15. Các tài liệu Hán Nôm với việc nghiên cứu, sưu tầm và phát huy tác dụng... (TBHNH 2003)
CÁC TÀI LIỆU HÁN NÔM VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU,
SƯU TẦM VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG
TRONG BẢO TÀNG VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
MA NGỌC DUNG
Bảo tàng VHCDT Việt Nam
Bảo tàng Văn hóa các dân tộc (VHCDT) Việt Nam là một đơn vị sự nghiệp của ngành văn hóa, thông tin, được xây dựng từ năm 1960 với tên gọi ban đầu là “Bảo tàng Việt Bắc” nằm ở thành phố Thái Nguyên, thủ phủ Khu tự trị Việt Bắc cũ. Chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng là phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần và nhu cầu về giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng trong quần chúng nhân dân các dân tộc Việt Bắc lúc bấy giờ. Sau ngày thống nhất đất nước, Bảo tàng Việt Bắc hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, được Bộ Văn hóa - Thông tin trực tiếp quản lý và định hướng nội dung hoạt đống mới cho Bảo tàng. Đến năm 1990 Bảo tàng chính thức đổi tên thành “Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam” với chức năng nhiệm vụ chính là nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày tuyên truyền phổ biến kiến thức về lịch sử văn hóa các dân tộc Việt Nam. Đến nay, với 43 năm tồn tại, phát triển, Bảo tàng đã thu được nhiều kết quả trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn, đóng góp vào thành tích của toàn ngành văn hóa, thông tin nói chung, của ngành bảo tồn bảo tàng nói riêng.
Thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, trong nhiều năm, Bảo tàng Việt Bắc trước đây và Bảo tàng VHCDT Việt Nam ngày nay đã tiến hành nhiều đợt sưu tầm, thu thập nhiều tài liệu hiện vật có giá trị về lịch sử đấu tranh cách mạng và văn hóa. Trong đó, các loại tài liệu văn bản, sách bằng các loại chữ cổ và Hán Nôm cũng rất được quan tâm.
Hiện nay, các tài liệu viết chữ Hán Nôm trong Bảo tàng VHCDT Việt Nam có khoảng 200 cuốn, thuộc các loại chữ: Nôm Kinh, Nôm Tày, Nôm Nùng, Nôm Sán Dìu, Nôm Dao và Nôm Sán Chay. Nội dung của các loại sách Nôm này gồm: sách chữa bệnh, sách dạy cách cư xử trong gia đình và xã hội, sách xem tướng số, cầu cúng trừ tà, giải hạn, sách của thầy cúng dùng trong tang lễ, sách giải trí, sách hát đối đáp nam - nữ, những câu truyện về tình yêu đôi lứa, sách xem ngày, tháng làm việc lớn, xem ngày dựng nhà, xem ngày giờ đi đường, dự báo thời tiết…
Những loại sách chữ Nôm này cùng với một số tài liệu chữ viết và hiện vật có nguồn gốc khác nhau được nhập vào Bảo tàng từ nhiều thời kỳ khác nhau. Thời kỳ đầu tiên, năm 1960, trước khi xây dựng Bảo tàng Việt Bắc, một số sách có nội dung xem tướng số, sách cúng bái, sách dùng trong tang lễ do Sở Văn hóa Khu tự trị thu thập về để triển lãm nhân kỷ niệm ngày thành lập Khu tự trị. Sau ngày xây dựng Bảo tàng Ủy ban Hành chính Khu tự trị cho chuyển về Bảo tàng Việt Bắc quản lý. Sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt là từ khi có chủ trương chuyển hướng nội dung hoạt động, Bảo tàng đã tăng cường các cuộc nghiên cứu sưu tầm tài liệu hiện vật là di sản văn hóa dân tộc, thực hiện các Nghị Quyết của Đảng về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Trong nhiều năm thực hiện chủ trương, kế hoạch công tác của mình, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa - Thông tin, Bảo tàng đã thu được nhiều thành tích trong công tác sưu tầm và bảo quản các tài liệu hiện vật chữ Hán Nôm.
Các loại sách chữ Nôm có ở Bảo tàng VHCDT Việt Nam hiện nay gồm nhiều thể loại. Chúng được viết, sáng tác, ghi chép và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, ra đời trong các hoàn cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau. Có những tài liệu đã tồn tại hàng trăm năm, nhưng cũng có những văn bản mới viết gần đây. Vì vậy, tình trạng ban đầu của chúng cũng rất khác nhau: có bản còn tương đối nguyên vẹn, có bản bị dán hoặc mọt gặm nhấm, có bản bị rách, bị mất một phần, có bản bị hun khói đen, có bản bị mối xông, thậm chí có bản bị mục nhũn…
Về công tác bảo quản, do những hạn chế của đội ngũ cán bộ nhân viên Bảo tàng như không có chuyên gia về chữ Hán Nôm, chuyên gia bảo quản đồ giấy nói chung, chuyên gia bảo quản về chất liệu giấy dó, giấy bản cổ nói riêng, và chuyên gia xử lý tình trạng các chất liệu hiện vật nên các tài liệu này hầu như chỉ bảo quản một cách đơn giản bằng phương pháp thủ công trong một thời gian dài. Chúng được đem đi hong phơi ngoài gió, được xếp so le trong các lớp giấy chống ẩm và các túi silicagen nhằm hạn chế độ ẩm. Với phương pháp đó phần nào cũng hạn chế được sự hủy hoại của các tài liệu này. Hiện nay kho cơ sở của Bảo tàng đã có bước tiến độ đáng kể trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ với các thiết bị máy móc hiện đại để xử lý và bảo quản hiện vật. Từ năm 1994 - 1996, được sự hợp tác giúp đỡ của tổ chức phát triển văn hóa Việt Nam - Thụy Điển (SIDA), Bảo tàng đã được trang bị một số thiết bị xử lý lạnh, bảo quản lạnh, thiết bị theo dõi các thông số kỹ thuật trong công tác bảo quản và thiết bị phòng chống cháy nổ, chống trộm cắp. Năm 2000, Bảo tàng đã phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật quân sự thuộc Bộ Quốc phòng tiến hành một đợt tổng bảo quản hiện vật, trong đó có việc bảo quản các tài liệu, sách, văn bản giấy bằng phương pháp xông hơi hoá chất để diệt các loại côn trùng gây hại.
Bên cạnh đó, các loại giấy dó, giấy bản cổ viết bằng mực mài là những chất liệu rất tốt, chúng có thể chịu được độ ẩm cao mà không bị mục và không bị mất màu chữ viết. Vì vậy, tự bản thân chúng đã có sức đề kháng để đến nay các tài liệu quý này vẫn tồn tại khá tốt tại kho cơ sở của Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Để từng bước hoàn thiện hồ sơ nội dung của các tài liệu văn bản chữ Hán Nôm, trong những năm gần đây, ngoài việc tăng cường công tác bảo quản, gìn giữ, Bảo tàng đã chú ý tới việc nghiên cứu, giám định, xác minh nội dung của chúng. Cụ thể là năm 1990, Bảo tàng đã mời chuyên gia tiến hành lược dịch một số sách và văn bản theo các tiêu chí: tên sách hay văn bản, công dụng của sách, văn bản, thời gian và địa điểm sáng tác hoặc ghi chép, tác giả. Năm 2001 kết hợp với chuyên gia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm lược dịch và phúc lại nội dung… Năm 2003, chúng tôi tiếp tục mời chuyên gia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác cùng phân loại và dịch thuật một số sách và văn bản cổ có giá trị với các nội dung cụ thể hơn so với lần lược dịch trước. Như vậy, các loại sách, văn bản, tài liệu chữ Nôm cổ, từ tình trạng im lặng đang dần dần cất tiếng nói của mình, hé mở những giá trị lịch sử, văn hóa - nghệ thuật hết sức phong phú và đa dạng. Nó đã đóng góp một phần vào thành tích của Bảo tàng VHCDT Việt Nam trên lĩnh vực nghiên cứu, sưu tầm bảo quản và khai thác sử dụng nguồn tư liệu chữ Nôm.
Với chức năng trưng bày, tuyên truyền của một bảo tàng chuyên ngành văn hóa dân tộc, trong những năm qua, được sự hợp tác giúp đỡ của các nhà chuyên môn, Bảo tàng đã khai thác, sử dụng các loại sách, văn bản, tài liệu Hán Nôm bằng các giải pháp trưng bày cố định. Các loại sách có nội dung về văn học nghệ thuật, sách sử dụng trong các lễ nghi truyền thống… được trưng bày kết hợp với các nội dung khác, giới thiệu cho quần chúng tham quan, tìm hiểu. Tuy nhiên hiệu quả của công tác trưng bày giới thiệu các loại sách cổ nói chung và sách chữ Hán Nôm nói riêng chưa cao. Sở dĩ như vậy là vì các tài liệu văn bản, sách này mặc dù đã được lược dịch nhưng chưa cụ thể, chưa khám phá hết nội dung của chúng, làm cho việc trưng bày lúng túng, không định hướng được chủ đề để trưng bày theo chuyên đề chiều sâu, mà chỉ trưng bày hàng loạt trong tủ kính. Còn đối với khách tham quan thì chỉ xem được hình thức bên ngoài của những cuốn sách này mà không hiểu được giá trị của chúng. Đó là một trong những vấn đề mà Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam hiện nay đang quan tâm và đề ra những định hướng nhằm khai thác tốt hơn, phát huy hiệu quả tốt hơn những giá trị đích thực của các loại tài liệu văn bản và sách Hán Nôm cổ. Những định hướng đó là:
- Tăng cường công tác nghiên cứu sưu tầm các loại tài liệu văn bản cổ, kể cả chữ Thái cổ, Khơ Me cổ, Chăm cổ, Hán Nôm cổ… nhằm thu thập, gìn giữ như một loại hiện vật bảo tàng vô giá về văn hóa các dân tộc. Đây là công việc quan trọng hàng đầu cho quá trình gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa nói chung. Đặc biệt việc tìm tòi thu thập các loại sách cổ, chữ cổ lại càng có tầm quan trọng vì chúng là nguồn tư liệu quý và hiếm hoi. Riêng đối với Nôm Tày, Nùng, Nôm Dao, Nôm Sán Chay hiện nay chỉ có thể tìm thấy ở các vị thầy cúng do họ còn giữ được hoặc sao chép lại bản cổ với các nội dung cúng bái: xem bói, giải hạn, sách địa lý. Còn các loại sách hát đối, truyện, thơ ca hò vè, sli lượn, tục ngữ... thì hầu như không còn.
- Về công tác kiểm kê - bảo quản và nghiên cứu: Công tác kiểm kê khoa học là việc tài liệu hóa khoa học, lập hồ sơ, sổ sách, phiếu phích các loại nhằm thiết lập cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học, sắp xếp theo sưu tập khoa học, bảo đảm cho các tài liệu hiện vật có đủ điều kiện tồn tại và có giá trị cao. Hiện nay chúng tôi đang triển khai việc ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý và lập hồ sơ khoa học cho các loại hiện vật, trong đó có sách Hán Nôm. Về công tác bảo quản, trước hết chúng tôi áp dụng nhiều phương pháp, kể cả phương pháp truyền thống kết hợp với phương pháp hiện đại như xông hơi, làm lạnh.. Mặt khác tích cực triển khai việc dịch thuật, khai thác nội dung của chúng để phục vụ nghiên cứu. Qua đó, xúc tiến việc nghiên cứu giá trị lịch sử, giá trị văn hóa - nghệ thuật của chúng. Về vấn đề này đối với Bảo tàng VHCDT Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế bởi chúng tôi chưa có chuyên gia về lĩnh vực Hán Nôm. Và để triển khai được công tác nghiên cứu, dịch thuật, chúng tôi sẽ kết hợp với các cơ quan chuyên môn như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các trường đại học chuyên ngành… Như thế, đây sẽ là triển vọng cho sự hợp tác liên ngành giữa Bảo tàng VHCDT Việt Nam với bên ngoài.
- Trên cơ sở các công tác đó, chúng tôi sẽ chỉnh lý đổi mới trưng bày các phần có liên quan đến tài liệu thư tịch, sách cổ. Tuy nhiên việc trưng bày các loại hiện vật thuộc đồ giấy nói chung và trưng bày sách chữ Nôm, chữ dân tộc thiểu số nói riêng là rất khó. Do đó cần có sự phối hợp tốt hơn nữa giữa công tác nghiên cứu chuyên ngành, chuyên sâu và cả lĩnh vực nghệ thuật tạo hình dàn dựng với bảo tàng học.
Tóm lại, các loại tài liệu, văn bản, thư tịch, sách cổ chữ Hán Nôm ở Bảo VHCDT Việt Nam hiện nay chưa nhiều. Song chúng là một trong những loại tài liệu hiện vật bảo tàng khá điển hình và rất quý hiếm. Từ những năm mới thành lập cho tới nay, các loại hiện vật này được Bảo tàng quan tâm nghiên cứu, sưu tầm và bảo quản, nhưng do hạn chế về chuyên môn nên công việc này còn hạn chế. Bảo tàng VHCDT Việt Nam xác định rằng, các loại tài liệu và sách cổ nói chung, sách chữ Hán Nôm nói riêng là một trong những đối tượng quan tâm nghiên cứu, sưu tầm và khai thác của Bảo tàng trong tương lai. Vì vậy, chúng tôi mong muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác với các cơ quan chuyên ngành trong lĩnh vực này nhằm khai thác tốt hơn giá trị của các loại tài liệu hiện vật bảo tàng, góp phần thực hiện sự nghiệp bảo tồn, phát huy tác dụng di sản văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết BCHTW của Đảng khóa VIII.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 102-108