15.Bước đầu khảo sát tư liệu Hán Nôm trên địa bàn Quảng Bình (TBHNH 2002)
Thứ Ba, 03/04/2007 22:38
TBHNH2002
LÊ DUY ĐỒNGBan Quản lý DT Quảng Bình Quảng Bình là một tỉnh thuộc Bắc trung bộ, Bắc giáp dãy núi Hoành Sơn. Nam giáp tỉnh Quảng Trị, Đông giáp biển Đông, Tây giáp dãy núi Trường Sơn. Tuy đất không rộng, người không đông song Quảng Bình có bề dày văn hiến lâu đời. Trong nhiều thế kỷ Quảng Bình là vùng đất phên dậu phía nam của đất nước, là điểm hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hoá, là vùng đất có truyền thống Nho học lâu đời. Việc nghiên cứu sự xuất hiện của Nho học ở Quảng Bình cần phải có thời gian, nhưng qua những tài liệu Hán Nôm còn để lại thì vào thế kỷ XIII (1256) đời Trần Thái Tông Quảng Bình đã có người thi đỗ Trạng nguyên. Như vậy thì nền Nho học ở Quảng Bình phải có từ trước đó, sau này phát triển sâu rộng trong nhân dân, những vùng đất học nổi tiếng đến nay vẫn còn được ca ngợi: Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim(1) Là mảnh đất không được thiên nhiên ưu đãi nhưng chính từ sự khắc nghiệt của vùng đất “gió Lào cát trắng” đã sản sinh ra những người con ưu tú. Tính trong khoảng thời gian từ năm 1075-1919 với chế độ khoa cử trước đây ở nước ta, vùng đất Quảng Bình đã cung cấp 49 vị trí thức cao cấp cho chế độ phong kiến(2), trong đó có 27 vị Tiến sĩ, 19 vị Phó bảng, 3 vị Hoàng giáp, nhiều người trong số họ về sau đã trở thành những danh nhân nổi tiếng như: Dương Văn An, Huỳnh Côn, Nguyễn Hàm Ninh... Hiện nay các văn bản Hán Nôm được lưu giữ tại Quảng Bình là rất nhiều, nhưng do thời gian và khả năng có hạn nên trong bản tham luận này chúng tôi chỉ bước đầu khảo sát tư liệu Hán Nôm qua một số di tích đã được công nhận và giới thiệu một văn bản Hán Nôm mới được phát hiện tại Quảng Bình. I – Các loại văn bản Hán Nôm hiện có tại các di tích đã được công nhận ở Quảng Bình: Trong số các di tích đã được công nhận tại Quảng Bình, số lượng di tích có tồn tại chữ Hán chiếm số đông, chủ yếu tập trung vào các loại hình di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật như: Đình, chùa, lăng, mộ, miếu thờ... với rất nhiều chủng loại. Dưới đây căn cứ vào chất liệu văn bản chúng tôi chia ra: 1. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên giấy, có các loại: sắc phong, gia phả 2. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên đá gồm: bia văn chỉ, bia công đức... 3. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên gỗ gồm: hoành phi, câu đối, thượng lương, trụ đình, cột chùa... 4. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên chất liệu đồng có: chuông đồng. 5. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên chất liệu vải có: hoành phi, câu đối, trướng... 6. Những văn bản Hán Nôm được thể hiện trên chất liệu gốm: bát hương, bình, lọ.Những văn bản này hiện nay được lưu giữ và bảo quản chủ yếu là ở các tư gia, các đình, chùa, đền, miếu... tại các làng. II. Một số văn bản Hán Nôm mới được phát hiện: Có thể nói các văn bản Hán Nôm hiện còn ở Quảng Bình là rất nhiều, trong số đó có một số hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp tỉnh, số còn lại được giữ gìn ở các đình, chùa, làng, xã, nhà thờ họ...nên chúng tôi chưa có điều kiện sưu tầm và giới thiệu hết. Vừa qua, trong công tác sưu tầm và nghiên cứu tư liệu lập hồ sơ di tích chúng tôi có phát hiện được một văn bia khắc đá ở thôn Hoà Luật, xã Cam Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ có tựa đề là “Tứ triều Nguyên Lão” và một đạo sắc phong ở chùa Đức Phổ, xã Đức Ninh, thị xã Đồng Hới. Do vừa được phát hiện, thời gian quá ngắn nên bài văn bia khắc đá chưa kịp biên dịch. Vì vậy trong hội nghị này chúng tôi chỉ xin giới thiệu đạo sắc phong ở chùa Đức Phổ, xã Đức Ninh, thị xã Đồng Hới. Đây là một đạo sắc phong của vua Khải Định cho các ông Trần Văn Trạch, Trần Văn Sính, Trần Văn Ưng được phong làm Dực Bảo Trung Linh Phò Tôn Thần, được nhân dân thờ phụng tại chùa Đức Phổ, xã Đức Ninh, thị xã Đồng Hới. Nội dung sắc phong:Phiên âm: Sắc Quảng Bình tỉnh, Quảng Ninh phủ, Đức Phổ xã phụng sự Khai canh Trần Văn Trạch, Trần Văn Sính, Trần Văn Ưng tam vị đại lang chi thần nẫm trứ linh ứng tứ kim phi thừa cảnh mệnh miến niệm thần hưu tứ phong vi Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần hưu kỳ sự phụng thứ cơ thần kỳ tương hữu bảo ngã lê dân khâm tai.Khải Định nhị niên tam nguyệt thập bát nhật.Dịch nghĩa: Sắc cho xã Đức Phổ, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình phụng thờ ba vị đại lang khai khẩn đất hoang là Trần Văn Trạch, Trần Văn Sính, Trần Văn Ưng có nhiều linh ứng. Nay kính thừa mệnh lớn tưởng niệm thần hưu, phong cho các vị ấy làm Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần được nhân dân thờ phụng, ngõ hầu để các vị ấy cùng với ta bảo hộ cho nhân dân vậy. Kính thay! Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2. Bản dịch: Nguyễn Mậu Trương – Lê Duy Đồng Đạo sắc phong trên do nhà vua phong cho các vị có công khai khẩn đất hoang, mở mang vùng canh tác. III Những hạn chế trong việc sưu tầm, khai thác các văn bản Hán Nôm ở Quảng Bình Hiện nay ở Quảng Bình các văn bản Hán Nôm còn được lưu giữ rất nhiều, nhưng việc sưu tầm, khai thác để phục vụ cho công việc chuyên môn và nghiên cứu lịch sử còn hạn chế. Sở dĩ có tình trạng này là vì những người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm ở địa phương còn gặp không ít khó khăn, xin đơn cử: Trước hết là kiến thức của anh chị em về chuyên ngành này còn hạn chế, không có điều kiện gần thầy giỏi để học hỏi thêm. Hai là lực lượng cán bộ chuyên ngành Hán Nôm ở địa phương rất mỏng, họ không có điều kiện và thời gian trau dồi kiến thức. Ba là các cơ quan hữu quan ở tỉnh chưa chú ý tới việc khai thác các văn bản Hán Nôm để phục vụ công tác hiện tại; việc bảo quản tư liệu Hán Nôm và đào tạo cán bộ Hán Nôm còn chưa được chú ý. Với những khó khăn và hạn chế trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng: Để khai thác và nghiên cứu các di sản Hán Nôm của tỉnh nhà được phát triển, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh nên có kế hoạch kết hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiến hành một cuộc tổng kiểm kê, sưu tầm, phân loại và dịch tất cả các văn bản Hán Nôm hiện có trong tỉnh và phối hợp với Viện mở lớp bổ túc Hán Nôm cho những người có nhu cầu học để từ đó tạo ra một đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm đông đảo về số lượng cũng như về chất lượng.Chú thích: Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.149-153
|