1947m 1954. Năm 1955, ông Bùi Quang Tung đại diện Viễn Đông bác cổ đã đến viện Văn hóa xem xét thực trạng châu bản, ông cho biết “Châu bản hiện còn một phần đáng kề nhưng năm còn, năm mất, nhiều năm bị đứt đoạn. Châu bản đặt bừa bãi trên ván gác tạm trong nhà kho hư dột. Chánh quyền lúc đó đang thỏa thuận với Viễn Đông bác cổ chụp vi phim số châu bản này nhưng năm 1945 Bảo Đại bị đổ, kế hoạch không được thực thi”. Như vậy là từ 1944-1955 châu bản triều Nguyễn bị thất lạc và hư hoại rất nhiều. Năm 1959 được sự tài trợ của Viện Yên Kinh đại học Harvard, Viện đại học Huế thành lập Uỷ ban phiên dịch sử liệu do Trần Kinh Hoà chuyên viên Viện Yên Kinh làm tổng thư ký. Tháng 7 -1959 Uỷ ban này tiếp nhận toàn bộ châu bản và các văn kiện triều Nguyễn để lập mục lục phân tích. Kết quả thống kê cho biết tổng số châu bản hiện còn là 611 tập (40 tập bị hư hoàn toàn, 26 tập hư một phần). Căn cứ kết quả thống kê của Uỷ ban phiên dịch sử liệu lần này, có một chi tiết đáng chú ý mà từ chi tiết này ta có thể xác định được tổng số tập châu bản do Hội đồng chỉnh đốn 1942-1944 hoàn tất là bằng tập số 4 của triều Khải Định có số thứ tự 3.171, có thể xác định chắc chắn rằng tổng số tập châu bản của đợt chỉnh đốn 1942-1944 là 3.171 tập. Ta hãy so sánh số tập châu bản của năm 1959 với ănm 1942 như sau:

- Triều Gia Long: Năm 1942 có 5 tập, 1959 còn 5 tập.

- Triều Minh Mệnh: Năm 1942 có 253 tập, 1959 còn 83 tập, thất lạc 196 tập.

- Triều Thiệu Trị: Năm 1942 có 255 tập, 1959 còn 51 tập, thất lạc 211 tập.

- Triều Tự Đức: Năm 1942 có 1.938 tập, 1959 còn 352 tập, thất lạc 1.610 tập.

- Triều Kiến Phúc và Đồng Khánh: Năm 1942 có 163 tập, 1959 còn 5 tập, thất lạc 158 tập.

- Triều Thành Thái: Năm 1942 có 430 tập, 1959 còn 74 tập, thất lạc 357 tập.

- Triều Duy Tân: Năm 1942 có 63 tập, 1959 còn 35 tập, thất lạc 29 tập.

- Triều Khải Định: Năm 1942 có 634 tập, 1959 còn 4 tập, thất lạc 60 tập.

Vậy là Trần Kinh Hòa căn cứ trên tổng số châu bản đã thống kê 1942-1944 của Hội đồng chỉnh đốn do Ngô Đình Nhu làm chủ tọa là 3.171 tập (chưa kể đương triều Bảo Đại) và Trần Kinh Hòa đã kết luận: Số châu bản hiện còn 611 tập chưa bằng 1/5 của 3.171 tập năm 1942-1944. Cũng có thể ghi nhận một cách chắc chắn rằng con dố 3.171 tập này còn chưa bao gồm đa phần số châu bản ở Quốc Sử quán như P.Boudet đã nói tới, đa phần này chưa được Hội đồng chỉnh đốn thống kê năm 1942-1944, bởi lẽ lúc này là đương triều Bảo Đại. Nếu tính cả số châu bản đã thống kê năm 1942-1944 là 3.171 tập với đa phần còn ở Quốc Sử quán thì thật sự số châu bản là rất lớn và con số Trần Kinh Hòa thống kê năm 1959 là 611 tập chưa bằng 1/10 số châu bản mà nó vốn có. Dấu tích do Uỷ ban phiên dịch sử liệu thống kê năm 1959 còn để lại trên từng tập châu bản như sau: Mỗi tập được đóng trên bìa cứng, đối chiếu chỉnh đốn ký hiệu, ghi số trang làm thẻ phân tích cho từng văn bản. Do châu bản bị khuyết nhiều nên Trần Kinh Hòa cho sắp xếp lại toàn bộ châu bản theo thời gian, điều này dẫn đến thực trạng 11 bộ môn (phương án Ngô Đình Nhu) bị xé lẻ, ngày tháng bị đảo lộn… Và công việc của Uỷ ban phiên dịch sử liệu đang dang dở thì cuối năm 1959, Nha Văn Khố và Thư viện Quốc gia được thành lập và có lệnh chuyển giao toàn bộ châu bản cho Nha này lưu giữ.

Năm 1961, Chi nhánh Văn Khố Dalat đã tiếp nhận toàn bộ châu bản. Viện đại học Huế được phép mượn lại một số châu bản để tái tục làm việc, một số châu bản được đưa về hội Việt - Mỹ ở Sài Gòn để chụp vi phim.. và hậu quả là từ 1962-1968 Nha Văn hóa Sài Gòn làm mất thêm 2 tập Minh Mệnh 55 và 56, Viện đại học Huế làm mất 1 tập.

Tháng 3/1975 châu bản được di dời gấp về Sài Gòn giao cho Sở Lưu trữ - Nha Văn khố - Thư viện Quốc gia lưu giữ: 602 tập đóng bìa, một số bó châu bản rời, một số vẫn còn lại Dalat. Năm 1978 Thư viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh trao cho Kho Lưu trữ Trung ương II tại thành phố Hồ Chí Minh 1 tập châu bản Minh Mệnh 21 có mang dấu “Hoàng triều châu bản” số thứ tự 247. Như vậy năm 1975 châu bản hiện còn 602 tập gồm: Triều Gia Long 5 tập, Minh Mệnh 81 tập, Thiệu Trị 51 tập, Tự Đức 345 tập, Kiến Phúc 1 tập, Đồng Khánh 4 tập, Thành Thái 74 tập, Duy Tân 35 tập, Khải Định 4 tập, Bảo Đại 2 tập. Số tập hư hoại 74, số tập thất lạc 9. Số châu bản rời (chưa đóng tập) 120 bó, 34 tập bằng quốc ngữ của triều Bảo Đại.

Năm 1978, tổ Hán – Nôm của Kho Lưu trữ Trung ương II (nay là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thống kê châu bản rời bằng cách kê khai tuần tự văn bản của từng bó, bất kể các văn bản thuộc bộ môn nào.

Năm 1980 thống kê châu bản đóng tập, chú ý đến ấn - kiềm, niên hiệu ghi ở phần đầu hay phần cuối văn bản, để tìm hiểu thể thức văn bản của châu bản.

Từ năm 1980-1991 tiếp tục thống kê các triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, nghiên cứu quá trình hình thành châu bản, thể thức châu bản, loại dạng châu bản, bửu - ấn - kiềm – ký – quan phòng, văn tự thông dụng trong châu bản… với quá trình tìm hiểu nghiên cứu nghiêm túc và đầy khó khăn này, chúng tôi đã hiểu toàn bộ châu bản triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc.

Nói tóm lại, từ 1975-1991 di sản văn hóa triều Nguyễn (1802-1945) để lại gồm: Sách ngự lãm tức sách Hán – Nôm, hơn 40.000 mộc bản, hơn 10.000 địa bộ, 602 tập châu bản, 130 bó châu bản rời… được lưu giữ tại Kho Lưu trữ Trung ương II tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã được chúng tôi trực tiếp thống kê, tìm hiểu và nghiên cứu một cách nghiêm túc, toàn diện. Kết quả đạt được hiện còn lưu giữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II là:

1. Bản viết tay thống kê sách Hán – Nôm.

2. Bản viết tay thống kê hoàn chỉnh hơn 10.000 địa bộ Bắc – Trung – Nam thời Đại Nam (Hải Đường thực hiện).

3. Bản viết tay thống kê châu bản các triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và châu bản rời.

4. Đặc biệt bản viết tay phiên âm, dịch nghĩa tập châu bản có tựa đề “Hội thương” giữa Phụ chánh - Đại thần An Nam với Công sứ Pháp (do cụ Đẩu Nam Hoàng Văn Suất đọc dịch và Hải Đường ghi chép)…

Từ năm 1992 khối di sản châu bản, địa bộ, sách Hán-Nôm được chuyển ra Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I - Cục Lưu trữ Nhà nước ở Hà Nội. Đây là những tư liệu khoa học có giá trị, sẽ giúp ích nhiều cho các nhà nghiên cứu, độc giả quan tâm tới văn hóa cổ, lịch sử triều Nguyễn trong cả nước.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.114-120)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm