VI | EN
15. Bước đầu tìm hiểu về danh y Cung Đình Hiền và ảnh hưởng của ông đối với y học Việt Nam (TBHNH 2005)
TBHNH2005

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ DANH Y CUNG ĐÌNH HIỀN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ÔNG ĐỐI VỚI Y HỌC VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Y học của Trung Quốc xuất hiện khá sớm, nổi tiếng với các danh y Biển Thước, Hoa Đà, Cảnh Nhạc... Nền y học vĩ đại này ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Nền y học bác học Việt Nam khởi nguồn từ Trung Quốc đã xuất hiện từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất và nó chỉ mất vai trò thống lĩnh vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp thực hiện hàng loạt chính sách về giáo dục và y tế cộng đồng tại Việt Nam.

Trong quãng thời gian đó, nền y học Việt Nam tiếp thu những kinh điển giá trị của nước láng giềng phương Bắc và không ngừng hoàn thiện, làm phong phú thêm lên bằng chính những kinh nghiệm thực tế áp dụng vào hoàn cảnh con người, khí hậu Việt Nam. Ngoài những tác phẩm y học kinh điển như Nội kinh (theo truyền thuyết của Hoàng Đế tức Hiên Viên cùng các bầy tôi soạn ra), Nạn kinh của Biển Thước (khoảng thế kỷ V trước CN), Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược của Trương Trọng Cảnh (thời Đông Hán, thế kỷ II, III), Đan Khê tâm pháp của Chu Chấn Hanh (1281-1358), Cảnh Nhạc toàn thư của Trương Giới Tân (khoảng 1563-1640) Y học nhập môn của Lý Đĩnh (thế kỷ XVI), Phùng thị cẩm nang của Phùng Triệu Trương (thế kỷ XVII) được nhiều người biết đến, chúng tôi còn thấy một số danh y cũng có ấn phẩm được lưu truyền tại Việt Nam như Trần Tu Viên, Cung Đình Hiền... Trong Hội nghị thông báo Hán Nôm năm 2005 này, chúng tôi xin giới thiệu vài nét về tác giả Cung Đình Hiền và ảnh hưởng của ông đối với y học Việt Nam.

1. Đôi nét về thân thế sự nghiệp của Cung Đình Hiền

Cung Đình Hiền 龔 廷 賢 sống vào đời Minh (1368-1644), các từ điển Trung y có viết về ông nhưng đều không ghi rõ năm sinh và năm mất(1). Trong Trung y danh nhân từ điển(2) có ghi rằng ông thọ 93 tuổi. Cung Đình Hiền tự Tử Tài 子 才, hiệu Vân Lâm 雲 林 (biệt hiệu Ngộ Chân tử 悟 真 子), người làng Hạ Tư 下 澌, huyện Kim Khê 金 溪 (Giang Tây 江 西). Cha Cung Đình Hiền là Cung Tín từng làm quan trong Thái y viện. Kế thừa nghiệp gia đình, Cung Đình Hiền chuyên tâm vào y thuật, khảo cứu kỹ lưỡng y thư các đời, từ “Nội kinh”, “Nạn kinh” trở đi, không kinh điển nào không tìm tòi kỹ lưỡng. Thêm vào đó, ông cũng chịu khó học hỏi các danh y nên dần dần trở nên tinh thông y lý. Vì chữa được bệnh nan y cho Lỗ Vương phi - mà các thái y bấy giờ đã chịu bó tay, nên Cung Đình Hiền được tiến cử làm Thái y viện lại mục(3), được ban biển ngạch Y lâm trạng nguyên 醫 林 狀 元 và còn được vẽ chân dung để thờ. Về điều trị, Cung Đình Hiền “tuân cổ” nhưng không câu nệ. Chính vì vậy mà ông đã chữa bệnh được cho nhiều người và tên tuổi ông trở nên nổi tiếng trong vùng. Trước tác của ông cũng hết sức phong phú, nội dung liên quan đến nhiều mảng như: chẩn đoán, nội, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, bản thảo. Đọc rộng, tham khảo nhiều nên ông đã biết chiết trung các thuyết và soạn ra nhiều bộ sách như:

- Dược tính ca quát tứ bách vị 藥 性 括 四 百 味

- Dược tính ca (một quyển)

- Chủng hạnh tiên phương 種 杏 仙 方 (1581)

- Vạn bệnh hồi xuân 萬 病 回 春 (1587, tám quyển)

- Vân lâm thần cốc 雲 林 神 (1591)

- Phúc minh nhãn phương ngoại khoa thần nghiệm toàn thư 复 明 眼 方 外 科 神 驗 全 書 (1591).

- Lỗ phủ cấm phương 魯 府 禁 方 (1594, bốn quyển)

- Tiểu nhi thôi nã bí chỉ 小 兒 推 拿 秘 旨 (1604)

- Thọ thế bảo nguyên 壽 世 保 元(1615, mười quyển)

- Tân san Vân lâm trạng nguyên tế thế toàn thư 新 刊 云林 狀 元 祭 世 全 書(1616, tám quyển).

- Y học nhập môn vạn bệnh hành yếu 醫 學 入 門 萬 病 衡 要(1655, sáu quyển).

Ông còn kế thừa phụ thân, tục biên cuốn Cổ kim y giám (古 金 醫 監, 1589). Ngoài ra, Cung Đình Hiền còn có một vài tác phẩm khác nữa nhưng đã bị thất lạc(4).

2. Danh y Cung Đình Hiền với các học thuyết đời Minh và nền y học cổ truyền của Trung Quốc

Đời Minh (1368-1644) giai đoạn mà nền kinh tế, văn hóa Trung Quốc có những bước phát triển đáng kể, và cùng với nó là sự nở rộ của ngành y học với một sự chuyên sâu ngày càng rộng và sự đa dạng chưa từng có. Nhà nghiên cứu Lý Kinh Vỹ đã khái quát sự phát triển của y học đời Minh bằng cụm từ: “danh y bối xuất, y phái lâm lập” (Các danh y kế nhau xuất hiện, các học phái phong phú tựa rừng). Thực vậy, nền y học Trung Quốc, với nền tảng tạo dựng từ đời Đường, đời Tống, trải qua các triều đại Kim, Nguyên, đến đời Minh trong bối cảnh nền kinh tế xã hội thời kỳ đầu khá ổn định, sau trải qua nhiều đợt bệnh dịch hoành hành, lại càng có điều kiện phát triển. Điều này thể hiện qua lượng tác phẩm y học khổng lồ về bách khoa cũng như chuyên thư, với những nhà y dược trứ danh như Tiết Kỷ, Lý Thời Trân... cũng như sự xuất hiện của một số học thuyết như học thuyết về Mệnh môn, học thuyết về Ôn -Bổ... Góp phần làm nên diện mạo nền y học phong phú đời Minh, đương nhiên có chân dung Cung Đình Hiền. Sự thường xuyên học hỏi và trao đổi với các danh y đương thời cho phép ông có được cái nhìn triết chung giữa các học phái để chọn lọc những điều tinh tuý nhất. Thêm nữa, cùng với kinh nghiệm thực tế của bản thân, Cung Đình Hiền thực sự đã có những đóng góp của riêng mình. Ở kinh đô các ngự y bấy giờ quá nệ cổ nên chịu bó tay trước căn bệnh hiểm nghèo. Việc Cung Đình Hiền chữa khỏi bệnh nan y cho Lỗ Vương phi cũng như giúp dân ở phủ Khai Phong thoát khỏi nạn dịch hoành hành cho thấy sự phỏng cổ mà không nệ cổ của ông.

Về nhi khoa, Cung Đình Hiền cũng đã đưa ra những yêu cầu và phương pháp nuôi trẻ một cách khoa học. Ông chỉ ra: trẻ em bốn, năm tháng tuổi chỉ nên cho bú sữa mẹ, sau nửa năm mới nên bắt đầu uống nước cháo loãng; sau mười tháng, có thể cho trẻ ăn cháo hơi đặc (小 兒 生 四 五 箇 月 止 與 乳 吃, 六 箇 月 以 後方 與 稀 粥 哺 之...) (壽 世 保 元) Cung Đình Hiền chú trọng đến đặc điểm sinh lí của trẻ, vì ông cho rằng cách nuôi dưỡng như vậy sẽ giúp ích cho tì vị và giúp trẻ khoẻ mạnh, giảm bớt tật bệnh. Nhận thức này rõ ràng là rất gần gũi với quan điểm nuôi dưỡng trẻ ngày nay.

Tác phẩm Tiểu nhi thôi nã bí chỉ được coi là cuốn chuyên thư khá sớm về phép thôi nã tại Trung Quốc. Những tác phẩm của Cung Đình Hiền lưu truyền nhiều nhất là Thọ thế bảo nguyênVạn bệnh hồi xuân. Không những vậy, tác phẩm của ông còn lưu truyền ở một số nước khác trong khu vực như Việt Nam, Nhật Bản... Cuốn Vạn bệnh hồi xuân xuất hiện ở Nhật Bản từ hồi đầu thế kỷ XVII(5).

3. Những tác phẩm y học của Cung Đình Hiền được lưu hành tại Việt Nam

Hiện nay, theo bước đầu tìm hiểu của chúng tôi, tác phẩm của Cung Đình Hiền được lưu giữ tại Việt Nam bao gồm:

3.1. Tường hiệu Vạn bệnh hồi xuân 詳 校 萬病 回 春ký hiệu VHv.1026 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), 1 bản viét, 148 trang, khổ 29x16cm. Sách gồm Tường hiệu vạn bệnh hồi xuân (dựa vào Vạn bệnh hồi xuân), soạn thành bài ca dược tính, nói về tính chất công dụng các vị thuốc lấy từ cây cỏ, cầm thú đối với sức khoẻ con người. Phần thứ hai Gia truyền lương phươngPhương thang dụng quốc âm với các phương thuốc gia truyền, cách pha chế thuốc và các bài thuốc hay.

Bản gốc Vạn bệnh hồi xuân 萬 病 回 春 của Cung Đình Hiền soạn thảo vào năm niên hiệu Vạn Lịch 15 (1587), gồm tám quyển. Quyển đầu với nhan đề “Vạn kim nhất thống thuật” 萬 金 一 統 述) trình bày về một số vấn đề ký luận cơ bản như mối quan hệ giữa thiên-địa-nhân, âm dương ngũ hành, chức năng tạng phủ, kinh mạch... Quyển hai tới quyển tám là các mục nội, ngoại khoa, nhi khoa, ngũ quan. Cuối sách có phụ thêm phần “Vân Lâm hạ bút” (雲 林 暇 筆), nói về mười điều cốt yếu của y gia và mười điều cốt yếu của bệnh gia. Như vậy có thể thấy bản Tường hiệu Vạn bệnh hồi xuân tại Việt Nam hiện nay chỉ là một phần so với bản gốc.

3.2. Tân san Vân Lâm thần cốc quyển 新 刪 雲林 神彀卷, ký hiệu VHb.127 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Sách gồm 46 tờ viết tay, khổ 20x13cm với các bài thuốc chữa trúng phong, thương hàn, phụ khoa, nhi khoa. Từ tờ thứ 10 trở về sau là nói về tiểu nhi môn, các chứng bệnh và các bài tổng kết dưới hình thức các bài ca.

3.3. Tân san Y lâm trạng nguyên Thọ thế bảo nguyên 新 刊 醫 林 狀 元壽 世 保 元 ký hiệu R.1765 (Thư viện Quốc gia Việt Nam)

Bản gốc tại Trung Quốc có tên Thọ thế bảo nguyên 壽 世 保元, gồm 10 quyển. Quyển đầu giới thiệu những kiến thức lý luận cơ bản chung. Quyển hai tới quyển chín bao gồm các khoa nội, ngoại, phụ khoa, nhi khoa, ngoại khoa. Quyển thứ mười là phương dược và tạp trị.

Tại Việt Nam, bộ sách được khắc in lại với nhan đề Tân san Y lâm trạng nguyên Thọ thế bảo nguyên. Việc đưa thêm vào tên sách danh hiệu Y lâm trạng nguyên (trong biển ngạch mà Cung Đình Hiền được ban tặng trong triều đình nhà Minh, chứng tỏ sự trọng vọng mà người Việt Nam dành cho ông). Theo sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (G.S Françoi Gros, PGS. Trần Nghĩa chủ biên), Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có giữ quyển thứ nhất sách này(6). Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam còn giữ được quyển bảy và quyển tám. Tập sách này được khắc in bởi Lão hội hiền 老 會 贤, tại cơ sở in mang tên Ngũ Vân lâu五 雲 樓 . Tập sách in lại gần như hoàn toàn quyển bảy và quyển tám bộ Thọ thế bảo nguyên (tức là phần Phụ khoa và Nhi khoa).

Như vậy, có thể thấy là y thư của Cung Đình Hiền phần lớn mang tính tổng hợp, liên quan đến nhiều mảng đề tài. Tuy nhiên, dường như ông cũng quan tâm nhiều hơn đối với nhi khoa (điều này thể hiện trong chuyên thư Tiểu nhi thôi nã, cũng như số trang dành cho nhi khoa trong các sách của ông). Bản thân Cung Đình Hiền tự nhận thấy các sách của mình là kết quả của sự tìm tòi học hỏi tinh hoa của y gia các đời (nhự kỳ anh hoa), nhưng trong đó đã bao hàm cả những kinh nghiệm cá nhân và chất chứa những suy tư tâm huyết, có thể coi như tôn chỉ mục đích sống của ông “... mùa xuân chính là kho tàng sự sống của tạo hóa, đối với thiên nhiên là mùa đầu tiên (đứng đầu trong bốn mùa), đối với người là đức nhân (đứng đầu mọi phẩm hạnh). Thiên nhiên đem mùa xuân về làm sống lại vạn vật, khiến những sinh linh lao lực được hồi xuân, để rồi muôn vật được thuận hòa; Bậc quân tử lấy đức nhân để nuôi dưỡng muôn dân, khiến cho những người tật bệnh được hồi xuân, để rồi chúng sinh bước tới đài xuân vực thọ...” (Vạn bệnh hồi xuân tự)(8). Chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu toàn diện về ảnh hưởng những tác phẩm y học của Cung Đình Hiền đối với y học cổ truyền Việt Nam, mà chỉ bước đầu tìm hiểu phần Nhi khoa trong y học cổ truyền Việt Nam, đặc biệt qua Bảo anh lương phương 保 嬰 良方 (Nguyễn Trực) cuốn sách được coi là chuyên thư nhi khoa có niên đại sớm nhất hiện còn tại Việt Nam (thế kỷ XV). Xem xét kỹ lưỡng hai tác phẩm, bước đầu chúng tôi thấy ngoài những căn bệnh được đề cập trong Bảo anh lương phương của Nguyễn Trực có một số mục gần như giống hoàn toàn với tác phẩm y học của Cung Đình Hiền. Chẳng hạn: nhập môn hậu ca (Bảo anh lương phương, Thọ thế bảo nguyên, Vạn bệnh hồi xuân), mạch pháp ca (Bảo anh lương phương, Thọ thế bảo nguyên, Vạn bệnh hồi xuân)... Điều này chứng tỏ mối liên hệ khá mật thiết giữa nền y học Trung Quốc và Việt Nam nói chung cũng như sự ảnh hưởng của những y thư của Cung Đình HIền đối với các tác giả Việt Nam nói riêng. Một điểm rất đáng lưu lý là, nếu như Vạn bệnh hồi xuân, theo như Dominique Hoizey, được truyền vào Nhật Bản từ thế kỷ XVII, thì rất có thể nó đã lưu truyền ở Việt Nam tương đương về thời gian, thậm chí có thể sớm hơn. Thời nhà Lê, nhiều sứ thần Việt Nam được cử đi sứ triều Minh. Trường hợp Nguyễn Trực là một ví dụ.

Còn một số vấn đề khác nữa, chẳng hạn như cơ chế truyền nhập cùng sự tiếp nhận của y học cổ truyền Việt Nam cũng như sự biến ứng của nó cho thích nghi với đặc điểm thể chất cũng như khí hậu Việt Nam như thế nào, chúng tôi hi vọng sẽ được tiếp tục nghiên cứu.

Chú thích:

(1) Trong sách Lịch sử y học Trung Quốc, bản tiếng Pháp (Histoire de la médecine chinoise, Dominique Hoizey, Paris, éd.Payot, 1988), tác giả cho rằng Cung Đình HIền sinh năm 1522 và mất năm 1619).

(2) Lý Vân chủ biên, Quốc tế văn hóa xuất bản công ty, Bắc Kinh 1988.

(3) 太 醫 院 史 目Một chức quan trong Thái y viện đời Minh, đứng sau Viện sứ 院 使, Viện phán 院判 và Ngự y 御 醫, hàm tòng cửu phẩm.

(4) Trung y nhân vật từ điển, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1985 còn nêu một số sách của Cung Đình Hiền như: Đậu chẩn biện nghi toàn ấu lục 痘 疹 辨 疑 全 幼 綠 (ba quyển), Bí thụ nhãn khoa bách hiệu toàn thư 秘 授 眼 科 百 校 全 書(ba quyển), Vân Lâm thánh y phổ độ từ hàng 雲 林 聖 醫 普 渡 慈 航(tám quyển), Y học chuẩn thằng 醫 學 准繩 (bốn quyển).

(5) Theo Lịch sử y học Trung Quốc, bản tiếng Pháp (Histoire de la médecine chinoise, Dominique Hoizey, Paris, éd. Payot, 1988).

(6) Nhưng khi chúng tôi mượn thì mới biết đã bị thất lạc, chỉ có ký hiệu mà không có sách.

(7) Qua tìm hiểu một vài sách Hán Nôm được cơ sở này in ấn chúng tôi biết được rằng đây là cơ sở in chủ yếu là sách văn học, hoạt động chủ yếu vào thời Nguyễn, những năm 1835-1852.

(8) Bản in lại của Nhân dân Vệ sinh xuất bản xã, Bắc Kinh, 1986 (Nguyên văn trích dẫn: 盖 春 乃 造 化 生 育 之 府, 在 天 為元, 在 人 為 仁; 天 以 元 生 萬 物, 俾 物 之 瘁 者 回 春, 而后品绘太和 ; 君 子 以 仁 生 萬 民 , 俾 民 之 病 者 回 春 , 而 后 群 生 躋 寿 域 ...).

Tài liệu tham khảo:

1. 明 实 錄 類 纂, 北 京史料卷 , 武漢出版 社 , 李國祥 , 楊旭.

2. 明 代 社 會 中 的 醫 藥, LEUNG, Angela Ki Che(蒋 竹 山譯), 法 國 漢 學 Sinologie Françaice), 科 技 史 專 号 (第 六 輯 ), 中 华 書 局 .

3. 中 國 醫 學 史 略,賈 得 道 , 山 西 人 民 出 , 1979.

4. 中 醫 名 人 辞 典 , 李 云 主 編 國 際 文 化 出 本 公 司 北 京 , 1988.

5. 中 醫辞 典, 中 醫 研 究 院, 廣 州 中 醫 學 院 主 編, 人 民 卫 生 出 版 社.

6. 萬 病 回 春 , 人 民 卫 生 出 版 社, 北 京 , 1986.

7. 壽 世 保 元 , 上 海 科 學 技 术 出 版 社, 1989.

8. 新 刊 醫 林 狀 元 壽 世 保 元(Thư viện Quốc gia Việt Nam, R.1765).

9. 新 刪 雲 林 神 彀 卷 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHb.127).

10. 詳 校 萬 病 回 春 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1026).

11. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (GS. Françoi Gros, PGS. Trần Nghĩa chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993).

12. Lịch sử y học Trung Quốc, bản tiếng Pháp (Histoire de la médecine chinoise, Dominique Hoizey, Paris, éd. Payot, 1988)./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.168-176)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm